Khảo sát hiện tượng tỉnh lược ngữ dụng trong các bài phóng sự trên báo hoa học trò trong 2 năm 2008 2009 luận văn th - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----------------

NGUYỄN THÚY HẠNH

KHẢO SÁT HIỆN TƢỢNG TỈNH LƢỢC NGỮ
DỤNG TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO
HOA HỌC TRÒ TRONG 2 NĂM 2008 – 2009

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----------------

NGUYỄN THÚY HẠNH

KHẢO SÁT HIỆN TƢỢNG TỈNH LƢỢC NGỮ
DỤNG TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO
HOA HỌC TRÒ TRONG 2 NĂM 2008 – 2009

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60 22 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ

1.5. Tiểu kết......................................................................................................... 34
CHƢƠNG 2: CÁC DẠNG THỨC TỈNH LƢỢC TRONG CÁC BÀI
PHÓNG SỰ TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ 2! ............................................... 35
2.1. Đặt vấn đề .................................................................................................... 35
2.2. Cơ sở của phép tỉnh lược.............................................................................. 35
2.2.1. Ngữ cảnh cần và đủ .............................................................................. 35


2.2.1.1. Khái niệm ngữ cảnh .......................................................................... 35
2.2.1.2. Ngữ cảnh của phép tỉnh lược ............................................................ 36
2.2.2. Phương thức lặp ................................................................................... 38
2.2.3. Mối quan hệ giữa chủ ngôn và lược ngôn trong chuỗi phát ngôn tỉnh
lược ...................................................................................................................... 40
2.3. Khảo sát các dạng thức tỉnh lược trong các bài phóng sự trên báo HHT2!
2.3.1. Tiêu chí để phân loại các dạng thức tỉnh lược và kết quả
khảo sát ................................................................................................................ 46
2.3.2. Mối quan hệ giữa chủ ngôn và lược ngôn và mức độ liên kết
văn bản ................................................................................................................ 50
2.3.3. Cơ sở cho phép tỉnh lược ..................................................................... 51
2.4. Khả năng liên kết của phép tỉnh lược với các phép liên kết khác trong văn
bản tiếng Việt ...................................................................................................... 53
2.5. Tiểu kết......................................................................................................... 61
CHƢƠNG 3: GIÁ TRỊ LIÊN KẾT VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC PHÁT
NGÔN TỈNH LƢỢC ......................................................................................... 62
3.1. Đặt vấn đề .................................................................................................... 62
3.2. Dạng biểu hiện của các thành phần bị tỉnh lược .......................................... 64
3.2.1. Tỉnh lược đơn ....................................................................................... 66
3.2.1.1. Tỉnh lược chủ ngữ ............................................................................. 66
3.2.1.2. Tỉnh lược vị ngữ ................................................................................ 74
3.2.1.3. Tỉnh lược phần chủ đề (vế đầu) của nòng cốt qua lại ...................... 75


Chủ ngôn

LN

:

Lược ngôn

C

:

Thành phần chủ ngữ

V

:

Thành phần vị ngữ

B

:

Thành phần bổ ngữ

Tr

:

những phương tiện liên kết ấy biến những câu rời rạc thành một văn bản hoàn
chỉnh. Hệ thống các phương tiện liên kết đó được coi là các phương tiện liên
kết câu.
Theo Trần Ngọc Thêm, phương tiện liên kết câu bao gồm: liên kết từ
vựng ngữ nghĩa và liên kết ngữ pháp. Nhóm liên kết ngữ nghĩa bao gồm:
phép lặp từ vựng, phép đối, phép thế, phép liên tưởng; còn nhóm liên kết ngữ
pháp bao gồm: phép nối, phép tỉnh lược, phép lặp ngữ pháp và phép liên kết
tuyến tính.
Trong giao tiếp, văn bản đồng thời xuất hiện nhiều phương thức liên
kết. Mỗi một phương thức liên kết đều thực hiện chức năng liên kết văn bản;


chúng có vai trò hết sức quan trọng trong việc thể hiện nội dung mạch lạc của
văn bản.
Trong quá trình nói và viết, người nói, viết đồng thời sử dụng những
thủ pháp liên kết khác nhau. “Người ta luôn chọn cho mình một cách nói tối
ưu: đủ lượng mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả giao tiếp” [Phạm Văn Tình
2002:24]. Trong các phép liên kết, có phép tỉnh lược (hay còn gọi là phương
thức rút gọn lâm thời). Muốn hiểu được các phát ngôn tỉnh lược, người ta phải
thực hiện một trường liên tưởng phục hồi về ngữ nghĩa với các phát ngôn
trước đó.
Thuộc nhóm các văn bản được xây dựng theo mô hình mềm dẻo có tính
chất thông dụng (theo cách phân chia văn bản thành mô hình nghiêm ngặt và
mềm dẻo của Đinh Trọng Lạc), văn bản báo chí ngày càng đóng vai trò quan
trọng trong đời sống xã hội. Đặc biệt trong đó, phóng sự được cho là một thể
loại báo chí giàu chất văn học nhất so với các thể loại báo chí khác.
Về phương diện nội dung, đặc điểm nổi bật nhất của phóng sự là nó có
khả năng phản ánh hiện thực một cách có bề dày và chiều sâu dưới dạng một
bức tranh nóng bỏng hơi thở của đời sống hiện thực với những con người và
sự việc xác thực. Đồng thời, với tư cách là thể loại hạt nhân trong nhóm các

2.2. Ý nghĩa của đề tài
2.2.1. Ý nghĩa lý luận
Phương thức liên kết tỉnh lược là một trong những phương tiện liên kết
liên câu trong văn bản tiếng Việt. Việc đi sâu nghiên cứu những phương tiện


liên kết này là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng trong việc nghiên
cứu ngữ pháp văn bản. Theo Trần Ngọc Thêm, hệ thống liên kết câu bao gồm
liên kết từ vựng ngữ nghĩa và liên kết ngữ pháp. Phương thức liên kết tỉnh
lược là một trong những phương thức quan trọng trong quá trình tạo lập và
tiếp nhận văn bản. Thực tế trong quá trình tạo lập văn bản, phương thức liên
kết này thể hiện rất phức tạp, đa dạng và linh hoạt.
Chúng tôi hi vọng với những kết quả nghiên cứu của mình có thể đóng
góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược trên cả ba bình
diện kết học, nghĩa học và dụng học, bổ sung thêm tư liệu và hi vọng đem lại
cách nhìn mới hơn và lý thuyết văn bản, ngôn ngữ học văn bản và phân tích
diễn ngôn. Việc nghiên cứu phương thức liên kết này một cách có hệ thống là
một việc làm hết sức cần thiết trong việc nghiên cứu ngữ pháp văn bản.
2.2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Khảo sát hiện tượng tỉnh lược ở mức độ liên câu sẽ giúp chúng ta nhìn
ra các mặt biểu hiện của việc liên kết bằng phương thức tỉnh lược. Trong giao
tiếp hàng ngày, việc sử dụng hiện tượng tỉnh lược không chỉ mang giá trị liên
kết các phát ngôn, mà còn đồng thời thể hiện những dụng ý diễn đạt ngữ
nghĩa khác nhau của chủ đối thoại trong hiện thực giao tiếp.
Nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược đồng thời còn giúp cho việc dạy và
học tiếng Việt trong nhà trường, nhất là các trường phổ thông. Bên cạnh đó,
việc nghiên cứu vấn đề này còn giúp hỗ trợ cho việc biên tập sách, trong cách
tiếp cận ngôn ngữ và văn hoá.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hầu như trong ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng tỉnh lược. Vấn đề này



thấy trong các câu có nghĩa miêu tả tính chất và quá trình. Chủ ngữ zero có
trong câu có ý nghĩa tồn tại” [Hoàng Trọng Phiến 1980:115]. Và tác giả cũng
nói thêm rằng: “Những câu đơn phần thường do những vị từ đảm nhiệm”.
Tuy nhiên, khi xem xét chúng, tác giả lại không đối chiếu về mặt ngữ
nghĩa giữa các phát ngôn và gần như thoát li khỏi ngữ cảnh.
* Khuynh hướng thứ hai là hướng coi các phát ngôn tỉnh lược thuộc
kiểu riêng. Các nhà ngôn ngữ học dựa vào tiêu chí phân loại cấu trúc cú pháp
hoặc từ loại. Theo hướng này, các tác giả xem xét các phát ngôn tỉnh lược
trong cả chuỗi phát ngôn đang có mặt nhằm giải quyết triệt để mối liên hệ ngữ
nghĩa giữa các phát ngôn. Các tác giả theo khuynh hướng này lại phân chia
thành 3 quan điểm chính:
- Nhóm thứ nhất gồm các tác giả như M.A.K Halliday, David Nunan,
I.P. Galperin, Diệp Quang Ban,... chia các phát ngôn tỉnh lược thành ba tiểu
loại chính:
+ Tỉnh lược danh từ
+ Tỉnh lược động từ
+ Tỉnh lược tính từ
Các tác giả phân loại tỉnh lược dựa vào tiêu chí từ loại của lược ngữ.
Halliday và Diệp Quang Ban đều cho rằng phép tỉnh lược có liên quan chặt
chẽ tới phép thế. Theo tác giả, những vị trí không được thay thế bằng các từ
ngữ khác không rõ nghĩa, mà được bỏ trống thì sẽ là trường hợp của tỉnh
lược. “Tỉnh lược được coi là thế bằng zero” [Diệp Quang Ban 1998: 186].
- Nhóm thứ hai, đại diện là Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng: Có hiện
tượng tỉnh lược đưa đến loại câu chỉ có một phần thuyết trên bề mặt (câu
không đề). Câu không đề không phải là loại câu đặc biệt. Ông cũng cho rằng


các phát ngôn tỉnh lược chính là các phát ngôn có chứa các ngữ đoạn hồi chỉ

đó vào việc nghiên cứu phép tỉnh lược, góp thêm một cách hiểu khi tiếp cận
vấn đề này, đồng thời qua đó thấy được vai trò của phép tỉnh lược đối với giá
trị liên kết và ngữ nghĩa trong tác phẩm báo chí, và hiệu quả tác động tới sự
tiếp nhận của độc giả.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này của chúng tôi đặt vấn đề “Khảo sát hiện tượng tỉnh lược
ngữ dụng trong các bài phóng sự trên báo Hoa học trò 2!”. Đối tượng nghiên
cứu của luận văn là khảo sát các chuỗi phát ngôn trong các bài phóng sự được
đăng trên tờ báo này có liên quan tới hiện tượng tỉnh lược. Các phát ngôn này
được nối kết, kết hợp với nhau bởi nhiều yếu tố tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa
của các phát ngôn (ngữ cảnh, thời gian, không gian, mục đích, yếu tố văn hoá,
xã hội,...)
Trong khuôn khổ luận văn và do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi
mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát hiện tượng tỉnh lược ngữ dụng trong tư liệu
là các bài phóng sự được đăng trên báo HHT2 trong 2 năm 2008 - 2009.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi tập trung miêu tả hoạt động của phương thức tỉnh
lược trong văn bản, các dạng biểu hiện cụ thể và thông qua đó thể hiện giá trị
liên kết và ngữ nghĩa của tác phẩm cũng như dụng ý nghệ thuật của tác giả.


Khảo sát đa dạng các bài phóng sự trên báo HHT2 trong 2 năm 2008 2009 nhằm trả lời câu hỏi: Mối quan hệ giữa chủ ngôn và lược ngôn được
biểu hiện đa dạng như thế nào? Mức độ liên kết giữa chủ ngôn và lược ngôn?
Vấn đề khôi phục các phát ngôn tỉnh lược trong văn bản? Điều này có ảnh
hưởng như thế nào tới giá trị của tác phẩm và sự tiếp nhận của độc giả?
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã dùng các phương pháp sau:
- Phương pháp chung: Luận văn được thực hiện chủ yếu theo phương
pháp quy nạp trên cơ sở thu thập, thống kê, miêu tả và phân tích tư liệu khảo
sát. Qua đó rút ra kết luận, đánh giá chung.

1.1.1. Phát ngôn
Lâu nay, người ta coi câu là đơn vị cao nhất, đơn vị thực hiện chức
năng thông báo. Định nghĩa về câu được xác định theo 3 tiêu chí:


- Có nghĩa hoàn chỉnh hoặc “tương đối” hoàn chỉnh (tiêu chí nội dung);
- Được cấu tạo theo những mô hình nhất định với nòng cốt là cấu trúc
Chủ - Vị (tiêu chí cấu trúc);
- Có những dấu hiệu hình thức nhất định như ngữ điệu, dấu câu.
Một số tác giả có những cách gọi khác nhau. Chẳng hạn, V.A.
Beloshapkova [1977:182] nói đến cấu trúc ngữ nghĩa, tổ chức hình thức và tổ
chức giao tiếp. V.A.Kochergina [1976:163-164] nói về tính độc lập giao tiếp,
tính vị thể và tính tình thái. Tác giả Hoàng Trọng Phiến đề cập đến sự biểu
hiện tư tưởng, sự trọn vẹn về ngữ pháp và hoàn chỉnh về ngữ điệu [Hoàng
Trọng Phiến 1980:19].
Một số tác giả khác khi đề cập đến câu, chỉ nói đến hai dấu hiệu mặc dù
họ đã nhập tiêu chí thứ nhất và thứ hai thành dấu hiệu ngữ nghĩa - cấu trúc (có
khi gọi là “tính vị thể” [Vinogadov 1955:270], [Nguyễn Kim Thản 1964],
hoặc nhập tiêu chí thứ hai và thứ ba thành một tiêu chí nói chung.
Vậy tại sao khi nói đến phát ngôn, các nhà nghiên cứu lại đề cập đến
câu? Giữa câu và phát ngôn có mối quan hệ như thế nào? Quan điểm phổ
biến, người ta coi phát ngôn là câu được hiện thực hoá trong ngữ cảnh, còn
câu là thực thể trừu tượng. Dùng thuật ngữ phát ngôn là phù hợp hơn cả.
Phát ngôn [ Phạm Văn Tình, Ngữ học trẻ 97: 95] là “một hoặc một
chuỗi từ mà trong lời nói nó được giới hạn bằng hai quãng ngắt và trên chữ
viết nó được giới hạn bằng hai dấu chấm hoặc các dấu tương đương”.
1.1.2. Văn bản và diễn ngôn
Trong thực tế, văn bản (text) và diễn ngôn (discours) là hai khái niệm
có thể được sử dụng thay thế và phân biệt lẫn nhau. Văn bản (text) gắn với
các thuật ngữ liên kết văn bản, ngữ pháp văn bản, ngôn ngữ học văn bản,...

Chính vị trí quan trọng của văn bản mà nó trở thành đối tượng của ngôn
ngữ học và là cơ sở thúc đẩy hình thành môn học mới trong ngôn ngữ học đó
là ngôn ngữ học văn bản. Vậy văn bản là gì và thực chất đối tượng của nó
được thể hiện như thế nào? Tại sao khi nghiên cứu văn bản người ta lại đề cập
đến thuật ngữ diễn ngôn?
Trần Ngọc Thêm (1985): “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một
hệ thống mà tỏng đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu - phần tử,
trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của
mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói
riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan
hệ và liên hệ ấy”. Ông khẳng định: “diễn ngôn mới là ký hiệu giao tiếp chứ
không phải là câu” [Trần Ngọc Thêm 1985:11]. Và ông chứng minh “câu là
các ký hiệu giao tiếp ở bậc cao nhất”, “Các lý luận ngôn ngữ học xây dựng
trong khuôn khổ câu đã phải trả một giá đắt; chúng ngày càng bộc lộ những
hạn chế và bất lực của mình trước những nhu cầu của lý luận và thực tiễn”.
Do vậy việc chuyển đối tượng từ câu/ phát ngôn sang diễn ngôn chúng ta mới
thấy rõ tính giao tiếp của ngôn ngữ. Đó là sự kết hợp của một loạt các yếu tố
nội dung sự kiện, các tham tố cũng như là mối quan hệ giữa các tham tố trong
sự tình đó và phương tiện được sử dụng để chuyển tải một nội dung nào đó sẽ
mang lại các giá trị giao tiếp khác nhau.
Thuật ngữ diễn ngôn (còn được gọi là diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm)
thường được hiểu là một chuỗi phát ngôn được hiện thực trong giao tiếp bằng
lời. Trên cơ sở đó diễn ngôn còn là đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hội


thoại. Bởi vì nhân tố hội thoại và các nhân tố đơn thoại đã tham gia, hoà trộn
vào nhiều văn bản.
Beller (1971) cho rằng: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn
S1,....Sn trong đó việc giải thuyết nghĩa của mỗi phát ngôn Si (với 2 ≤ i ≤ n) là
thuộc vào sự giải thuyết những phát ngôn trong chuỗi S1,...Si-1. Nói cách khác

chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói. Hiện
nay, diễn ngôn có xu hướng được dùng như tên gọi chung cho các sản phẩm
ngôn ngữ nói và viết.
Trong thực tế, sự phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn không hề đơn
giản, thậm chí để rõ ràng cần có những cách nhìn khác nữa coi văn bản là sản
phẩm, diễn ngôn là quá trình (Brown & Jule (1983), Halliday (1985)).
1.1.3. Câu và ngữ trực thuộc (NTT)
Trong vấn đề nghiên cứu về câu đã có nhiều quan niệm khác nhau. Các
hướng nghiên cứu chính về vấn đề này có thể quy vào hai hướng chính sau
đây:
- Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt nghĩa
- Hướng định nghĩa theo quan điểm ngữ pháp duy lí, dựa vào hành
động phát ngôn, mặt hình thức và hành động giao tiếp.
Tuy nhiên, vào những năm cuối thế kỉ XX, các nhà ngữ pháp học đã
nhận thấy những hạn chế của các nhà nghiên cứu khi định nghĩa về câu chỉ
dựa vào một trong hai mặt quan trọng hoặc ý nghĩa hoặc hình thức. Chính vì
vậy họ đã đi theo hướng nghiên cứu mới là nghiên cứu dựa vào cả hai tiêu chí
là hình thức và ý nghĩa. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Diệp Quang


Ban, Lê Cận, Hồ Lê, Đỗ Thị Kim Liên, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim
Thản, Hoàng Văn Thung,..
Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Lê Xuân Thại, Diệp Quang Ban,
Hoàng Trọng Phiến cho kết cấu chủ - vị là nòng cốt của câu.
Diệp Quang Ban cho rằng: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có
cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang
một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc
người truyền đạt tư tưởng, tỉnh cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ
nhất bằng ngôn ngữ”.
Tác giả Hoàng Trọng Phiến có đưa ra định nghĩa về câu: “Với tư cách

trực thuộc theo sơ đồ sau:
PHÁT NGÔN
Có tính tình thái

Hoàn chỉnh về cấu trúc

Không hoàn chỉnh về cấu trúc

(Có tính vị ngữ)

(Không có tính vị ngữ

CÂU

Hoàn chỉnh về nội dung

CÂU TỰ NGHĨA

NGỮ TRỰC
THUỘC


Sơ đồ 1.1. [Phạm Văn Tình 2002:55]
Theo Trần Ngọc Thêm, “ngữ trực thuộc là phát ngôn không hoàn chỉnh
về cấu trúc”. Hơn nữa, nó lệ thuộc vào cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của phát
ngôn tự nghĩa đứng làm tiền đề. Và do vậy, các phát ngôn trực thuộc có chức
năng liên kết vô cùng chặt chẽ với chủ ngôn.
1.2. Mạch lạc và liên kết trong văn bản
1.2.1. Mạch lạc trong văn bản
Khái niệm mạch lạc đến nay vẫn có nhiều cách hiểu. Đã có nhiều quan

rằng: “Một trong những mục tiêu của người viết có kinh nghiệm là làm cho
các yếu tố khác nhau trong một văn bản hoà kết lại với nhau một cách thích
hợp để trở thành một chỉnh thể mạch lạc hoàn chỉnh. Đặc trưng kết hợp mang
tính văn này gọi là mạch lạc”.
Đến lượt mình, Galperin đã đưa ra nhận xét về mạch lạc trong văn bản
như sau: “Những phương tiện liệt kê của mạch lạc được xem là những
phương tiện logic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm logic triết
học, những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, quan hệ không
gian, nhân quả. Những phương tiện này được giải mã dễ dàng bởi vậy không
kìm giữ được sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hoặc


không muốn vẫn phát hiện ra sự tương ứng giữa các đơn vị đại diện được kết
chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc”.
Galperin đã hệ thống hoá một số dạng thức của mạch lạc trong văn bản
nghệ thuật như: mạch lạc liên tưởng, mạch lạc hiện tượng, mạch lạc bố cục kết cấu, mạch lạc tu từ, mạch lạc tiết điệu,...
Như vậy, Galperin khẳng định: “Mạch lạc là một phạm trù đặc trung
cho văn bản và định nghĩa mạch lạc là những hình thức liên kết riêng biệt,
đảm bảo thể liên tục (về thời gian hay không gian), sự lệ thuộc lẫn nhau giữa
các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể”.
1.2.1.2. Quan điểm về mạch lạc của các nhà nghiên cứu trong nước
Liên quan đến việc nghiên cứu mạch lạc, các nhà nghiên cứu về vấn đề
này ở Việt Nam chưa nhiều. Người đầu tiên khởi xướng đó là Trần Ngọc
Thêm với công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”, mặc dù tác giả
không đề cập đến mạch lạc trong liên kết nội dung. Ngoài ra còn phải kể đến
Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thị Việt
Thanh, Nguyễn Thị Thìn và một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học
viên cao học.
Từ điển tiếng Việt phổ thông (Viện Ngôn ngữ học - NXB Tp Hồ Chí
Minh) có định nghĩa về mạch lạc như sau: “Sự tiếp nối một trật tự hợp lý giữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status