ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ VĂN NHẬM
KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
THEO TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRƢỜNG TRUNG HỌC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGÔ VĂN NHẬM
KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
THEO TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC
TRƢỜNG TRUNG HỌC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 601405
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà nội, tháng 12 năm 2013
Tác giả
Ngô Văn Nhậm
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. CBQL
Cán bộ quản lý
2. CLGD
Chất lượng giáo dục
3. ĐBCL
Đảm bảo chất lượng
4. ĐGN
Đánh giá ngoài
5. ĐH
Đại học
6. GD&ĐT
14. THPT
Trung học phổ thông
15. UBND
Uỷ ban nhân dân
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các chỉ tiêu cơ bản của giáo dục trung học cơ sở thành
phố Hải Phòng năm học 2012- 2013
Bảng 2.2. Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục các trường trung
học cơ sở trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.3. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên,nhân
viên các trường trung học cơ sở về KĐCLGD
Bảng 2.4. Thực trạng tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo
dục ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.5. Thực trạng nhận thức của đội ngũ kiểm định viên công
tác kiểm định chất lượng giáo dục
Bảng 2.6. Thực trạng hoạt động đánh giá ngoài trong KĐCLGD ở
các trường THCS trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.7. Thực trạng công bố kết quả KĐCLGD ở một số trường
THCS trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Bảng 2.8. Thực trạng cải tiến chất lượng giáo dục sau khi công bố
kết quả KĐCLGD ở các trường THCS trên địa bàn thành
6. Phạm vi nghiên cứu
7. Phương pháp nghiên cứu
8. Cấu trúc của đề tài
CHƢƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG
GIÁO DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIÊU CHUẨN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC
CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Quản lí
1.2.2. Chất lượng, chất lượng giáo dục
1.2.3. Quản lí chất lượng giáo dục
1.2.4. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng
1.3. Kiểm định chất lƣợng giáo dục
1.3.1. Khái niệm kiểm định chất lượng giáo dục
1.3.2. Mục đích của kiểm định chất lượng giáo dục
1.3.3. Vị trí, vai trò của kiểm định chất lượng trong quản lí chất lượng
giáo dục
1.3.4. Đặc trưng của kiểm định chất lượng giáo dục
1.3.5. Nội dung quản lí kiểm định chất lượng giáo dục theo tiêu
7
chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục
1.3.6. Yêu cầu công tác kiểm định chất lượng giáo dục trường trung
học cơ sở trong giai đoạn hiện nay và những năm tới
Kết luận chƣơng 1
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO
DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIÊU CHUẨN ĐÁNH
2.4.3. Thực trạng chỉ đạo đánh giá ngoài trong kiểm định chất lượng
giáo dục
2.4.4. Thực trạng phối hợp chỉ đạo kiểm định chất lượng giáo dục ở
một số trường trung học cơ sở
2.4.5. Thực trạng chỉ đạo tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện
kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học cơ sở
2.5. Đánh giá chung về công tác chỉ đạo thực hiện kiểm định chất
lƣợng trƣờng trung học cơ sở tại thành phố Hải Phòng
2.5.1. Điểm mạnh
2.5.2. Hạn chế
2.5.3. Thuận lợi
2.5.4. Khó khăn
Kết luận chƣơng 2
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO KIỂM ĐỊNH CHẤT
LƢỢNG GIÁO DỤC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIÊU
CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRƢỜNG
TRUNG HỌC CỦA BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TẠI THÀNH
PHỐ HẢI PHÒNG
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc tính kế thừa và phát triển
3.1.2. Nguyên tắc tính toàn diện
3.1.3. Nguyên tắc tính hiệu quả
3.2. Các biện pháp đƣợc đề xuất
3.2.1. Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở cơ
9
quan chỉ đạo và ở các trường trung học cơ sở về mục đích của kiểm
định chất lượng giáo dục
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Giáo dục nước ta đang phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay
đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở
thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và
truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp
đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới. Đổi mới để nâng cao chất
lượng giáo dục đáp ứng được yêu cầu thay đổi của khoa học công nghệ và
toàn cầu hóa là nhiệm vụ được chú trọng hàng đầu với mọi nền giáo dục.
Ở Việt Nam, chất lượng giáo dục, quản lí chất lượng và nâng cao chất
lượng giáo dục đang là những vấn đề được nhà nước và xã hội hết sức quan
tâm. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục nước ta vẫn còn rất thấp so với các nước
trong khu vực và trên thế giới. Chiến luợc phát triển giáo dục 2011- 2020 đã
chỉ rõ một trong những bất cập và yếu kém của giáo dục Việt Nam giai đoạn
2001-2010 là: “Chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển của đất
nước trong thời kỳ mới và so với trình độ của các nước có nền giáo dục tiên
tiến trong khu vực, trên thế giới. Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát
triển số lượng với yêu cầu nâng cao chất lượng; năng lực nghề nghiệp của học
sinh, sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc; có biểu
hiện lệch lạc về hành vi, lối sống trong một bộ phận học sinh, sinh viên”.
Với bối cảnh quốc tế và thực trạng giáo dục Việt Nam như trên, để tập
trung nâng cao chất lượng giáo dục, ngành GD&ĐT Việt Nam cần có một hệ
thống những biện pháp tích cực, đồng bộ; trong đó, kiểm định chất lượng giáo
dục là đòn bẩy, là công cụ rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục. Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh phải “Thực hiện kiểm định chất
lượng giáo dục, đào tạo ở tất cả các bậc học”. Trong Luật giáo dục năm 2005
cũng nêu rõ “ Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác
định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà
11
phức tạp nên sau 3 năm triển khai ở cấp THCS (từ năm 2009) đã cho thấy:
12
việc triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Sở GD&ĐT đến một số
trường THCS còn gặp nhiều khó khăn do đội ngũ cán bộ phụ trách KĐCLGD
của các Phòng GD&ĐT còn kiêm nhiệm nhiều công việc và thiếu kinh
nghiệm về công tác này; sự hiểu biết về KĐCLGD của CBQL, GV, NV nói
riêng và của xã hội nói chung còn hạn chế; việc lưu trữ hồ sơ của các trường
THCS còn yếu; các biện pháp quản lí thiếu đồng bộ và nhất quán, sự ủng hộ
và chia sẻ của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường THCS chưa
cao, nhiều vướng mắc và căn bệnh hình thức đã xuất hiện khiến dư luận xã
hội quan tâm, dẫn đến có những ý kiến trái chiều nhau về quá trình kiểm định
chất lượng giáo dục.
Vì vậy nghiên cứu biện pháp chỉ đạo KĐCLGD trường THCS tại thành
phố Hải Phòng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học
của Bộ giáo dục và đào tạo là rất cần thiết để góp phần nâng cao hiệu quả
công tác KĐCLGD ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Đó là lí do để tác giả lựa chọn đề tài:
“Kiểm định chất lƣợng giáo dục trƣờng Trung học cơ sở tại thành
phố Hải Phòng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng giáo dục trƣờng
trung học của Bộ Giáo dục và đào tạo” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn về kiểm định
chất lượng giáo dục trường Trung học cơ sở, đề xuất các biện pháp chỉ đạo
thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục trường Trung học cơ sở tại thành phố
Hải Phòng theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học của
Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng các phương pháp như: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá lí
thuyết để xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lí thuyết cho đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra:
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ và chuyên viên của Sở
GD&ĐT Hải Phòng, Phòng GD&ĐT quận/huyện về công tác kiểm định chất
14
lượng giáo dục trường Trung học cơ sở.
+ Xây dựng các phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ quản lí, giáo viên
trường Trung học cơ sở về công tác kiểm định chất lượng giáo dục trường
Trung học cơ sở.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết kinh nghiệm việc thí điểm kiểm định chất lượng giáo dục của
quốc tế và trong nước.
- Phương pháp chuyên gia:
Xin ý kiến chuyên gia về sử dụng tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo
dục trường trung học.
- Phương pháp thống kê:
Sử dụng phương pháp thống kê để xử lí các số liệu thu nhận được từ
các phương pháp nghiên cứu khác.
8. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phần phụ lục nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận kiểm định chất lượng giáo dục trường Trung
học cơ sở theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường trung học của
Bộ Giáo dục và Đào tạo
hoạt động từ gần một thế kỷ nay và ngày càng được nhiều quốc gia trên thế
giới tham khảo khi xây dựng hệ thống kiểm định cho riêng mình. Một số đặc
trưng cơ bản của hệ thống KĐCLGD ở Hoa Kỳ [8, tr. 414]:
Kiểm định chất lượng giáo dục ở Hoa Kỳ là một hoạt động tư nhân, phi
chính phủ. Phần lớn kiểm định chất lượng (KĐCL) do các Hiệp hội KĐCL
tiến hành. Chính phủ liên bang và chính quyền tiểu bang đều không đánh giá
các trường Đại học và đương nhiên công nhận kết quả kiểm định do các Hiệp
hội đánh giá để quyết định trợ giúp tài chính cho trường đại học. Các tiêu
16
chuẩn đánh giá dùng cho kiểm định do chính các hiệp hội xây dựng.
Kiểm định chất lượng có thể được tiến hành ở phạm vi trường ĐH hoặc
chương trình đào tạo (ngành đào tạo): 6 Hiệp hội trường ĐH, cao đẳng vùng
cùng với 5 Hiệp hội cấp quốc gia tiến hành KĐCL trường ĐH và 43 Hội
KĐCL chuyên ngành thực hiện KĐCL chuyên ngành đào tạo. Ví dụ các hiệp
hội: Hiệp hội trường Đại học và Cao đẳng miền Trung Hoa kỳ (Middle States
Association of Schools and Colleges); Hiệp hội các trường đại học quản trị
kinh doanh Hoa Kỳ (American Assembly of Collegiate School of Business);
Hiệp hội kiểm định chuyên ngành đào tạo giáo viên quốc gia (National
Council for Accreditation of Teacher Education); Hiệp hội chuyên ngành đào
tạo Y khoa Hoa Kỳ (American Medical Association).
Kiểm định chất lượng là hoạt động hoàn toàn tự nguyện. KĐCL là
không bắt buộc nhưng phần lớn các trường ĐH đều tự nguyện đăng ký với
các tổ chức hoặc các Hiệp hội để được kiểm định nhằm nhận được sự hỗ trợ
tài chính từ chính phủ hoặc các tổ chức xã hội, và cũng muốn bằng cấp của
mình được xã hội thừa nhận. Bởi vì, sinh viên học ở các trường chưa kiểm
định sẽ gặp khó khăn trong việc học sau đại học tại các trường đã kiểm định
hoặc khó được thị trường lao động chấp nhận. Tuy nhiên, có một số chuyên
QAA tiến hành KĐCL ở cấp trường đại học (institutional level) và
đánh giá chương trình đào tạo cấp môn học (subject level).
Kiểm định chất lượng cấp trường: được thực hiện thông qua việc đánh
giá đồng cấp theo một quy trình trên cơ sở minh chứng tại Anh và Bắc Ailen.
Quy trình kiểm định cấp trường được đưa ra trong khung đảm bảo chất lượng
ban hành năm 2002 và được điều chỉnh năm 2005 để áp dụng cho chu kỳ
kiểm định đến năm học 2010 – 2011. Mục tiêu chính của quy trình kiểm định
nhằm đáp ứng sự quan tâm của công chúng về chất lượng đào tạo trường ĐH;
Giúp các cơ sở đào tạo ĐH nâng cao chất lượng dịch vụ; Tăng sự tin tưởng
của công chúng trong và ngoài nước đối với chất lượng đào tạo của các
trường và chuẩn bằng cấp của họ; Giúp các đơn vị cung cấp tài chính hoàn
thành trách nhiệm được giao; Cung cấp những thông tin đáng tin cậy, có lợi
cho những sinh viên tương lai, các nhà sử dụng sinh viên tốt nghiệp, các bậc
phụ huynh, chính phủ, các đơn vị cung cấp tài chính và chính bản thân các
18
trường; Tạo ra biện pháp nâng cao trách nhiệm đối với các nguồn lục mà nhà
nước và cá nhân cung cấp cho các trường.
Đánh giá môn học: Việc đánh giá môn học được tiến hành đối với tất
cả các chương trình đào tạo ở các cấp độ ở Anh, xứ Wales, Bắc Ailen và được
đánh giá đồng cấp. Quy trình đánh giá môn học gồm TĐG, đánh giá mục đích
và mục tiêu của người giảng dạy môn học, đi đánh giá thực tế môn học, nhận
định và báo cáo đánh giá môn học về các lĩnh vực: Thiết kế chương trình đào
tạo, nội dung và tổ chức; Dạy, học và kiểm tra - đánh giá; Tiến bộ của sinh
viên và kết quả đạt được; Hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên; Các nguồn lực phục
vụ cho học tập; Quản lí và nâng cao chất lượng.
Ở Hà Lan, có hai hình thức đào tạo bậc ĐH là các trường ĐH giáo dục
chuyên nghiệp (UPE - The University of Professional Education) và các
Hiệp hội (VSNU) xây dựng kế hoạch cho việc TĐG và đánh giá từ bên
ngoài và phải chịu trách nhiệm về: Tổ chức và chỉ định thành viên cho ban
đánh giá; Hỗ trợ các khoa tiến hành đánh giá nội bộ nếu cần; Tổ chức đào tạo
cho bộ phận đánh giá từ bên ngoài; Tổ chức đào tạo cho thư ký của Hiệp hội;
Tuân thủ nội dung trong kế hoạch đánh giá; Kiểm tra báo cáo tổng kết, đảm
bảo các vấn đề về nội dung đã được đề cập; Công bố báo cáo.
Ở Việt Nam, giáo dục đại học Việt Nam đã và đang phát triển mạnh cả
về quy mô và loại hình đào tạo. “Năm học 2002 – 2003, hệ thống giáo dục đại
học bao gồm 111 trường đại học và 119 trường cao đẳng, trong đó có 15
trường đại học dân lập, 2 trường đại học bán công và 2 trường cao đẳng dân
lập, 4 trường cao đẳng bán công, 9 trường cao đẳng cộng đồng”, nhưng đến
thời điểm này, số lượng các trường Đại học, Học viện, Cao đẳng của nước ta
đã có những thay đổi rất lớn, hiện trên cả nước có khoảng 400 trường đại học,
cao đẳng. Một khi quy mô và loại hình đào tạo tăng nhanh, trong khi nguồn
lực tại các cơ sở đào tạo còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng đầy đủ các
yêu cầu đào tạo, những băn khoăn, lo lắng về chất lượng đào tạo tất yếu sẽ
được xã hội đặt ra. Theo một nhận xét chung: mặc dù đã có nhiều cố gắng và
chuyển biến mạnh mẽ nhưng giáo dục đại học nước ta vẫn còn nhiều yếu kém
và bất cập; Chất lượng đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế xã
hội trong giai đoạn hiện nay và so với kết quả đào tạo Đại học của nhiều nước
20
trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, yêu cầu cấp bách đối với hệ thống giáo
dục nước ta là cần phải có một cơ chế quản lí chất lượng thích hợp nhằm làm
rõ chất lượng đào tạo của từng trường và toàn bộ hệ thống để tiến tới nâng
cao chất lượng một cách thường xuyên.
Văn bản pháp quy đầu tiên nhắc tới khái niệm KĐCLGD là Quyết định
số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Chính phủ về Quy hoạch mạng lưới
trong Luật Giáo dục 2005 (Điều 17, Điều 99) và Nghị định số 75/2006/NĐCP ngày 01/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời được Bộ Giáo dục
và Đào tạo (GD&ĐT) lựa chọn là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ
thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và
cơ sở giáo dục khác.
Đối với bậc Trung học cơ sở, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
ban hành các văn bản về công tác KĐCLGD là Quyết định số 83/2008/QĐBGDĐT ngày 31/12/2008 ban hành về việc Quy định về quy trình và chu kỳ
KĐCL cơ sở giáo dục phổ thông; Thông tư số 12/2009/TT-BGDĐT ngày
12/5/2009 ban hành về việc Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo
dục trường Trung học cơ sở; Thông tư số
42/2012/TT-BGDĐT ngày
23/11/2012 ban hành về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình,
chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo
dục thường xuyên.
Trong nghiên cứu khoa học tại Việt Nam, đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu về KĐCLGD. Trong số sách đã xuất bản về Quản lí chất lượng
trong giáo dục, có thể kể đến những công trình như: “Kiểm định chất lượng
giáo dục đại học” của tác giả Nguyễn Đức Chính (2002); “Quản lí chất lượng
đại học” của tác giả Phạm Thành Nghị (2000); “Hệ thống đảm bảo chất lượng
quá trình dạy học ở trường đại học” của tác giả Nguyễn Quang Giao (2012);
“Quản lí và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO và TQM” của tác
giả Trần Khánh Đức (2004); “Chất lượng giáo dục - những vấn đề lí luận và
thực tiễn” của tác giả Nguyễn Hữu Châu (2008)…Trên các tạp chí khoa học,
KĐCL cũng là một đề tài được nhiều nhà khoa học quan tâm; có nhiều bài
báo về lĩnh vực này trên hầu hết các tạp chí khoa học như: “Kiểm định chất
lượng giáo dục đại học” của tác giả Hà Xuân Thanh trên Tạp chí Giáo dục số
22
1.2.1.1. Khái niệm
23
Quản lí hình thành cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Xã hội
phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức, điều
hành ngày càng được nâng lên. Muốn phát triển xã hội phải dựa vào nhiều yếu
tố, trong đó có 3 yếu tố cơ bản đó là: tri thức, sức lao động và trình độ quản lí.
Thuật ngữ “quản lí” (theo Hán Việt) nó gồm 2 quá trình tích hợp vào
nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định;
quá trình “lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào trạng thái
“phát triển”. Trong “quản” phải có “lí”, trong “lí” phải có “quản” để động thái
của hệ luôn ở thế cân bằng động. Trong ổn định tạo mầm mống cho sự phát
triển. Trong phát triển giữ được hạt nhân cho ổn định.
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lí, tôi xin đưa ra một vài
khái niệm của một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu về quản lí:
Theo W. Taylor: “Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người
khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt
nhất và rẻ nhất”. [14, tr 332] Theo ông có 4 nguyên tắc quản lí khoa học:
(i) Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác
định phương pháp tốt nhất để hoàn thành.
(ii) Tuyển chọn và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương
pháp khoa học.
(iii) Người quản lí phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lí
để đảm bảo chắc chắn họ làm theo phương pháp đúng đắn.
(iv) Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lí và người
bị quản lí.
Theo C.Mác: “Quản lí là lao động điều khiển lao động”. “Bất cứ lao
động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu
Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau song có thể khái quát nội
dung cơ bản của quản lí được đề cập đến trong các quan niệm trên là:
1/ Quản lí là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình hoạt động xã
hội. Lao động quản lí là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn
tại, vận hành và phát triển;
2/ Quản lí được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội;
3/ Quản lí là những tác động có tính hướng đích, là những tác động
25