ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------
CAO THỊ MINH HƢƠNG
TRUYỀN THÔNG TẠI TP HỒ CHÍ MINH
VỚI VẤN ĐỀ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ
THÀNH NIÊN
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60.32.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. ĐINH VĂN HƯỜNG
Hà Nội, 2010
1
MỤC LỤC
TRÂN TRỌNG CẢM ƠN .......................................................................... 4
MỞ ĐẦU .................................................................................................... 8
1.
Tính cấp thiết của đề tài và lý do chọn đề tài ...........................................8
2.
Lịch sử nghiên cứu đề tài ..........................................................................12
2.1.
Thực trạng sức khỏe sinh sản vị thành niên trong giai đoạn hiện nay
..................................................................................................................24
2.2.
Giới thiệu về 3 tờ báo chính trong truyền thông cho tuổi vị thành
niên ............................................................................................................26
2.2.1. Tuần báo “…Mực tím” ............................................................................26
2.2.2. Tập san Áo trắng ......................................................................................27
2.2.3. Tuần san “Hoa học trò” dành cho thế hệ học trò mới ...........................28
2.3.
Hiệu quả tác động của 3 tờ báo trên với truyền thông giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên .....................................................................29
2.3.1. Hành vi sức khỏe ......................................................................................29
2.4.
Một số nhận xét về vai trò của báo chí truyền thông trong trong
việc GDSKSS VTN ..................................................................................36
2.4.1. Hiệu quả của báo chí trong việc truyền thông giáo dục sức khỏe
sinh sản ......................................................................................................40
2
2.4.2. Những hạn chế của báo chí trong công tác truyền thông GDSKSS
3.4.
Kiến nghị với những người làm công tác truyền thông báo chí ...........73
3.4.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong việc truyền thông GDSK ......73
3.4.2. Tham gia các lớp đào tạo kiến thức về lĩnh vực tuyên truyền
GDSKSS ...................................................................................................73
3.5.
Đối với trẻ VTN .......................................................................................74
3.5.1. Tuyên truyền để mọi tầng lớp nhân dân nhận thức được quyền lợi
và nghĩa vụ của mình trong chương trình TTGDSKSS trẻ VTN .........75
3.5.2. Chủ động thực hiện quyền được thông tin trên báo chí về việc
truyền thông GDSK .................................................................................76
3
TRÂN TRỌNG CẢM ƠN
Với những giây phút đầu tiên đánh những dòng chữ bắt đầu thực
hiện đề cương luận văn thạc sĩ báo chí học, tôi cũng giống như trẻ vị
thành niên thấy gì cũng mới và cũng muốn khám phá một cách tràn lan
và mông lung, nhưng rồi với những ngày liên lạc với thầy hướng dẫn,
với những lần điện thoại hỏi thăm, và với những lần được tư vấn của
các thầy cô có hướng dẫn luận văn, tôi như chợt bừng tĩnh, và tôi đã
được Thầy Đinh Văn Hường “ Vẽ đường cho hươu chạy… đúng” trong
một rừng thông tin khi thời đại internet chỉ cần một cái click.
Những giây phút hồi hộp sau khi đã được duyệt đề cương luận văn,
tôi lại lao vào tìm tòi với sự hướng dẫn của Thầy Đinh Văn Hường để
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐHQGHN
Đại học Quốc gia Hà Nội
ĐHKHXHvà NV
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Nxb
Nhà xuất bản
TNCS
Thanh niên Cộng sản
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
VH-TT
Văn hóa – Thông tin
6
trước khi đổi mới, lối sống của người dân đặc biệt là thế hệ trẻ ngày
càng hòa nhập vào thế giới và họ có xu hướng sống “cởi mở” hơn, và dĩ
nhiên là tư tưởng thoáng hơn về quan hệ tình dục trước hôn nhân..
Trong quá trình hội nhập, giới trẻ hiện nay “sinh ở Ta, mà muốn sống,
muốn suy nghĩ theo kiểu Tây”, Nhiều bậc cha mẹ, nhất là những người
có con trong lứa tuổi vị thành niên thường băn khoăn tự hỏi: khi nào
mình sẽ bắt đầu giáo dục giới tính cho con và sẽ giáo dục như thế nào?
Không ít người vẫn nghĩ rằng cần phải giấu giếm, bưng bít thông tin về
sinh lý, tránh nói về việc quan hệ tình dục, vấn đề sinh sản,về các biện
pháp tránh thai đối với lứa tuổi này... Vì họ cho rằng làm như thế với
trẻ vị thành niên là "vẽ đường cho hươu chạy". Hơn nữa, với công nghệ
thông tin bùng nổ thì điều kiện để người vị thành niên tiếp cận rất
nhanh với các phương tiện truyền thông đại chúng, và từ rất nhiều
nguồn thông tin.
Với tổng dân số Việt Nam hiện nay hơn 80 triệu, trong đó có hơn 17
triệu vị thành niên, chiếm 22% trên tổng dân số.Trong luận văn này,
chúng tôi xin mạn phép được xem tuổi vị thành niên theo các nhà
8
chuyên môn về y học, là tuổi bắt đầu trưởng thanh, đây là thời kì phát
triển mạnh mẽ về thể chất và trí tuệ; là giai đoạn có ý nghĩa quyết định
trong việc định hình nhân cách con người. Trong giai đoạn này tâm
sinh lý của vị thành niên đã phát triển, cơ thể đã hoàn thiện các chức
năng cơ bản, bắt đầu có khả năng sinh sản, trong khi đó ngươc lại hiểu
biết, vốn sống, nhận thức của họ chưa hòa toàn trưởng thành, họ luôn
muốn chứng tỏ mình là người lớn, muốn thoát khỏi phạm vi gia đình để
hòa nhập vào tập thể và hoạt động của những người cùng trang lứa.Vì
vậy,vị thành niên với đặc điểm về giới tính đang trong giai đoạn này, sẽ
rất cần sự chăm sóc giúp đỡ của gia đình, của cộng đồng và nhất là các
vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân nói riêng và
của cộng đồng nói chung, Sự hình thành và phát triển nhân cách cùng
các mối quan hệ của con người bị chi phối và ảnh hưởng bởi các yếu tố
sinh học, tâm lý, tính dục, tinh thần, môi trường, truyền thống văn hoá
xã hội. Trước tình trạng truyền thông như hiện nay, thì báo chí là kênh
tuyên truyền mạnh mẽ và hiệu quả nhất trong thời hội nhập, cùng với
các cổng thông tin mở rộng, công nghệ thông tin bùng nổ dữ dội, nó đã
góp phần không nhỏ vào quá trình tuyên truyền và giáo dục sức khỏe
sinh sản cho tuổi vị thành niên ở thành phố Hồ Chí Minh như hiên nay.
Nhưng với suy nghĩ của các bậc cha me còn nặng quá nhiều vì phong
kiến, nên vấn đề truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản cho người vị
thành niên ở nước ta nói chung là còn quá mới và không phải là dễ
dàng để tiếp cận với đối tượng, vì vậy việc TTGDSKSS còn nhiều hạn
chế, và thiếu tính hệ thống.
Việc phát triển lý luận, nghiên cứu truyền thông trong việc giáo dục
sức khỏe sinh sản nói chung và sức khỏe sinh sản vị thành niên là một
10
yêu cầu khách quan, cấp thiết. Bởi với 17 triệu người vị thành niên
chiếm tỷ lệ 22% trên tổng dân số của Việt Nam hiện nay, thì người vị
thành niên là những thế hệ trẻ tương lai của đất nước, nhu cầu truyền
thông giáo dục sức khỏe sinh sản cho họ không phải là nhỏ, và nó luôn
đòi hỏi được định hướng theo chiều tích cực
Làm thế nào để các loại hình báo chuyên đề dành cho lứa tuổi vị
thành niên phát huy tác động tích cực đến sự phát triển chung của thế
hệ tương lai đất nước? Làm thế nào để việc truyền thông giáo dục sức
khỏe sinh sản vị thành niên thật phong phú, hình thức hấp dẫn, thu hút
được đối tượng mà ta muốn tuyên truyền, đáp ứng được nhu cầu thưởng
thức lành mạnh của họ? Mong muốn, nhu cầu và thái độ tiếp nhận của
sinh sản nói riêng và nhất là GDSKSS dành cho tuổi VTN Chăm sóc
sức khỏe sinh sản vị thành niên là một việc lớn, hết sức phức tạp, tế nhị
không phải chỉ có cán bộ nhân viên ngành y tế mà đòi hỏi cả xã hội; các
tổ chức chính quyền, đoàn thể, nhà trường mà đặt biệt là gia đình cùng
phối hợp thực hiệnnó chưa được đề cập sâu sắc và cụ thể trên các
phương tiện truyền thông tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy mà các
sách vở, công trình nghiên cứu hay các buổi thảo luận chuyên đề, các
buổi nói chuyện nhỏ to tâm sự khi đưa ra những nhận xét, phân tích về
truyền thông GDSKSS vẫn còn nhiều hạn chế, nên với đề tài: “Truyền
thông Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên tại Thành phố Hồ Chí
Minh”, luận văn này sẽ có ý nghĩa như là một trong những công trình
khảo cứu và có tính bao quát về quy luật, đặc thù của việc truyền thông
12
GDSKSS VTN tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và ảnh hưởng của
việc GDSKSS này đến tuổi vị thành niên ra sao.
Thực hiên đề tài này, người viết sẽ tiến hành tham khảo, kế thừa
những ý tưởng, sự tìm tòi của nhiều tác giả để làm cơ sở lý luận cho
việc nghiên cứu, góp phần làm phong phú nội dung của luận văn.
Tuy nhiên, đề tài hướng đến một đối tượng khá đặc thù, đòi hỏi một
quá trình khảo sát, nghiên cứu nghiêm túc, lâu dài. Trong khuôn khổ
một luận văn thạc sĩ, lại được thực hiên trên cơ sở tài liệu và thực tế
nghiên cứu còn nhiều thiếu thốn, nên những hạn chế của luận văn là
điều khó tránh khỏi.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học về
thực trạng của truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản dành cho tuổi vị
thành niên tại thành phố Hồ Chí Minh. Thông qua việc khảo sát ba ấn
Với:
- Tuần báo “…Mực tím”
- Tuần san “Hoa học trò”
- Ấn phẩm “Áo trắng”
14
Nhóm đối tượng và phạm vi nghiên cứu thứ hai là người VTN gồm
ba nhóm đối tượng với 2 lứa tuổi: từ 14 – 16, và 17 – 19 tại TPHCM.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn “Truyền thông giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên tại
Thành phố Hồ Chí Minh” trên cơ sở gốc là theo phương pháp luận nhận
thức chủ nghĩa duy vật biện chứng, kết hợp với nhiều phương pháp
nghiên cứu như phương pháp tổng hợp, phân tích, nghiên cứu, điều tra
xã hội học và đánh giá trên cơ sở các quan điểm cơ bản, toàn diện, thực
tiễn và từ đó rút ra những bài học thực tế, bổ ích từ những các thể tác
phẩm văn học, những thể loại báo chí được chuyển tải trên các tạp chí
Áo trắng, Mực tím và Hoa học trò.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học: Luận văn hy vọng sẽ đóng góp vào phần lý luận
về truyền thông nói chung và truyền thông GDSKSS ở TPHCM, và đặc
biệt GDSKSS VTN ở TPHCM hiện nay. Với những kết quả nghiên cứu
trong luận văn, hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ cho việc tìm hiểu và
nghiên cứu về việc truyền thông GDSKSS VTN trên cơ sở ba tờ tạp chí
dành cho vị thành niên hiện nay
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu về lứa tuổi VTN, vấn
đề sức khỏe sinh sản VTN trên phương tiện truyền thông chính thức của
ba tờ tạp chí Áo trắng, Mực tím, Hoa học trò, giúp cho những người
trực tiếp làm việc trong ba tạp chí dành cho lứa tuổi VTN có cơ sở tham
là một qúa trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ
năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi
và nhận thức (Cơ sở lý luận báo chí truyền thông - Chương 1: Truyền
thông và quá trình truyền thông – trang 13 – TG: Dương Xuân Sơn –
Đinh Văn Hường – Trần Quang, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, xuất
bản năm 2005, in lần thứ hai)
Mô hình truyền thông của Ha-rôn Lats-uen (Harold Laswell) có bổ
sung lý thuyết thông tin và điều khiển học của Cờ-lốt San-nông (Claude
Shannon)
17
Với S
: Người khởi xướng, người gửi thông điệp
M
: Nội dung thông điệp
C
: kênh truyền tải thông điệp
R
: Người tiếp nhận thông điệp
E
Vì vậy bất cứ phương tiện truyền thông nào cũng phải có mục đích,
như đã phân tích trên ta thấy truyền thông là một quá trình liên tục chia
sẻ thông tin, kiến thức, thái độ tình cảm và kỹ năng, nhằm tạo sự hiểu
biết lẫn nhau giữa bên truyền và bên nhận thông điệp, dẫn đến các thay
đổi trong nhận thức và hành động. Có thể nói ngắn gọn truyền thông là
quá trình truyền đi và nhận các thông điệp với các mục đích khác nhau,
có thể chỉ đơn giản là cung cấp thông tin, cũng có thể là mong muốn
người nhận có hành động đáp lại.
Hewitt (1981) phát triển chi tiết hơn nữa các mục đích cụ thể của
quá trình truyền thông. Những mục đích sau đây được người này hay
người khác sử dụng một cách riêng biệt hay kết hợp với nhau mà tác
giả Hewitt đã tóm tắt:
Học hay dạy một việc gì đó;
Tác động đến hành vi của người khác;
Biểu thị cảm giác, mong muốn, ý định;
Giải thích các hành vi riêng của người này hay làm rõ các hành vi
của những người khác;
Giải quyết các vấn đề đang xảy ra;
19
Đạt mục đích thay đổi đề ra;
Giảm căng thẳng hay giải quyết các xung đột;
Cổ vũ, thể hiện quan tâm của chính mình hay của người khác..
1.1.1.2.
Khái niệm về báo chí
- Báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị và xã hội. Báo
chí hoạt động nằm cung cấp cho công chúng những thông tin, tức là
thông của Ha – rôn Lat1s – uen (Harold Laswell) đã có bổ sung của Cờ
- lốt San – nông (Claude Shannon) thì người truyền tải thông tin, gọi
chung là người truyền thông là một mắc xích quan trọng nhất quyết
định đến kết quả và hiệu quả của quá trình truyền thông. Đặc biệt đối
với truyền thông giáo dục sức khỏe để đạt được kết quả và hiệu quả tốt,
người truyền thông ngoại trừ những phẩm chất của một người viết báo,
cần phải cần thêm kiến thức về y học, kiến thức về tâm lý học và khoa
học hành vi, kiến thức và kỹ năng về giáo dục học, kiến thức và kỹ
năng về truyền thông giao tiếp, hiểu biết về phong tục tập quán, văn
hóa xã hội và những vấn đề kinh tế, chính trị của cộng đồng và không
kém phầm quan trọng là phải nhiệt tình trong công tác TT GDSK.
Tiểu kết:
Trong đời sống chính trị - xã hội, báo chí giữ vai trò hết sức quan
trọng. Bất kỳ một lực lượng cầm quyền nào trong các quốc gia trên thế
giới đều sử dụng báo chí như một công cụ để tác động vào tư tưởng,
tình cảm của công chúng, nhằm tạo cho họ những nhận thức mới,
những định hướng cho giá trị cuộc sống. Mặt khác, báo chí cũng đóng
vai trò quan trọng trong xã hội vì: là kênh tạo lập, định hướng và hướng
21
dẫn dư luận; là một công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách
xã hội; Và hơn nữa, báo chí tuyền thông cũng là một bộ phận hữu cơ
không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của mọi cá nhân, là phương
tiện cung cấp thông tin, kiến thức và giải trí cho người dân.
Trong truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) thì thông tin
cho các đối tượng là một phần quan trọng của việc truyền thông, nhưng
TTGDSK không chỉ là quá trình cung cấp các tin tức từ nguồn phát tin
đến nơi nhận tin mà là quá trình tác động qua lại mà có sự hợp tác giữa
người TTGDSK và đối tượng được TTGDSK. Việc cung cấp các thông
hoạt động rộng rãi trong cộng đồng nhằm giải quyết các vấn đề sức
khỏe công cộng, góp phần cải thiện và nâng cao sức khỏe.
Mô hình truyền thông giáo dục sức khỏe
23
Chƣơng 2: HIỆU QUẢ VÀ NHỮNG BẤT CẬP
CỦA CÔNG TÁC TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN HIỆN
NAY
2.1. Thực trạng sức khỏe sinh sản vị thành niên trong giai đoạn
hiện nay
Hiện nay ở Việt Nam, có hơn 17 triệu VTN, chiếm khoảng 22%
trong tổng số 80 triệu dân. Mặc dù Nhà nước đã có nhiều cố gắng trong
việc tuyên truyền, phổ biến và GDSKSS VTN, nhưng về tổng thể vấn
đề SKSS VTN vẫn còn là một vấn đề mới, khó và phức tạp. Nó không
chỉ đơn thuần là vấn đề sức khỏe, vấn đề xã hội, mà còn là vấn đề kinh
tế, văn hóa, đạo đức lối sống, là vấn đề liên quan đến tương lai nòi
giống của đất nước, là nhân tố quan trọng dẫn đến tình trạng có thai và
sinh con ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn, mắc các bệnh lây
qua đường tình dục, lây nhiễm HIV/ AIDS
Trong điều kiện hiện nay, VTN đang đứng trước những cạm bẫy vô
cùng nguy hiểm, là đối tượng của các trang web quan hệ tình dục phát
triển mạnh, và công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay thì VTN chưa
định hướng được rằng họ sẽ như thế nào. Với những con số thống kê
như sau
- Tệ nạn mại dâm và hiếp dâm trẻ em ngày càng tăng, từ 3,1% năm
2007 lên 18% năm 2009 ( đối với mại dâm VTN), từ 5,6% năm 2006
lên 40,3% năm 2008 (đối với hiếp dâm trẻ em). 6 tháng đầu năm 2009
25