Phát triển các khu công nghiệp theo hướng bền vững ở tỉnh ninh bình luận văn ths kinh tế 60 31 01 doc - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

----˜&™-----

NGUYỄN THỊ QUYÊN

PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở TỈNH NINH BÌNH
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Danh Tốn

HÀ NỘI – 2014



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS. TS Lê Danh Tốn. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, đảm
bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc , xuất xứ rõ
ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

:

GTSX

:

Giá trị sản xuất

GTXK

:

Giá trị xuất khẩu

KCN

:

Khu công nghiệp

KCNC

:

Khu công nghệ cao

KCX

:


1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu công nghiệp là một mô hình kinh tế hiện đại nhằm góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tiễn phát triển của các nước trên thế giới
những năm qua đã chứng tỏ rằng việc thành lập các KCN, KCX là một trong những giải
pháp quan trọng đối với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Từ năm 1991 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thí điểm và
triển khai xây dựng các KCN và KCX. Sau hơn 20 năm phát triển, mô hình KCN đã gặt
hái được những thành tựu to lớn, khẳng định được vai trò quan trọng trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy nhanh tiến trình hội nhập với nền kinh tế
khu vực và quốc tế. KCN thực sự là một sản phẩm mới của thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, còn không ít thách thức
đặt ra đối với sự phát triển của các KCN theo hướng bền vững. Điều này ảnh hưởng
không nhỏ đến mục tiêu phát triển bền vững ở nước ta.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở vùng cực nam Đồng bằng châu thổ sông Hồng
có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế và văn hoá giữa lưu
vực sông Hồng với lưu vực sông Mã, giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ với vùng núi
rừng Tây Bắc của Tổ quốc. Từ khi có chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây
dựng các KCN đến nay, Ninh Bình đã xây dựng và phát triển được 7 KCN và 6 cụm
công nghiệp, thu hút được nhiều dự án đầu tư trong nước và nước ngoài.
Quá trình phát triển các KCN ở tỉnh Ninh Bình đã đạt được một số thành
tựu góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, tạo điều
kiện cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, việc phát triển các KCN ở
tỉnh Ninh Bình còn nhiều hạn chế và bất cập. Việc phát triển các KCN ở tỉnh Ninh
Bình mang tính ổn định chưa cao, chưa đồng đều, mang tính tự phát, chưa đặt
trong mối quan hệ chặt chẽ với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, kéo theo
phát triển thiếu bền vững; hiệu quả kinh tế của các KCN trên địa bàn tỉnh còn bấp
bênh; cùng với sự phát triển của các KCN thì nhiều vấn đề xã hội và môi trường

1



2


đó đề xuất một số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các KCN,
KCX trong thời gian tới.[13]
- Lưu Đức Hải – Nguyễn Ngọc Sinh, “Quản lý môi trường cho sự phát
triển bền vững”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001. Cuốn sách trình
bày một cách có hệ thống và khoa học những vấn đề lý luận về phát triển bền
vững, đó là các định nghĩa, nội dung và mô hình phát triển bền vững, từ đó định
lượng hóa sự phát triển bền vững trên phạm vi quốc tế, quốc gia và địa phương
và chỉ ra nội dung của phát triển bền vững ở Việt Nam trong giai đoạn công
nghiệp hóa và hiện đại hóa. Cuốn sách đưa ra các khái niệm chung về quản lý
môi trường cho sự phát triển bền vững, các nguyên tắc, mục tiêu và các công cụ
để đánh giá, phân tích các vấn đề môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường như
thuế và phí môi trường, côta ô nhiễm, quỹ và ký quỹ môi trường, các khuyến
khích cưỡng chế thi hành luật môi trường…[32]
- Tháng 7/ 2006, nhân kỉ niệm 15 năm xây dựng các khu công nghiệp, khu
chế xuất, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức “Hội nghị - hội thảo quốc gia 15 năm
xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam” tại Long An
nhằm nhìn nhận lại những thành tựu đạt được, những hạn chế và kinh nghiệm xây
dựng và phát triển KCN, KCX ở nước ta, kiến nghị phương hướng và giải pháp
nhằm thúc đẩy phát triển, nâng cao chất lượng hoạt động của các KCN, KCX. Hội
thảo đã nhận được gần 100 bài viết và tham luận về vấn đề này của cả nước cũng
như của các tỉnh.[12]
- Luận văn Thạc sỹ (2007) của Nguyễn Cao Luận (Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh) với đề tài: “Phát triển các Khu công nghiệp ở Đà
Nẵng theo hướng bền vững” đã tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển các KCN
ở Đà Nẵng và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng,
giải quyết việc làm, các vấn đề xã hội, môi trường. Tuy nhiên, luận văn chủ yếu đề

thống, chuyên biệt về phát triển các KCN theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình.
Các công trình nghiên cứu ở nứớc ta về các KCN nói chung, phát triển các KCN
theo hướng bền vững nói riêng ở nước ta rất phong phú, các công trình này đã cung
cấp những luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc triển khai công tác phát triển các
KCN một cáchtheo hướng bền vững ở Việt Nam và là các dữ liệu cần thiết, có giá
trị tham khảo rất giá trị cho việc nghiên cứu đề đã được kế thừa và sử dụng như

4


những ý kiến gợi mở cho việc nghiên cứu đề tài “Phát triển các khu công nghiệp
theo hướng bền vững ở tỉnh Ninh Bình”.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN theo hướng bền
vững ở tỉnh Ninh Bình, luận văn đề xuất phương hướng vàcác giải pháp cơ bảnchủ
yếu nhằm thúc đẩy phát triển các KCN ở tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững .
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển các KCN bền
vữngcơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển các KCN bền vững
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển các KCN ở tỉnh Ninh Bình theo
hướng bền vững.
- Đề xuất phương hướng,những giải pháp cơ bảnchủ yếu nhằm thúc đẩy phát
triển các KCN ở tỉnh Ninh Bình theo hướng bền vững trong bối cảnh mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: sự phát triển các KCN theo hướng bền vững ở tỉnh
Ninh Bình nói chung cũng như ở các địa phương của tỉnh Ninh Bình nói riêng dưới
góc độ khoa học Kinh tế chính trị.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: luận văn nghiên cứu sự phát triển các
KCN ở tỉnh Ninh Bình từ khi tái lập tỉnh (năm 1992) đến nay, chịu trách nhiệm


6


7


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về phát triển khu công nghiệp bền vững
1.1.1. Khu công nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm
a) Khu chế xuất
Sau chiến tranh thế giới thứ II, vào thập kỷ 60, các khu chế xuất (KCX)
được thành lập ở nhiều nước nhằm tạo ra một khu vực chuyên sản xuất hàng
xuất khẩu, có vị thế mới, độc lập so với chế độ mậu dịch và thuế quan của
nước nhận đầu tư. Thuật ngữ KCX được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Điển
hình nhất là định nghĩa cảu của tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc
(UNIDO) và của Hiệp hội các KCX thế giới (WEPZA)
Theo quan điểm của Tổ chức công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) trong
tài liệu “KCX tại các nước đang phát triển” (Export Processing Zone in
Developing Countries) công bố năm 1990 thì “KCX là khu vực tương đối nhỏ
phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu t ư v ào
các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ng ành
công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so
với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Trong đó đặc biệt là KCX cho
phép nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miến thuế’’[187]
Theo quan điểm của Hiệp hội KCX thế giới (World Export Processing
Zone Association – WEPZA) “KCX không chỉ bao gồm khu vực công nghiệp

cao trong một khu vực có những điều kiện kinh tế, xã hội, địa lý gần gi ống
nhau.
- Không dễ đạt được các mục tiêu xuất khẩu, tạo nhiều công ăn vi ệc
làm, lợi dụng được kỹ thuật và công nghệ tiên tiến từ nước ngoài
- Các KCX phải cạnh tranh khốc liệt trong việc tìm kiếm thị trường tiêu
thụ ở nước ngoài do yêu cầu của việc tăng xuất khẩu hàng hóa và ngu ồn thu
ngoại tệ trong khi bị khép kín theo quy chế KCX đối v ới thị trường nội địa, nơi
có nhu cầu tiêu thụ tương đối lớn.

9


Nhìn chung các KCX có ảnh hưởng tích cực đến kinh tế của nhiều nước
đang phát triển. Tuy nhiên, do xu hướng tự do hóa thương mại và tự do hóa đầu
tư ngày càng tăng nên vai trò của mô hình KCX đã giảm dần, nhường b ước cho
mô hình mới thích hợp hơn.
b) Khu công nghiệp
Để khắc phục những hạn chế của mô hình KCX, nhiều nước đã chuy ển
sang xây dựng một loại hình kinh tế uyển chuyển hơn, năng động hơn, đó l à
mô hình KCN. Sự thay đổi này phù hợp với xu thế phát triển và mở c ửa của
nền kinh tế thị trường và quan hệ hợp tác kinh tế hiện đại.
Với mô hình KCN, thị trường nội địa trở thành yếu tố hấp dẫn đối v ới
các nhà đầu tư nước ngoài, hứa hẹn tiềm năng tiêu thụ rất lớn so với những
sản phẩm của các KCX vốn tương đối giống nhau cả v ề chủng loại v à ch ất
lượng. Điều này có tác dụng đẩy lùi, hạn chế hàng nhập lậu từ bên ngoài,
đồng thời kích thích cạnh tranh, nâng cao khả năng xuất khẩu hàng hóa ra
nước ngoài. Bên cạnh đó, mô hình KCN với chính sách m ở rộng thị tr ường n ội
địa ở các nước nhận đầu tư là phù hợp với xu hướng tự do mậu dịch khu vực và
thế giới.
Hiện nay trên thế giới có hai loại mô hình KCN chính, đi ều này tùy

cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính ph ủ th ành l ập, được
hưởng những ưu đãi thích hợp về sản xuất, xuất kh ẩu hàng hóa, có CSHT
thuận lợi, đảm bảo phục vụ cho việc sản xuất v à cung c ấp các d ịch v ụ liên
quan, bảo đảm sự phát triển bền vững.
1.1.1.2. Đặc trưng của KCN
Có thể thấy rằng khái niệm KCN là một khái niệm động, nó gắn liền v ới
các điều kiện cụ thể của nơi nó hình thành và phát triển. Theo cách hi ểu đó, có
thể thấy KCN có những đặc trưng sau:
- KCN là khu tập trung tương đối nhiều xí nghiệp trong một khu vực có
ranh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất. Vì vậy, các xí nghiệp
này có điều kiện thuận lợi để tiết kiệm tối đa chi phí sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm.
- Các xí nghiệp trong KCN thường được hưởng một quy chế riêng của
nhà nước và địa phương sở tại. Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ưu đãi,
tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển.

11


- KCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế qu ản lý thích
hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các doanh nghi ệp ho ạt
động.
- Khả năng hợp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp với nhau trong KCN
tùy thuộc vào sự liên kết với nhau giữa chúng trong quá trình phát tri ển để đạt
được hiệu quả cao.
- KCN thường có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm ha và
có thể được ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào cứng. Không có dân cư trong
KCN.
- Hoạt động chính trong KCN là hoạt động sản xuất công nghiệp.
1.1.1.3. Tiêu chí của KCN

thực vật. Càng về sau, bên cạnh các nội dung liên quan đến môi tr ường t ự
nhiên, khái niệm phát triển bền v ững c àng được bổ sung thêm các khía c ạnh
liên quan đến các vấn đề xã hội, nó bao chứa c ả s ự bình đẳng gi ữa nh ững
nước giàu và những nước nghèo và giữa các thế hệ.
Kể từ khi khái niệm này xuất hiện nó đã gây được sự chú ý và thu hút sự
quan tâm của toàn nhân loại. Năm 1992, tại Rio de Janeiro,các đại biểu tham gia
Hội nghị về môi trường và Phát triển của Liên hiệp quốc đã xác nhận lại khái
niệm này. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững
(Hội nghị Rio +10 tại Cộng hòa Nam Phi) đã bổ sung và hoàn chỉnh khái niệm
này. Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, đan xen, thỏa hiệp
nhau của 3 hệ thống tương tác lớn của thế giới: hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ xã
hội. Trên cơ sở nội dung phát triển bền vững nói trên, nhi ều lý thuy ết v à mô
hình phát triển bền vững được đưa ra và được bổ sung thêm các yếu t ố khác
như văn hóa, tôn giáo, chính trị…. Tuy nhiên, yếu tố chính của phát tri ển b ền
vững là sự phát triển hài hòa 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
Về kinh tế: tăng trưởng và phát triển lành mạnh của tất cả các ngành
kinh tế, đặc biệt là các ngành liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên, tạo
ra hàng hóa và dịch vụ liên tục.
Về xã hội: phải đạt được sự công bằng trong phân phối, cung c ấp đầy
đủ các dịch vụ xã hội, bao gồm y tế, giáo dục, công bằng gi ới tính, s ự tham gia
và trách nhiệm chính trị cho mọi người, đảm bảo sức khỏe, xóa đói gi ảm
nghèo, giảm thiểu các tệ nạn xã hội.
Về môi trường: sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, duy trì nguồn lực
ổn định, tránh khai thác quá mức hệ thống ngu ồn lực tái sinh hay nh ững v ận
động tiềm ẩn của môi trường. Khai thác có giới hạn nguồn tài nguyên thiên

13


nhiên không tái tạo được. Duy trì đa dạng sinh học, sự ổn định khí quy ển v à



Thứ hai, tiêu chí xã hội. Phát triển bền vững đòi hỏi tự do thực s ự của
các công dân về các thông tin về kế hoạch phát triển của Chính phủ v à chất
lượng môi trường họ đang sống.
Phát triển bền vững đòi hỏi sự công bằng về các quyền lợi xã hội như: có
công ăn việc làm, đảm bảo các quyền lợi kinh tế và xã hội khác, gi ảm b ớt hố
ngăn cách giữa người giàu và người nghèo trong xã hội,…
Phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi chính sách xã hội như: chính
sách trợ cấp, chính sách thuế để loại trừ xu hướng già hóa ở các xã hội phát
triển. Trong khi đó, đối với các nước kém phát triển và đang phát tri ển có nền
kinh tế yếu kém cần có các chính sách tổng hợp về hành chính - kinh tế - hỗ trợ
kỹ thuật và giáo dục để giảm tốc độ gia tăng dân số.
Phát triển bền vững đòi hỏi phải thay đổi các thói quen v à phong cách
sống có hại cho môi tr ường chung c ủa trái đất nh ư thói quen tiêu dùng lãng
phí của công dân các nước công nghi ệp phát tri ển , đặ c biệt là công dân Mỹ;
mê tín dị đoạn, bói toán,....
Phát triển bền vững đòi hỏi phải thiết lập các tập tục tiến bộ m ới thay
thế cho các tập tục lạc hậu cũ và xác lập các tập tục phù hợp v ới đi ều ki ện
sống đang ngày càng thay đổi theo hướng tiến bộ của con người. Cụ thể như:
mỗi người cần phải thay đổi các thói quen sống trong môi tr ường sinh thái nông
thôn bằng các thói quen lành mạnh của nền văn minh đô thị để thích ứng v à
phù hợp với quá trình đô thị hóa đang diễn ra trên trái đất.
Nền văn hóa của phát triển bền vững phải là “ văn hóa xanh”. V ăn hóa
xanh là nền văn hóa phù hợp với sự phát triển bền vững, đó là toàn bộ các hoạt
động văn hóa của con người dựa trên đạo đức thế giới về cuộc sống cộng
đồng. Văn hóa xanh thể hiện trong các vấn đề như: việc xây dựng CSHT nhà ở,
giao thông đô thị,…; các quan hệ xã hội của con người và thái độ của con người
đối với thiên nhiên. Văn hóa xanh còn thể hiện trong thái độ và hành vi của con
người hướng tới sự giảm nghèo đói, nâng cao chất lượng cuộc sống. Ý thức

quyết hài hòa các vấn đề xã hội, với bảo vệ, nâng cao chất lượng môi trường
sống và khai thác hợp lý các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên. Nói cách khác
Có quan điểm cho rằng phát triển các KCN theo hướng bền vững thì ngoài
việc ban hành chính sách thu hút đầu tư thuận lợi, cần phải quan tâm phát triển
bền vững các KCN ở cả vấn đề BVMT, nhà ở, điều kiện sống cho người lao
động và một điều quan trọng nữa là cần phát triển tốt nguồn nhân lực.

16


Có nhiều quan điểm khác nhau về phát triển KCN bền vững, quan ni ệm
chung nhất về phát triển các KCN bền vững là phát triển các KCN một cách
đồng bộ nhằm đạt được sự đồng bộ các mục tiêu về mặt kinh tế, giải quyết
các vấn đề xã hội và BVMT.
Tổng quan quan niệm nghiên cứu và thực tiễn hành động về phát triển
KCN theo hướng bền vững ở một số tổ chức và khu vực trên thế giới, có thể kết
luận rằng: Một KCN phát triển theo hướng bền vững khi nó đạt được một số tiêu
chuẩn sau:
- Phát triển bền vững thống nhất cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường
trong một khuôn khổ nhất định
- Nâng cao chất lượng cuộc sống con người
- Phát triển mà không để ảnh hưởng tới thế hệ sau
- Các KCN đều có quan hệ mật thiết với các vùng xung quanh
- Quy hoạch và quản lý thống nhất, đồng thuận ở mọi cấp
- Rủi ro về môi trường có thể chấp nhận được trong mục đích phát triển.
1.1.3.2. Nội dung của phát triển khu công nghiệp bền vững
Phát triển bền vững là một nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát tri ển b ền v ững các KCN
được đặt ra trong khuôn khổ quan niệm về phát triển bền vững đất nước có chú
ý đến những yếu tố đặc thù của các KCN. Theo cách hiểu như v ậy, phát tri ển

kinh tế, xã hội và môi trường của địa phương, khu vực có KCN.
Nội dung này được thể hiện trên các mặt cụ thể sau:
- Hoạt động của KCN tạo sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành
kinh tế theo xu hướng CNH, HĐH và hướng về xuất khẩu.
- Hoạt động của KCN có tác động tích cực trong việc phát triển CSHT
kinh tế, kỹ thuật và xã hội cho khu vực có KCN.
- Hoạt động của KCN có tác động tích cực đến giải quyết các đề xã hội,
mà tựu chung lại là vấn đề tăng cường khả năng giải quyết việc l àm và nâng
cao thu nhập cho dân cư trong vùng có KCN.
- Hoạt động KCN luôn gắn liền với các phương án BVMT trong khu v ực
có KCN, giảm thiểu tác động tiêu cực của ô nhiễm môi tr ường , cải thiện môi
trường sinh thái trong quá trình phát triển KCN.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status