tích hợp giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên vào chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông - Pdf 24

PHẦN MỞ ĐẦU
* Lý do chọn đề tài: Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 16 triệu nữ
tuổi từ 13 đến 18 có thai, 95% trong số này tập trung ở các quốc gia có thu nhập
trung bỡnh hoặc thu nhập thấp trong đó có Việt Nam. “Cơn bão” văn hóa phẩm đồi
trụy xâm nhập vào Việt Nam nhưng giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về
giới tính, nhiều trẻ bước vào đời sống “chăn gối” trong độ tuổi vị thành niên. Thực tế
này khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất
thế giới trong những năm gần đây. Theo thống kê tại ba bệnh viện công thuộc
TPHCM gồm: Từ Dũ, Hùng Vương và Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong
năm qua tỷ lệ nữ ở tuổi vị thành niên có thai đến khám tại đây chiếm 4% trong số các
trường hợp có thai. Trong số 90.649 ca sinh thì có tới 2.434 sản phụ tuổi vị thành
niờn, 60.352 ca phá thai thì có 3.471 trường hợp nữ tuổi vị thành niên (chiếm 5,81%
tổng số ca phá thai).
Qua nghiên cứu việc xác định tỷ lệ tuổi nữ vị thành niên có thai và các yếu tố
nguy cơ, cho thấy trẻ vị thành niên quan hệ tình dục sớm dẫn đến có thai là do thiếu
kiến thức về sức khỏe sinh sản, không áp dụng hoặc áp dụng không thường xuyên
các biện pháp tránh thai.
Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng trên phần lớn là do nữ vị
thành niên thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường. Các phụ huynh còn khá dè dặt
trong việc trao đổi với con em mình về sức khỏe sinh sản, đùn đẩy trách nhiệm cho
nhà trường. Trong khi đó, chương trình học chính khóa đã quá dày nên việc giáo dục
chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên ở trường chỉ mang tính phong trào.
Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nói trên đẩy trẻ vị thành niên vào thế
“tự tìm hiểu”.
Riêng ở Việt Nam, mỗi năm có từ 1,2 đến 1,4 triệu trường hợp nạo phá thai,
trong số này có khoảng 300.000 là nữ thanh niên chưa có gia đỡnh. So với các nước
trong khu vực, tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta là quá cao. Điều này khụng những chỉ tốn
kộm về kinh tế, vật chất mà cũn đem lại những hậu quả nặng nề về mặt sức khoẻ cho
trẻ vị thành niên.
Bên cạnh đó, tỡnh hỡnh tệ nạn ma tuý đang xâm nhập vào thế hệ trẻ ngày một
gia tăng. Trên thế giới hiện nay có 300 triệu người nghiện ma tuý. Ở nước ta, con số

và cú đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau. Đối với những thách thức của cuộc
sống hiện nay mà các em đang gặp phải, không có lời giải đơn giản hay biện pháp tác
động đơn lẻ nào có thể đối phó được. Các em cần được sống an toàn, cần sự hỗ trợ
và giúp đỡ của người lớn. Xã hội có nhiệm vụ dẫn dắt và hỗ trợ thế hệ trẻ qua những
năm tháng ở tuổi Trẻ vị thành niên với sự đối xử tôn trọng và thông cảm. Khi xã hội
hoàn thành tốt trách nhiệm này sẽ đem lại lợi ích to lớn cho tương lai.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH
1: Cơ sở lý luận: Khi được khuyên bảo và tư vấn, trẻ vị thành niên sẽ được
trang bị tốt hơn để ứng phó một cách thích hợp trước những tình huống bị lạm dụng,
bị đe doạ, bị đối xử bất công. Các em có thể biết cách để thoát khỏi các tình huống
có hại hoặc đối phó một cách linh hoạt, sáng tạo, chủ động.
Nếu được bày tỏ tiếng nói và suy nghĩ của mình, trẻ vị thành niên có thể cho
biết những thông tin quan trọng về điều kiện học tập, lao động, về những nguy cơ và
vấn đề liên quan đến sức khoẻ cộng đồng. Các em có thể đề xuất những sáng kiến mà
người lớn có lẽ chưa nghĩ tới.
Sự tham gia của trẻ vị thành niên không hề làm giảm đi vai trũ quan trọng của
người lớn, trái lại nó thúc đẩy sự đối thoại một cách lành mạnh, bình đẳng giữa trẻ vị
thành niên và người lớn và cùng có chung trách nhiệm với nhau.
Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang người lớn.
Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con
người. Biểu hiện của nó là xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi bao gồm: sự
chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu
2
hình thành nhân cách nên làm nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa
tuổi khác.
Vị thành niên cũng giống như những con bướm đang lớn dần từ con nhộng.

estrogen và progesteron; còn tinh hoàn của nam giới sẽ sản xuất hoocmon
testosterone. Cỏc hormone này khiến cho cơ thể có những biến đổi sinh học cả bên
trong và bên ngoài thật kỳ diệu: biến đổi nhanh về vóc dáng cơ thể, cơ quan sinh dục
phát triển, các đặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực trở nên rừ rệt, các em gái
bắt đầu có kinh nguyệt, em trai có hiện tượng xuất tinh. Sự phát triển đó đưa trẻ bước
vào một cuộc sống mới của tuổi vị thành niên.
Sự đột biến về chiều cao và hành động cụ thể là do sự phát triển nhanh của các
xương dài ở chân tay. Chiều cao có khác nhau giữa nam và nữ do thời kỳ dậy thì xảy
ra ở độ tuổi khác nhau, thường gặp sớm hơn ở các em gái. Ở thời kỳ này giữa các
phần của cơ thể như thân mình, chân, tay, vai có tỷ lệ cân đối hơn. Ở các em gái bắt
đầu có sự tiết mỡ ở ngực, chậu hông và đằng sau vai, ở các em trai có sự phát triển
và tiết mỡ ở các khối cơ. Đến cuối tuổi dậy thì, các em đó trở thành những chàng
trai, cô gái với vóc dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau.
3
Trong thời kỳ ấu thơ, sự tăng trưởng xảy ra theo trình tự từ đầu đến chân.
Nhưng ở vị thành niên thỡ ngược lại, chân tay đạt được chiều dài đầy đủ trước thân
mỡnh và đầu. Đây là hiện tượng sinh học bình thường. Sự vụng về, chưa thành thục
của vị thành niên có thể là những đặc điểm cá thể chứ không hẳn do sự lớn nhanh
không đồng bộ. Các công trình nghiên cứu cho thấy đa số các em ở tuổi này không
có khủng hoảng phát triển, chỉ có khoảng 20% trẻ em ở độ tuổi này có khó khăn
trong sự phát triển, rối nhiễu tâm lý.
Tuy nhiên, đôi khi những biến đổi quá nhanh gây tình trạng sốc hoặc cảm giác
thẹn, xấu hổ, không yên tâm, thiếu tự tin, lúng túng ở một số vị thành niên do các em
chưa có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết đầy đủ về mình.

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC SỨC KHOẺ SINH SẢN
VỊ THÀNH NIÊN Ở TRƯỜNG THPT
1: Thực trạng của việc giáo dục SK SSVTN :
+ Thuận lợi: Phòng học được xây dựng cơ bản, có các phòng chức năng đảm

HĐGDNGLL phát huy cao độ tính chủ động, tích cực của tập thể học sinh nói
chung, của mỗi học sinh nói riêng. Dưới sự giúp đỡ của giáo viên, học sinh sẽ cùng
nhau tổ chức các hoạt động với nhiều nội dung giáo dục khác nhau, trong đó có nội
dung về giáo dục sức khoẻ sinh sản vị thành niên (SKSSVTN). Đây là một nội dung
giáo dục quan trọng đối với lứa tuổi vị thành niên. Nội dung này vừa khó, lại nhạy
cảm và tế nhị. Nếu tiến hành không khéo thì có thể ít mang lại hiệu quả giáo dục. Vì
vậy, HĐGDNGLL là cơ hội rất thuận lợi để tiến hành giáo dục SKSS cho lứa tuổi vị
thành niên.
Giáo dục SKSSVTN đã được đưa vào chương trình nhà trường THPT mới, đó là
trường THPT phân ban dưới hình thức tích hợp. Có ba cấp độ tích hợp:
Cấp độ 1: nội dung giáo dục SKSSVTN trùng hoàn toàn với nội dung của bài học, có
nghĩa là toàn bộ nội dung bài học đề cập tới vấn đề SKSSVTN hay nói cách khác đó
là bài riêng. Cấp độ 2: nội dung giáo dục SKSSVTN được lồng ghép vào một phần
nội dung của bài học một cách tự nhiên, không làm ảnh hưởng đến nội dung của bài.
Cấp độ 3: có thể lỉên hệ nội dung giáo dục SKSSVTN vào trong nội dung của bài
học một cách nhẹ nhàng, không được khiên cưỡng.
HĐGDNGLL là cơ hội, là điều kiện thuận lợi để tiến hành giáo dục
SKSSVTN cho học sinh trường THPT. Các nội dung giáo dục SKSSVTN đã được
đưa vào chương trình HĐGDNGLL dựa theo ba cấp độ tích hợp ở trên. Có thể nói
rằng với các hình thức hoạt động đa dạng thể hiện ở các chủ đề hoạt động trong
chương trình HĐGDNGLL, nội dung giáo dục SKSSVTN sẽ có một vị trí xứng đáng
trong quá trình tổ chức hoạt động ở nhà trường THPT. Báo cáo sẽ lần lượt làm sáng
tỏ mục tiêu, nội dung và hình thức tổ chức giáo dục SKSSVTN thông qua
HĐGDNGLL.
Mục tiêu giáo dục SKSS vị thành niên qua Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở
trường THPT
Về kiến thức:
- Học sinh hiểu được ý nghĩa của sự gia tăng dân số có ảnh hưởng tới sự phát
triển kinh tế xã hội, tới môi trường sống và chất lượng cuộc sống.
- Hiểu rõ vai trò của gia đình trong giáo dục thanh thiếu niên, trách nhiệm của

lợi để bồi dưỡng thái độ đúng đắn, rèn luyện các kỹ năng sống tích cực, biết cách
phòng tránh được những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.
Chương trình HĐGDNGLL ở THPT là chương trình hoàn toàn mới mà từ
trước tới nay chưa có. Nội dung chương trình HĐGDNGLL rất phong phú về nội
dung và đa dạng về hình thức tổ chức. Nội dung của HĐGDNGLL ở THPT tập trung
vào sáu vấn đề lớn:
- Lẽ sống của thanh niên trong giai đoạn CNH, HĐH đất nước.
- Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình
- Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng, bảo vệ di sản văn hoá.
- Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp
- Những vấn đề có tính nhân loại như: bệnh tật, đói nghèo, dân số, môi trường,
hoà bình, hợp tác giữa các dân tộc, tệ nạn xã hội
Sáu vấn đề này được cụ thể hoá thành 10 chủ đề hoạt động phù hợp với hoàn
cảnh, điều kiện học tập và rèn luyện của học sinh THPT. Trong 10 chủ đề hoạt động,
có những chủ đề có nhiều khả năng tích hợp nội dung giáo dục SKSSVTN. Đó là các
chủ đề hoạt động của các tháng:
- Tháng 10: Thanh niên với tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình
- Tháng 12: Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tháng 1: Thanh niên với việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
- Tháng 6+7+8: Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng.
Nội dung giáo dục SKSSVTN được đề cập khá rõ nét trong nội dung hoạt
động của các chủ đề này. Có những chủ đề hoạt động có nội dung gần như trùng
hoàn toàn với nội dung giáo dục SKSSVTN như chủ đề tháng 10. Những chủ đề hoạt
động của các tháng 12, tháng 1 và hè đều có khả năng tích hợp được nội dung giáo
dục SKSSVTN vào nội dung hoạt động của mình. Cụ thể là:
- Chủ đề tháng 10 bao gồm các nội dung và hình thức hoạt động như: Thi hỏi
đáp về tình bạn, tình yêu và gia đình; Hội thi “Những người bạn gái đáng mến”; thi
ứng xử linh hoạt; diễn đàn thanh niên “Vẻ đẹp trong tình bạn và tình yêu”; hoạt động
tư vấn tâm lý lứa tuổi; tìm hiểu Luật hôn nhân và gia đình; tiểu phẩm về tình bạn và

- Thi hỏi đáp về
tình bạn, tình yêu
và gia đình.
- Hội thi “Những
người bạn gái
đáng mến”.
- Thi ứng xử linh
hoạt.
- Diễn đàn thanh
niên “Vẻ đẹp
trong tình bạn và
tình yêu”.
- Hoạt động tư
vấn tâm lý lứa
tuổi.
- Tìm hiểu Luật hôn
nhân và gia đình.
- Tiểu phẩm về tình
bạn và tình yêu.
Tháng 12: Thanh
niên với sự nghiệp
xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Thanh niên và
nhiệm vụ phòng
chống tệ nạn xã
hội.
Tháng 1: Thanh
niên với giữ gìn
bản sắc văn hoá

Chương trình HĐGDNGLL ở THPT với nhiều hình thức hoạt động đa dạng
được thể hiện trong các chủ đề hoạt động của các tháng. Như trên đã nêu, việc tích
hợp nội dung giáo dục SKSSVTN vào chương trình HĐGDNGLL được thể hiện ở
một số chủ đề hoạt động của các tháng: 10, 12, 1 và ba tháng hè. Đây là những thời
điểm có nhiều khả năng tích hợp nội dung giáo dục SKSSVTN trong chương trình
HĐGDNGLL. Cùng với các hình thức hoạt động đã có trong chương trình
HĐGDNGLL, cần phải xây dựng những hình thức hoạt động mang đặc trưng của
giáo dục SKSSVTN. Có thể kể ra đây một vài hình thức cụ thể như:
- Thi hỏi đáp về một chủ đề giáo dục SKSSVTN
- Trình diễn trang phục có liên quan đến nhận thức, thái độ của học sinh về
chăm sóc SKSS
- Thi giải quyết các tình huống có liên quan đến quan hệ tình bạn, tình yêu tuổi
học trò
- Trình bày tiểu phẩm về chủ đề giáo dục SKSSVTN
- Biểu diễn văn nghệ
- Vẽ tranh châm biếm, đả kích những hành vi và thói quen xấu trong quan hệ
tình bạn, tình yêu tuổi học trò
- Thi tìm hiểu về Luật hôn nhân và gia đình
- Thi hùng biện về một chủ đề nào đó trong giáo dục SKSSVTN
Sau đây là một vài VD về tớch hợp giáo dục SKSSVTN vào HĐGDNGLL ở
trường THPT. Rất mong được quan tâm của cỏc thầy cô giáo để việc giáo dục
SKSSVTN cho học sinh THPT đạt được kết quả.
3: Những kết quả đạt được trong việc giáo dục SK SSVTN:
Trước những thuận lợi và khó khăn như đã nêu trên, để thực hiện được mục
tiêu giáo dục SK SSVTN cho học sinh trường luôn quan tâm, chăm lo bồi dưỡng
kiến thức về SK SSVTN cho học sinh thông qua tích hợp vào các hoạt động tập thể,
môn hoạt động ngoài giờ lên lớp, các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, lồng ghép
trong các bài giảng các môn học như GDCD, Sinh học Từ những việc làm trên
trong các năm học 2009 - 2010, 2010 - 20110, 2011 – 2012 việc giáo dục SK
SSVTN cho học sinh trong nhà trường đó thu được những kết quả như sau:

IV: CÔNG TÁC CHUẨN BỊ HOẠT ĐỘNG:
1. Giáo viên
Xây dựng chi tiết nội dung hoạt động theo mục tiêu đề ra
2. Học sinh
Họp bàn nội dung công việc, giao cho tổ; chọn đội chơi, cử nhóm trưởng, cử
người thi hùng biện
3. Phương tiện
- Trang trí: Tiếp chữ, phông màn….
- Đĩa hát, máy chiếu, máy vi tính
- Loa đài, bàn ghế, hoa…
- Phần thưởng
- Bộ phận câu hỏi và các tiểu phẩm…
V: TIẾN TRÌNH HOẠT ĐỘNG
Người
thực hiện
NỘI DUNG Thời
gian
Dẫn
chương
trình 1
- Cả lớp xem băng hình (bài hát tình thơ).
- Trong đời sống tình cảm cá nhân, tình bạn tình yêu giữ một vị
trí quan trọng, nó là nền tảng căn bản của cuộc sống con người,
đồng thời phản ánh vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của mỗi con
người góp phần nâng giấc thanh lọc tâm hồn, bồi dưỡng nuôi
9
dưỡng những giấc mơ đẹp, làm cho cuộc sông.
Dẫn
chương
trình 2

Vị giám khảo số3: …………
Dẫn
chương
trình 1
- Ban thư kí: Số 1:………….
Số 2:…………
Dẫn
chương
trình 2
- Sau đây xin được vui mừng chào đón nhân vật chính ngày
hôm nay. Ba đội chơi đó là: Đội Tuổi trẻ
Đội Tình bạn
Đội Tình yêu
Xin mời ban giám khảo cùng 3 đội chơi lên vị trí
Dẫn
chương
trình 1
- Chúng ta chờ phần giới thiệu của ba đội.
(phỏng vấn từng đội)
Dẫn
chương
trình 2
- Thưa thầy giáo chủ nhiệm và các ban trong lớp. Có lẽ chúng
ta cùng có chung tâm trạng hồi hộp, chời diễn biến của cuộc
chơi và không để mọi người chời đợi lâu, xin được thông qua
nội dung thi như sau:
- Cuộc thi trải qua ba phần
Phần thứ 1: Thi tìm hiểu
Phần thứ 2: Thi xử lí tình huống
Phần thứ 3: Thi hùng biện

chương
trình 2
HOẠT ĐỘNG 2
- Tiếp theo chúng ta sẽ bước vào phần thi thú vị và hứa hẹn
nhiều điều bất ngờ, phần thi có tên gọi: Xử lí tình huống
- Thể lệ phần thi như sau: Có 4 tình huống(được trình bày dưới
dạng tiểu phẩm) được đánh số thứ tự từ 1 đến 4 mỗi đội chơi sẽ
có 1 lượt lựa chọn tình huống và trả lời sau khi hội ý 2 phút; hời
gian trả lời 3 phút. Mỗi tình huống trả lời hợp lí sẽ được 20
điểm. Nếu trả lời chưa hoàn toàn chính xác thì khán giả có
quyền trả lời. Nếu đúng sẽ được phần quà của ban tổ chức.
- Tình huống 1:
-
- Tình huống 2:
11
- Tình huống 3:
- Tình huống 4:
12
- Phần giao lưu với khán giải:
Dẫn
chương
trình 1
Ba đội vừa hoàn thành suất sắc phần thi của mình. Sau đây là
phầnđánh giá của BGK giành cho 3 đội
Đội Tuổi trẻ … điểm
Đội Tình bạn … điểm
Đội Tình yêu … điểm
Xin cảm ơn BGK và chúc mừng 3 đội
Dẫn
chương

chơi
Đội Tình bạn … điểm
Đội Tình yêu … điểm
Tổng điểm 3 phần thi của 3 đội là:
Đội Tuổi trẻ … điểm
Đội Tình bạn … điểm
Đội Tình yêu … điểm
Dẫn
chương
trình 1
Mời cả lớp cùng lắng nghe ca khúc có tựa đề: Tình bạn
Dẫn
chương
trình 2
Xin mời thầy giáo chủ nhiệm nhận xét và đánh giá chung và
trao phần thưởng cho 3 đội
VI: KẾT THÚC HOẠT ĐỘNG:
Giáo viên tổng kết, nhấn mạnh và khẳng định ý nghĩa vai trò của tình bạn, tình
yêu trong cuộc sống.
Nhận xét tinh thần thái độ tham gia hoạt động và khẳng định hiểu biết của học sinh
qua các phần thi và biểu dương thành tích của 3 đội
CÂU HỎI VÀ GIẢI THÍCH TÌNH HUỐNG
BẰNG CÁC ĐOẠN PHIM
TÌNH HUỐNG 1:
Xem kỹ đoạn phim và trả lời 2 câu hỏi sau:
1/ Bạn trai dùng cách nào để thuyết phục bạn gái có quan hệ tình dục?
1/ Nêu những điều đúng và sai đối với 2 bạn nam và nữ trong tình huống trên.
Trả lời:
1/
- Đã yêu nhau thì việc có quan hệ tình dục trước là chuyện bình thường

- Không lưu trữ, không phát tán.
- Không xem, không tổ chức xem loại phim này trong các bạn trẻ.
- Tham gia các hoạt động xã hội, thể thao lành mạnh tại cộng đồng hoặc đoàn thể của
mình.
TÌNH HUỐNG 4:
Xem kỹ đoạn phim và trả lời 2 câu hỏi sau:
1/ Theo bạn, hai bạn trẻ đang gặp phải tình huống gì ? Tại sao lại xảy ra như vậy?
2/ Giải pháp thích hợp nhất là gì ? Vai trò của bạn trai là như thế nào ?
Câu hỏi và giải thích:
1. Theo bạn hai bạn trẻ gặp phải tình huống gì?
- Hai bạn trẻ đã để xảy ra có thai ngoài ý muốn.
- Do đã có quan hệ tình dục không an toàn.
2. Giải pháp thích hợp và vai trò của bạn trai:
- Giải pháp phá thai sớm là lựa chọn thích hợp nhất.
- Bạn trai cần chủ động và có trách nhiệm tìm kiếm dịch vụ tin cậy và giúp bạn gái
đến điểm cung cấp dịch vụ cũng như chăm sóc bạn gái sau khi sử dụng dịch vụ
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Để hạn chế đến mức tối thiểu tình trạng trẻ vị thành niên quan hệ tình dục sớm
dẫn đến có thai, các bậc phụ huynh cần quan tâm và định hướng một cách tế nhị cho
con em mình về kiến thức giới tính cũng như sức khỏe sinh sản VTN. Bên cạnh đó
kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần cụ thể hóa các chương trình giảng dạy giới
tính, sức khỏe sinh sản phự hợp theo các cấp học trang bị kiến thức trong giai đoạn
nhạy cảm của học sinh.
1 : Đối với sở GD&ĐT Thanh Hoá: Tăng cường bồi dữơng chuyên môn
nghiệp vụ thường xuyên cho giáo viên cần cung cấp những thông tin mới về giáo dục
SK SSVTN cho HS.
2: Đối với trường THPT: Tăng cường các biện pháp quản lý nề nếp HS, thắt
chặt hơn nữa mối quan hệ thường xuyên giữa gia đình nhà trường và xã hội. Chủ
động đầu tư, bổ sung cơ sở vật chất nhất là cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp để tổ chức một cách có hiệu quả công tác giáo dục toàn

18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status