Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
~~~~~~~~~~~~
NGUYN TH THU H
HON THIN MARKETING MIX TI
MT S DOANH NGHIP KINH
DOANH L HNH TRấN A BN H
LONG, QUNG NINH
CHUYấN NGNH: DU LCH
(CHNG TRèNH O TO TH IM)
Luận văn thạc sĩ du lịch
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: ts. nGUYN TH T
Hà Nội, năm 2014
Đại học Quốc gia Hà Nội
Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
~~~~~~~~~~~~
NGUYN TH THU H
HON THIN MARKETING MIX TI
MT S DOANH NGHIP KINH DOANH
L HNH TRấN A BN H LONG,
QUNG NINH
Chương trình Du lịch
MICE
Du lịch kết hợp hội thảo
Tour
Chương trình du lịch
VN
Việt Nam
QN
Quảng Ninh
TCDLVN
Tổng cục du lịch Việt Nam
Sở
Sở Văn hoá thể thao và Du lịch
VHTT&DL
LHQT
1.3.1. Chính sách sản phẩm ........................................................... 22
1.3.2. Chính sách giá ..................................................................... 25
1.3.3. Chính sách phân phối ........................................................... 27
1.3.4. Chính sách quảng bá, xúc tiến .............................................. 28
1.3.5. Chính sách nguồn nhân lực .................................................. 31
1.3.6. Chính sách tạo sản phẩm trọn gói (Packaging) và lập chương
trình (Programming) ...................................................................... 31
1.3.7. Chính sách quan hệ đối tác (Partnership) ............................. 32
1.4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến marketing mix trong doanh nghiệp
lữ hành .......................................................................................... 33
1.4.1. Các yếu tố bên trong ............................................................ 33
1.4.2. Các yếu tố bên ngoài ............................................................ 34
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG MARKETING MIX TẠI MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP KINH DOANH LỮ HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HẠ
LONG, QUẢNG NINH ............................................................................. 38
2.1. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh ...................................................... 38
2.1.1. Khái quát tình hình phát triển của ngành Du lịch Quảng Ninh
...................................................................................................... 38
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh lữ hành ở Quảng Ninh ....... 42
2.2. Thực trạng marketing mix tại một số doanh nghiệp kinh
doanh lữ hành trên địa bàn Hạ Long,Quảng Ninh ...................... 45
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu thực trạng marketing mix tại các
doanh nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh .............................................. 46
2.2.2. Phân tích thực trạng marketing mix tại các doanh nghiệp lữ
hành ở Quảng Ninh ........................................................................ 47
2.3. Đánh giá chung về thực trạng marketing mix tại các doanh
nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh ...................................................... 60
Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia doanh nghiệp có vị trí đặc biệt
quan trọng, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP).
Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển đột
biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy
nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và
tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham
gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá đói,
giảm nghèo...
Sự phát triển của các doanh nghiệp du lịch Việt Nam bắt đầu bằng sự
ra đời của Công ty du lịch Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại thương. Tính đến
tháng 7/2012, ngành du lịch Việt Nam có 1014 doanh nghiệp lữ hành quốc
tế (không tính số lượng doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa), 13.000
cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú tạo việc làm cho 1.389.600 lao động,
trong đó có 434.240 lao động trực tiếp chiếm 2,4% lao động cả nước
[nguồn: Tổng cục Du lịch]. Điều đó cho thấy sự phát triển lớn mạnh của
doanh nghiệp du lịch cũng như sự tăng trưởng của ngành du lịch. Có thể
nói vai trò của doanh nghiệp du lịch không chỉ quyết định sự phát triển bền
vững về mặt kinh tế của ngành mà còn quyết định đến sự ổn định và các
vấn đề liên quan khác của xã hội.
Quảng Ninh là một tỉnh có tiềm năng về tài nguyên du lịch đặc sắc,
hệ thống dịch vụ đang ngày càng phát triển đa dạng và nâng cao về chất
lượng, có môi trường an toàn và con người thân thiện song lượng khách và
doanh thu còn hạn chế. Ngành du lịch Quảng Ninh không thể phát triển
một cách tự nhiên, mạnh mẽ và bền vững chỉ dựa vào lợi thế tài nguyên du
lịch mà đòi hỏi phải có sự ủng hộ mạnh mẽ từ các doanh nghiệp du lịch
Quảng Ninh chính bằng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện marketing
mix tại các doanh nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh trong giai đoạn tới.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động marketing đã có từ lâu, cùng với hoạt động sản xuất hàng
hóa, trao đổi và cạnh tranh. Khái niệm marketing được hình thành từ những
năm đầu thế kỷ 20, được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1902 trên giảng
đưởng đại học tổng hợp Michigan, Mỹ. Thuật ngữ marketing mix lần đầu
tiên được sử dụng vào năm 1953 khi Neil Borden, là chủ tịch của hiệp hội
Marketing Hoa Kỳ lấy ý tưởng công thức thêm một bước nữa và đặt ra
thuật ngữ Marketing hỗn hợp.
Tại Việt Nam, từ nhiều năm qua ngành du lịch nói chung và các
doanh nghiệp du lịch nói riêng đã nỗ lực trong việc hoạt động marketing du
lịch cũng như nghiên cứu thị trường nhằm đưa ra những giải pháp tối ưu
nhất để tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, nghiên cứu marketing tại
doanh nghiệp lữ hành đến nay đã có:
- Nguyễn Trà My (2012), Giải pháp marketing nhằm phát triển loại
hình du lịch mua sắm ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn, luận văn thạc sỹ trường Đại học Thương mại.
- Nguyễn Đức Giang (2013), Hoàn thiện chính sách sản phẩm của
các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh Hải Dương, luận văn thạc sỹ
trường Đại học Thương mại.
Còn nghiên cứu marketing tại doanh nghiệp lữ hành mới chỉ có:
- Trịnh Thanh Thủy (2009), Giải pháp marketing mix cho doanh
nghiệp lữ hành quốc tế tại Hà Nội, luận văn thạc sỹ trường Đại học Kinh tế.
Chính vì vậy, từ khách quan hoạt động marketing mix tại các doanh
nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh, tác giả mong muốn nghiên cứu chuyên sâu
vào thực trạng hoạt động marketing và giải pháp marketing mix hiện nay
tại một số doanh nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh. Bên cạnh đó, phân tích
4
Long, Công ty Du lịch Hồng Gai, CN Cty TNHH 1TV Dịch vụ lữ hành
Saigontourist tại Quang Ninh và một số doanh nghiệp khác.
Về thời gian: Thời gian trực tiếp khảo sát điều tra tại doanh nghiệp
được tiến hành từ tháng 1/3 đến 30/10/2013. Các số liệu minh họa trong đề
tài lấy tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh và các doanh
nghiệp lữ hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh từ năm 2008 đến năm 2012;
các giải pháp hoàn thiện marketing mix áp dụng cho một số doanh nghiệp
kinhd oanh lữ hành tại Quảng Ninh đến năm 2020.
6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Về mă ̣t lý luận, đề tài đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận liên quan
marketing mix tại doanh nghiệp lữ hành, góp phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên
cứu khoa học trong du lịch. Đề tài có thể trở thành tư liệu tham khảo cho các
bạn sinh viên các khoa du lịch trong quá trình làm uận văn, khóa luận, nghiên
cứu khoa học. Ngoài ra đề tài cũng có ý nghĩa nhất định cho những ai quan
tâm khi tìm hiểu hoặc phát triển về hướng đề tài nghiên cứu tương tự.
Về ý nghiã thực tiễn , đề tài đã đánh giá khách quan, tổng thể về hoạt
động marketing mix của doanh nghiệp lữ hành tại Quảng Ninh; đề xuất các
giải pháp hoàn thiện marketing mix nhằm đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
cho các doanh nghiệp lữ hành ở Quảng Ninh trong môi trường hội nhập
quốc tế. Các giải pháp đồng bộ và hiệu quả cho doanh nghiệp lữ hành của
Quảng Ninh trong kinh doanh du lịch. Từ đó có những đóng góp tích cực
cho doanh nghiệp khi dựa vào điều kiện thực tế của doanh nghiệp để đưa ra
các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, cách tiếp cận và giữ
chân khách hàng cho doanh nghiệp mình để có thể cạnh tranh được các đơn
vị khác trong môi trường cạnh tranh như hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
nên việc nhận thức về du lịch cũng có nhiều quan niệm khác nhau.
Tại Hội nghị Liên hiệp quốc về du lịch họp tại Roma, Italia ngày 21/85/9/1963, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp
các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc
hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên
cuả họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải
là nơi làm việc của họ.
Sau đó, Tổ chức du lịch thế giới đã đưa ra định nghĩa: Du lịch bao gồm tất
cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan,
khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư
giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong thời
gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư;
7
nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là
một dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Theo I.Pirôgionic, 1985 thì: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư
trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi
cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần,
nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những
giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá.
Theo nhà kinh tế học người Áo Josep Stander nhìn từ góc độ du khách thì:
khách du lịch là loại khách đi theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả
mãn sinh họat cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế.
Luật Du lịch số 44/2005/QH11 được Quốc hội nước CHXHCN thông qua
ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi
của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu
tham quan tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
Với những định nghĩa khác nhau về du lịch như trên, có thể hiểu du lịch
Định nghĩa của Liên Hiệp quốc tế tổ chức các cơ quan lữ hành (IUOTO)
tiền thân của UNWTO: Năm 1950, IUOTO đưa ra định nghĩa về khách du lịch
quốc tế có hai điểm khác với định nghĩa trên là: “Sinh viên và những người đến
học ở các trường cũng được coi là khách du lịch và những người quá cảnh
không được coi là khách du lịch trong hai trường hợp, hoặc là họ hành trình qua
một nước không dừng lại trong thời gian vượt quá 24 giờ, hoặc là họ hành trình
trong khoảng thời gian dưới 24 giờ và có dừng lại nhưng không với mục đích du
lịch”.
Định nghĩa về khách du lịch có tính chất quốc tế đã hình thành tại Hội nghị
Roma do Liên Hiệp quốc tổ chức năm 1963: “Khách du lịch quốc tế là người
lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ
trong thời gian 24 giờ hay nhiều hơn”.
Định nghĩa của Hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan năm 1989: “Khách
du lịch quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục
đích tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian ít
hơn 3 tháng, những người khách này không được làm gì để được trả thù lao và
sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở về nơi ở thường xuyên của mình”.
9
Do vậy, những người được coi là khách du lịch quốc tế bao gồm những
người đi vì lý do sức khỏe. Nhà kinh tế học người Áo Jozep Stander định nghĩa:
“Khách du lịch là những hành khách đặc biệt, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú
thường xuyên để thỏa mãn những nhu cầu cao cấp mà không theo đuổi những
mục đích kinh tế”.
Tại Việt Nam, theo Luật Du lịch số 44/2005/QH11 được Quốc hội nước
CHXHCN thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005: “Khách du lịch là người đi du
lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để
nhận thu nhập ở nơi đến”.
trước hết cần đề cập tới khái niệm doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định đuợc đăng ký kinh doanh theo quy định nhằm mục đích thực hiện
các hoạt động kinh doanh (Luật Doanh nghiệp 2005).
Cũng theo Luật Doanh nghiệp 2005 giải thích, kinh doanh là việc thực
hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản
xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi. Như vậy doanh nghiệp là tổ chức kinh tế vị lợi, mặc dù thực tế một
số tổ chức doanh nghiệp có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục tiêu lợi
nhuận.
Hoạt động của DNLH là kinh doanh lữ hành. Do vậy, có thể hiểu DNLH
là đơn vị có tư cách pháp nhân độc lập được thành lập nhằm mục đích sinh lợi
bằng việc giao dịch, ký kết các hợp đồng du lịch và tổ chức thực hiện các
chương trình du lịch (CTDL) trọn gói. Ngoài ra CTDL còn có thể tiến hành các
hoạt động trung gian, bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch hoặc thực hiện
các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác đảm bảo nhu cầu du lịch của khách từ
khâu đầu tiên cho đến khâu cuối cùng
Hoặc một cách đơn giản hơn, DNLH là doanh nghiệp thực hiện các hoạt
động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng
phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các
trung gian hay văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn
du lịch. Các DNLH đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành.
Theo Quy chế quản lý lữ hành của Tổng cục Du lịch: Doanh nghiệp lữ
hành là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, được thành lập nhằm
11
mục đích sinh lợi bằng việc giai dịch ký kết hợp đồng du lịch và tổ chức thực
hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách du lịch.
Trong cơ cấu tổ chức của một đơn vị kinh doanh lữ hành nhất thiết phải
có ba bộ phận nghiệp vụ, đó là; kinh doanh - thị trường, điều hành và hướng
dẫn. Ba bộ phận này phối hợp với nhau để nghiên cứu thị trường, sản xuất các
chương trình và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch. Ngoài ba bộ phận
chính trên, trong cơ cấu tổ chức còn có các bộ phận tổng hợp và hỗ trợ phát triển
1.1.3. Khái niệm marketing, marketing du lịch và marketing mix
1.1.3.1. Khái niệm marketing
Liên quan đến khái niệm marketing, mỗi học giả, tổ chức lại có cách nhìn
nhận khác nhau.
Phillip Kotler: Marketing là quá trình phân tích lập kế hoạch, thực hiện và
kiểm tra các chương trình đã được hoạch định một cách cẩn trọng nhằm mục
đích đem lại sự trao đổi tự nguyện về mặt giá trị với thị trường mục tiêu để đạt
được các mục tiêu của tổ chức.
Trong khi đó viện marketing Anh lại định nghĩa: Marketing là quá trình tổ
chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức
mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể, đến sản
xuất và đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty
thu được lợi nhuận như dự kiến.
Còn Hiệp hội Marketing Mỹ (American Marketing Association- AMA)
lại đưa ra khái niệm vào năm 1985: Marketing là một quá trình lập ra kế hoạch
và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh
doanh của của hàng hoá, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi
nhằm thoả mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân. Trong khi đó, I. Ansoff,
một chuyên gia nghiên cứu marketing của Liên Hiệp quốc lại đưa ra một khái
niệm được nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cho là khá đầy đủ, thể hiện tư duy
marketing hiện đại và đang được chấp nhận rộng rãi: Marketing là khoa học điều
hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó
căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường
làm định hướng.
Theo Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): Marketing du lịch là một triết
lý quản trị mà nhờ nghiên cứu, dự đoán, tuyển chọn dựa trên nhu cầu của du
khách nó có thể đem sản phẩm du lịch ra thị trường sao cho phù hợp mục đích
thu nhiều lợi nhuận cho tổ chức du lịch đó.
14
Theo Robert Lanquar và Robert Hollier: Marketing du lịch là một loạt
phương pháp và kỹ thuật được hỗ trợ bằng một tinh thần đặc biệt và nhằm thỏa
mãn các nhu cầu không nói ra hoặc nói ra của khách hàng, có thể là mục đích
tiêu khiển hoặc những mục đích khác bao gồm công việc gia đình, công tác và
họp hành.
Theo Alastair M. Morrison marketing du lịch là một quá trình liên tục nối
tiếp nhau, qua đó các doanh nghiệp lữ hành và khách sạn lập kế hoạch nghiên
cứu, thực hiện, kiểm soát và đánh giá các hoạt động nhằm thoả mãn nhu cầu và
mong muốn của khách hàng và những mục tiêu của doanh nghiệp để đạt được
hiệu quả cao nhất. Marketing đòi hỏi sự cố gắng, nỗ lực của mọi người trong
Công ty và hoạt động của Công ty hỗ trợ liên quan dựa trên 6 nguyên tắc: Thoả
mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng; Marketing là quá trình liên tục, là
hoạt động quản lý liên tục; Liên tục nhưng gồm nhiều bước nối tiếp nhau;
Nghiên cứu marketing đóng vai trò then chốt; Sự phụ thuộc lẫn nhau của các
Công ty lữ hành và khách sạn có mối quan hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau
(sản phẩm du lịch là sản phẩm tổng hợp, mỗi Công ty không thể làm marketing
cho riêng mình mà phải kết hợp với nhau để làm marketing có hiệu quả);
Marketing không phải là trách nhiệm của một bộ phận duy nhất mà là tất cả các
bộ phận. Marketing du lịch là hoạt động marketing trên thị trường du lịch và
trong lĩnh vực du lịch và vận dụng cho doanh nghiệp du lịch.
Tóm lại chúng ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát về marketing du lịch:
Marketing du lịch là tiến trình nghiên cứu, phân tích những nhu cầu của khách
hàng, những sản phẩm, những dịch vụ du lịch và những phương thức cung ứng,
thực hiện trong thực tế. Vì vậy, phải tìm những khách hàng có cùng chung một
số đặc điểm giống nhau thành từng nhóm. Điểm khởi đầu cho hoạt động
marketing của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng bắt đầu từ việc trả lời câu hỏi thị
trường mục tiêu của doanh nghiệp là ai? Chính vì vậy, việc phân loại thị trường
là rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và ngành kinh tế nói chung.
Phân loại thị trường là quá trình phân chia người tiêu dùng (thị trường
không đồng nhất) thành từng nhóm (các đoạn thị trường đồng nhất) trên cơ sở
những điểm khác biệt về nhu cầu, tính cách hay hành vi mua sắm.
Phân loại thị trường nhận ra sự khác nhau của người tiêu dùng về thị hiếu,
nhu cầu, thái độ, lối sống, thành phần gia đình... Đây là một chính sách thận
trọng để tối đa hóa nhu cầu thị trường bằng cách hướng những nỗ lực marketing
vào các nhóm khách hàng cụ thể.
Khách du lịch rất đa dạng về quốc tịch, lứa tuổi, nhu cầu, sở thích... Có
nhiều cách phân loại thị trường khách du lịch khác nhau.
17
- Phân loại theo quốc tịch (Phân loại thị trường khách du lịch theo nguồn
gốc dân tộc): Khách đến từ các quốc gia, vùng khác nhau mang theo nền văn
hóa riêng của dân tộc mình. Chính sự khác nhau đó dẫn đến sự khác nhau về
thói quen tiêu dùng, do đó phải có những thay đổi phù hợp trong phục vụ. Qua
việc phân loại này, các nhà kinh doanh du lịch nắm được nguồn gốc khách, hiểu
được mình đang phục vụ ai, khách thuộc dân tộc nào, nhận biết được văn hóa
của khách để phục vụ tốt hơn.
- Phân loại theo mục đích chuyến đi: Mọi hoạt động của con người đều có
mục đích. Tìm hiểu được mục đích của khách để qua đó kích thích tiêu dùng sản
phẩm du lịch quốc gia là việc làm rất khó. Thông thường, người ta chia thị
trường khách nguồn thành các nhóm chủ yếu:
Khách công vụ: Đây là khách vào một nước để đi làm việc kết hợp du lịch.
Họ đến nhằm giải quyết công việc như cung cấp hàng hóa, tìm hiểu thị trường...
phòng và quan tâm đến giá cả... Các cơ sở kinh doanh du lịch quốc gia nên quan
tâm đến vấn đề này vì theo xu hướng hiện nay khách du lịch thường là nữ giới.
- Phân loại theo động cơ đi du lịch và hành động (phân loại của Cohen):
Cohen đã tìm ra những nét cơ bản về tâm lý xã hội của các loại khách du lịch.
Cách phân loại của Cohen dựa trên động cơ đi du lịch của khách và các hành
động tương hỗ của họ với điểm du lịch. Cách phân loại này có tác dụng cho
những nhà kinh doanh du lịch mau chóng tìm hiểu được nhu cầu của khách
hàng.
Ngoài ra còn phân loại thị trường khách du lịch: Khách du lịch quốc tế
đến, khách du lịch quốc tế ra nước ngoài, khách du lịch trong nước, khách du
lịch nội địa, khách du lịch quốc gia.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành
Khác với các ngành kinh doanh hàng hóa, kinh doanh lữ hành là một loại
hình kinh doanh dịch vụ. Vì vậy hoạt động kinh doanh lữ hành có các đăc trưng
cơ bản sau:
- Phụ thuộc vào tài nguyên du lịch ở các điểm du lịch, có thể xem giá trị
tài nguyên du lịch ở các điểm du lịch quyết định sự phong phú của chương trình
du lịch. Điều này tác động tới sản phẩm kinh doanh lữ hành.
- Kinh doanh lữ hành phải có vốn tương đối, do các chương trình du lịch
khi thực hiện cần phải đặt trước một khoản cho nhà cung cấp dịch vụ.
19