ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ PHƯỚC
MẠNG LƯỚI
PHÁT THANH, TRUYỀN THANH CƠ SỞ
Ở CÁC TỈNH MIỀN TÂY NAM BỘ
- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
(dựa trên tư liệu khảo sát
ở Vĩnh Long và An Giang)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2010
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
6
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
6
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
7
13
1.1 Một số khái niệm cơ bản
13
1.1.1 Phát thanh và đài phát thanh
13
1.1.2 Truyền thanh và đài truyền thanh
15
1.1.3 Phát thanh, truyền thanh cơ sở
17
1.2 Mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở
17
1.2.1 Đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện
18
1.2.2 Đài truyền thanh cấp xã
19
31
2.1 Mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ
hiện nay
31
2.1.1 Khái quát về mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây
Nam Bộ
31
2.1.2 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Vĩnh Long
35
2.1.3 Mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở An Giang
39
2.2 Những đóng góp của phát thanh, truyền thanh cơ sở đối với các tỉnh
miền Tây Nam Bộ
43
2.2.1 Phát thanh, truyền thanh cơ sở là mạng lưới chân rết của phát thanh các cấp,
là nguồn thông tin phong phú, là cầu nối giữa lãnh đạo và bà con địa phương
43
2.4 Nguyên nhân những hạn chế của phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các
tỉnh miền Tây Nam Bộ
52
2.4.1 Phương thức quản lý chưa thực sự hiệu quả
52
2.4.2 Chất lượng đội ngũ
54
2.4.3 Chú trọng tuyên truyền, chưa thực sự hiểu thính giả và chú trọng đáp ứng nhu
cầu của thính giả
55
Tiểu kết chƣơng 2
59
4
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ
PHÁT TRIỂN PHÁT THANH, TRUYỀN THANH CƠ SỞ Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
3.2.2 Cần sự phối hợp hành động để nâng cao hiệu quả mạng lưới phát thanh, truyền
thanh cơ sở
66
3.2.3 Một số giải pháp cụ thể
68
Tiểu kết chƣơng 3
77
KẾT LUẬN
78
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
PHỤ LỤC
87
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính thời sự và lý do chọn đề tài
triển loại hình báo chí này. Đài tiếng nói Việt Nam tổ chức hệ phát thanh có
hình, lập kênh riêng chuyên về giao thông. Trên website của Đài quốc gia và
một số đài phát thanh tỉnh (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Vĩnh
Long…), thính giả có thể nghe trực tuyến cùng lúc với chƣơng trình đƣợc
phát sóng thực tế. Phƣơng thức làm phát thanh trực tiếp đƣợc ứng dụng ngày
càng rộng rãi ở nhiều đài.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các đài cấp huyện phần lớn chỉ hoạt
động đều đều, không ít đài chỉ duy trì công tác làm truyền thanh cầm chừng, ít
vận động phát triển.
Thực tế đó cho thấy cần có một khảo sát đầy đủ để nhìn nhận thực
trạng mạng lƣới phát thanh, truyền thanh ở cơ sở, từ đó đề xuất những khuyến
nghị, giải pháp để phát triển và hoàn thiện mạng lƣới phù hợp xu thế phát
triển báo chí, góp phần vào sự phát triển chung của báo phát thanh. Ngƣời
nghiên cứu chọn địa bàn Tây Nam Bộ, nơi mà Tổng giám đốc Đài tiếng nói
Việt Nam Vũ Văn Hiền nhận xét “sự bắt gặp giữa đặc tính vùng miền và nhu
cầu thông tin bằng loại hình báo chí phát thanh gần gũi hơn tất cả mọi vùng
khác trên cả nƣớc” để khảo sát thực hiện đề tài: “Phát thanh, truyền thanh cơ
sở ở miền Tây Nam Bộ - Thực trạng và giải pháp phát triển”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu “Phát thanh, truyền thanh cơ sở ở miền Tây Nam Bộ
- Thực trạng và giải pháp phát triển” nhắm đến mục tiêu khái quát đƣợc hiện
trạng của mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Tây Nam Bộ và đƣa ra
những giải pháp khả thi khắc phục những yếu kém hiện tại và nâng cao hiệu
quả hoạt động của mạng lƣới. Do đó, đề tài nghiên cứu là để phát triển, hoàn
7
thiện mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở trên địa bàn nhằm phục vụ
nhiệm vụ chính trị tại địa phƣơng.
Hoạt động nghiên cứu này nằm trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ phát
thanh địa phƣơng Việt Nam” do tổ chức SIDA (Swedish International
Development Cooperation Agency - Cơ quan Hợp tác Phát triển Quốc tế
Thụy Điển) tài trợ. Dự án đƣợc thực hiện qua 3 giai đoạn: thử nghiệm (19931995), giai đoạn 1 (1997-1999), giai đoạn 2 (2000-2003), tổng cộng trong gần
10 năm để chuyển giao phƣơng thức phát thanh hiện đại này đến 30 trong số
61 đài tỉnh, thành phố của Việt Nam.
Trung tâm đào tạo, bồi dƣỡng nghiệp vụ phát thanh của Đài Tiếng nói
Việt Nam cũng đã biên soạn sách “Hƣớng dẫn nghiệp vụ phát thanh, truyền
thanh địa phƣơng nông thôn”. Sách này đề cập những kiến thức tổng quát về
phát thanh, truyền thanh địa phƣơng nông thôn, hƣớng dẫn một số nghiệp vụ
về thực hiện chƣơng trình cũng nhƣ tổ chức, quản lý phát thanh, truyền thanh
địa phƣơng nông thôn.
Ở các tỉnh, trong đó có các tỉnh miền Tây Nam Bộ, nhiều tỉnh cũng
thực hiện những nghiên cứu, đề án về xây dựng và phát triển mạng lƣới phát
thanh, truyền thanh cơ sở. Ví dụ, đầu năm 2009, Sở Thông tin và Truyền
thông An Giang đã xây dựng “Đề án phát triển hệ thống đài truyền thanh cơ
sở đến năm 2010 và một số định hƣớng đến năm 2015”. Những nghiên cứu
dạng này chỉ khoanh vùng trong phạm vi một tỉnh.
Nhƣ vậy, chƣa có đề tài nào đi sâu khảo sát, nghiên cứu về mạng lƣới
phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực trạng mạng lƣới đài phát thanh, truyền thanh
cấp cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, dựa trên kết quả khảo sát lấy mẫu ở
hai tỉnh Vĩnh Long, An Giang và những khuyến nghị nhằm phát triển, hoàn
9
thiện mạng lƣới này.
Luận văn chú trọng khảo sát hiện trạng phát thanh, truyền thanh cơ sở ở
- Phƣơng pháp đối chiếu, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ngƣời nghiên cứu đã hình thành khung lý thuyết về mạng lƣới truyền thanh
cơ sở, khái quát về thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển mạng lƣới ở một
khu vực phù hợp với lý luận báo chí truyền thông.
Thực trạng mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở Tây Nam Bộ và
những khuyến nghị để phát triển mạng lƣới mà đề tài tổng kết sẽ hữu ích cho các
đài, trạm phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ và những cơ
quan liên quan trong việc nâng cấp, hoàn thiện mạng lƣới. Kết quả nghiên cứu của
đề tài cũng có thể ứng dụng cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý trong việc hoạch
định chính sách hoàn thiện, phát triển mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở
phục vụ nhiệm vụ chính trị.
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Phát thanh cơ sở - một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chƣơng này chứa đựng hệ thống kiến thức lý luận và thực tiễn để làm
cơ sở xem xét mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở dƣới góc độ một
phƣơng tiện truyền thông đại chúng với những đặc trƣng riêng phù hợp với
địa bàn nông thôn ở Tây Nam Bộ.
Sau khi giới thiệu các khái niệm phát thanh và đài phát thanh, truyền
thanh và đài truyền thanh, chƣơng 1 sẽ phác thảo mạng lƣới phát thanh,
truyền thanh cơ sở nói chung với những mắt lƣới từ các cấp huyện, thành phố
thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn đến tận các xã, ấp. Phần tiếp theo của chƣơng sẽ
trình bày về những điều kiện kinh tế - xã hội, về văn hóa, trình độ và thói
quen tiếp nhận thông tin của cƣ dân, từ đó đi sâu phân tích những điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của phát thanh, truyền thanh cơ sở ở địa phƣơng.
11
truyền, khái niệm báo phát thanh đƣợc dùng từ việc mở rộng và phát triển
khái niệm báo chí.
Khái niệm báo chí khởi nguyên đƣợc dùng để chỉ kênh truyền thông đại
chúng chuyển tải, phát tán thông điệp định kỳ bằng kỹ thuật in ấn trên vật liệu
giấy và mực với ký hiệu ngôn tự. Ngày nay, khái niệm báo chí đƣợc dùng để
chỉ các kênh truyền thông đại chúng chuyên phản ánh các sự kiện và vấn đề
thời sự đƣợc xuất bản định kỳ. Do đó, báo chí nói chung bao gồm báo in, báo
phát thanh, báo truyền hình và báo trực tuyến.
“Báo phát thanh đƣợc hiểu nhƣ một kênh truyền thông, một loại hình
báo chí điện tử hiện đại mà đặc trƣng cơ bản của nó là dùng thế giới âm thanh
phong phú và sinh động (lời nói, tiếng động, âm nhạc) để chuyển tải thông
điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động
vào thính giác của công chúng”. [12, tr.51]
TS. Phạm Thành Hƣng trong cuốn “Thuật ngữ báo chí truyền thông”
cũng đã định nghĩa phát thanh nhƣ sau:
“Phát thanh là một phƣơng tiện truyền thông đại chúng dựa trên nguyên
tắc kỹ thuật truyền âm thanh để chuyển tải các chƣơng trình tin tức, tri thức,
nghệ thuật tới đông đảo công chúng thính giả cũng nhƣ cho các nhóm thính
giả đặc thù”. [16, tr.132]
13
Qua lịch sử tồn tại hơn một thế kỷ, phát thanh đã xác lập vị trí là một
loại hình báo chí độc lập với những thế mạnh riêng - nhanh, rẻ, gần gũi và dễ
tiếp nhận đối với mọi đối tƣợng, mọi lứa tuổi, mọi vùng miền. Sự sinh động
của lời nói, âm nhạc, tiếng động truyền qua làn sóng điện đã từng đƣợc thính
giả đón nhận một cách nồng nhiệt, giúp phát thanh trải qua một thời hoàng
kim khá dài ở vị trí loại hình truyền thông đại chúng hiệu quả nhất trƣớc khi
đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của các loại hình xuất hiện sau.
Động từ truyền thanh đƣợc từ điển tiếng Việt định nghĩa là truyền âm
thanh đi xa bằng sóng điện từ hoặc bằng đƣờng dây (loa truyền thanh, đài
truyền thanh).
Tài liệu chuyên môn “Nghề phát thanh” (Making radio) của Michael
Kaye và Andrew Popperwell giải thích quá trình từ miệng nói của phát thanh
viên đến tai nghe của thính giả nhƣ sau:
- Dây thanh đới của ngƣời nói rung lên để tạo ra sóng âm thanh trong
không khí, sóng này lan truyền ra mọi hƣớng.
- Lúc đó, micro biến đổi các sóng âm thanh đó thành dòng điện chạy
vào dây dẫn đến…
- Bàn trộn, tại đó các âm thanh khác (từ micro khác, từ các đĩa hay
băng ghi âm) cũng đƣợc truyền đến. Từ bàn trộn này các âm thanh chạy theo
các dây dẫn đến…
- Máy phát, là nơi biến đổi các tín hiệu dƣới dạng dòng điện thành sóng
radio và thoát ra ngoài qua một hệ thống trên không trung là ăng ten. Máy
phát có thể là loại sóng dài, sóng trung hay sóng ngắn (AM) hoặc sóng tần số
rất cao (VHF, thƣờng đƣợc biết đến là FM - điều chế tần số).
- Các sóng này thƣờng truyền đi mọi hƣớng, và tới những khoảng cách
khác nhau tùy thuộc vào công suất và vị trí đặt máy phát, cũng nhƣ tần số
phát sóng và địa hình nơi phát sóng.
15
- Tiếp đó, ăng ten của máy thu thanh sẽ thu các sóng radio đƣợc phát ra
và các thiết bị điện tử trong máy thu sẽ biến đổi sóng đó thành tín hiệu âm
thanh. Loa và tai nghe lại chuyển các tín hiệu này thành sóng âm thanh.
- Sóng này có thể nghe đƣợc và phân tích bởi tai và trí não của ngƣời
nghe. [33, tr.12]
Nhƣ vậy, sóng âm thanh không trực tiếp truyền đến tai ngƣời nghe mà
Trƣớc đây, các đài truyền thanh sử dụng mạng đƣờng dây truyền thanh
cục bộ. Hiện nay, các đài thƣờng sử dụng các máy phát công suất thấp với
bán kính phủ sóng vài ki lô mét, các trạm thu phát FM trong khu dân cƣ sẽ
thu tín hiệu và phát trên hệ thống loa công cộng.
1.1.3 Phát thanh, truyền thanh cơ sở
Từ “cơ sở” đƣợc giải thích trong Từ điển tiếng Việt có khá nhiều nghĩa,
trong đó có một nghĩa là “đơn vị ở cấp dƣới cùng”.
Trong phạm vi đề tài này, khái niệm phát thanh – truyền thanh cơ sở
đƣợc dùng để chỉ chung cho mạng lƣới đài, trạm truyền thanh từ cấp huyện
trở xuống. Trong đó, mỗi đài truyền thanh huyện là một mắt xích trong mạng
lƣới truyền thanh để đồng thời phát (chƣơng trình của đài huyện nhà) và tiếp
phát lại chƣơng trình của những đài khác (chƣơng trình Đài Tiếng nói Việt
Nam, chƣơng trình đài tỉnh nhà). Trong mỗi huyện lại có các trạm truyền
thanh cấp xã chỉ thuần túy tiếp âm, tức là tiếp phát lại chƣơng trình đƣợc phát
sóng từ đài huyện, bao gồm chƣơng trình truyền thanh huyện, tỉnh và quốc gia
nhƣ đã liệt kê ở trên.
Đó chính là những mắt lƣới trong mạng lƣới phát thanh, truyền thanh
cơ sở sẽ đƣợc phân tích ở mục tiếp theo.
1.2
Mạng lƣới phát thanh, truyền thanh cơ sở
Ở mỗi tỉnh, sự phân bố rộng khắp các đài truyền thanh cấp huyện và
các trạm truyền thanh xã tạo thành một mạng lƣới truyền thanh cơ sở. Cả
nƣớc có 612 đài phát thanh, truyền thanh cấp huyện, trong đó có khoảng 288
đài phát sóng FM và 7916 đài truyền thanh cấp xã. [55, tr.12]
17
18
- Sản xuất và phát sóng hàng ngày các chƣơng trình, bản tin, chuyên
mục phản ánh các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của địa phƣơng.
- Tiếp âm bản tin thời sự của đài tỉnh và Đài Tiếng nói Việt Nam.
- Phục vụ nhu cầu thông tin của địa phƣơng từ thông tin về các văn bản,
quy định, chỉ thị, thông báo đến định hƣớng, chỉ đạo sản xuất nông nghiệp,
dịch vụ của địa phƣơng, giải đáp thắc mắc của cƣ dân địa phƣơng.
- Cộng tác tin bài cho đài phát thanh truyền hình tỉnh nhà.
- Rao vặt, quảng cáo – rất ít thực hiện.
- Ngoài ra, còn làm nhiệm vụ hỗ trợ các đài, trạm truyền thanh xã,
phƣờng, khóm, ấp trên địa bàn. [42, tr.11]
Hệ thống đài huyện trong những năm qua đƣợc xây dựng và duy trì
hoạt động từ nhiều nguồn kinh phí khác nhau, từ ngân sách địa phƣơng,
chƣơng trình mục tiêu của chính phủ, phần hỗ trợ của các dự án phát triển
phát thanh. Ở nhiều nơi còn có phần nhân dân tự đóng góp.
Nhìn chung, nguồn ngân sách cho các đài huyện đều thấp hơn nhiều so
với nhu cầu thực tế nên hoạt động nghiệp vụ rất khó khăn. Không những vậy,
các đài cấp huyện chƣa đƣợc công nhận là một cơ quan báo chí2 nên ngoại trừ
một số trƣởng, phó đài, các phóng viên, biên tập viên đƣợc ngành dọc quản lý
vẫn chƣa đƣợc cấp thẻ nhà báo để có điều kiện thuận lợi hơn trong hoạt động.
1.2.2 Đài truyền thanh cấp xã
Ở mỗi xã có lại có đài truyền thanh cấp xã. Đài truyền thanh xã thực
chất là mạng lƣới những trạm truyền thanh nội bộ xã, là các điểm thu phát để
tiếp âm chƣơng trình phát thanh các đài phát thanh ba cấp phát trên hệ thống
loa công cộng rải trong các khu dân cƣ.
Thông tƣ liên tịch 06/1997/TTLT-BVHTT-TCBĐ giữa Bộ Văn hóa – Thông tin và Tổng cục
Do đặc điểm cấu tạo tự nhiên, Nam Bộ chia làm hai khu vực lớn:
- Khu vực thứ nhất là miền Đông Nam Bộ, là vùng phù sa cổ đệm giữa
cao nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long, rộng khoảng 26.000 km2, gồm
các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dƣơng, Bình Phƣớc, Tây Ninh.
Địa hình nơi đây gồm những dải đất đỏ và xám xen kẽ giữa những ngọn núi
20
thƣa thớt, những triền đồi lƣợn sóng nhấp nhô, riêng phía Bắc tiếp giáp với
cao nguyên – rừng rậm.
Trong lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, khu vực này là nơi dừng chân đầu
tiên của nhiều đoàn lƣu dân từ miền ngoài vào, trƣớc khi di chuyển xa hơn về
phía Nam.
- Khu vực thứ hai thuộc châu thổ sông Cửu Long, diện tích 39.734km²,
có tên gọi quen thuộc là miền Tây Nam Bộ. Đây là vùng bình nguyên bát ngát
đƣợc tƣới tắm bởi một hệ thống kênh rạch dày đặc mà khắp đất nƣớc không
nơi nào có thể bì đƣợc. Nhìn chung, vùng này đƣợc khai phá muộn hơn.
Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở khu vực đệm giữa hai miền.
Bản đồ các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long.
21
Phân theo đơn vị hành chính, miền Tây Nam Bộ gồm 12 tỉnh và 1
thành phố trực thuộc trung ƣơng:
Tỉnh
TP trực
1
5
10
1
Trà Vinh
1
106
182
124
1306
13
9
15
166
8
Vĩnh Long
1
Đồng Tháp
1
2
9
17
8
119
An Giang
1
2
8
20
16
56
10
10
12
87
6
7
7
50
8
10
9
82
Cần Thơ
5
thể hiện rõ nét tính chất bán đảo của Việt Nam.
Đây là vùng có khí hậu cận xích đạo, mƣa nhiều, nắng nóng nên thuận
lợi phát triển ngành nông nghiệp, đặc biệt là phát triển trồng lúa nƣớc và cây
lƣơng thực. Lúa trồng nhiều nhất ở các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An,
Đồng Tháp, Sóc Trăng, Tiền Giang. Diện tích và sản lƣợng thu hoạch chiếm
hơn 50% so với cả nƣớc. Bình quân lƣơng thực đầu ngƣời gấp 3 lần so với
lƣơng thực trung bình cả nƣớc. Nhờ vậy nên Đồng bằng sông Cửu Long là
nơi xuất khẩu gạo chủ lực của cả nƣớc. Nghề chăn nuôi cũng khá phát triển.
Do có bờ biển dài và có sông Mê kông chia thành nhiều nhánh sông,
khí hậu thuận lợi cho sinh vật dƣới nƣớc, kênh rạch chằng chịt, nhiều sông
ngòi, lũ đem lại nguồn thủy sản và thức ăn cho cá, có nhiều nƣớc ngọt và
nƣớc lợ nên vùng này thích hợp cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy sản.
Các “miệt”, các tiểu vùng thiên nhiên với những đặc trƣng địa lý thổ
nhƣỡng khác nhau quy định các loại hình và tính chất của những hoạt động
sản xuất khác nhau: nghề ruộng, nghề sông, nghề biển... Các dạng hoạt động
sản xuất này quy định các dạng quần cƣ khác nhau, có cấu trúc phân bố
không đều: mật độ dày đặc ở những vùng đất cũ là nơi tụ hội của các giao lộ
đƣờng sông và đƣờng bộ (vùng giữa và ven sông Tiền, sông Hậu), mật độ
23
phân tán ở những vùng mà lũ sông và triền biển vẫn còn giữ vai trò chi phối
hệ sinh thái (các vùng Đồng Tháp Mƣời, tứ giác Long Xuyên, tây sông Hậu).
Công nghiệp vùng phát triển rất thấp, chỉ chiếm khoảng 20% GDP cả
nƣớc (2002).
Vùng đồng bằng rộng lớn, bằng phẳng, không vƣớng tầm mắt đến tận
chân trời này đã trải qua 300 năm khẩn hoang của ngƣời Việt. Từ thế kỷ thứ
17, ngƣời dân Việt với kinh nghiệm trồng lúa nƣớc bắt đầu sự nghiệp khẩn
hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long. Cƣ dân biến vùng đất này thành một
Hiện nay, tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ có nhiều dự án xây dựng
những điểm sinh hoạt văn hóa, giải trí nhƣ khu vui chơi Núi Cấm (An Giang),
trung tâm văn hóa Tây Đô (Cần Thơ)... Nhiều dự án nghiên cứu, bảo tồn văn
hóa vật thể, phi vật thể nhƣ nhạc lễ, múa dù kê, chợ nổi… đƣợc triển khai.
Tuy nhiên, nhìn chung các hoạt động vui chơi, giải trí vẫn còn rất
nghèo nàn, thiếu các tụ điểm sinh hoạt sôi nổi. Các khu du lịch sinh thái miệt
vƣờn nhàm chán, thiếu cái mới. Hầu hết nhà văn hóa, công viên không thu hút
đƣợc thanh thiếu niên vì hoạt động đơn điệu, không có diện tích lẫn nhân lực
để tổ chức sân chơi, mặt bằng đắc địa lại đƣợc đem cho thuê. Thiếu sân chơi,
nhiều thanh niên sa đà vào nhậu nhẹt.
Ở vùng sâu vùng xa nơi giao thông chƣa thuận tiện, ngƣời dân ít tiếp
cận đƣợc với sách báo. Mạng internet chỉ tập trung ở đô thị, cấp xã và vùng
nông thôn tỷ lệ rất thấp.
Mức sống và trình độ dân trí thấp của ngƣời dân cũng là trở ngại lớn
cho việc tiếp cận, hƣởng thụ văn hóa.
Các hoạt động văn hóa mới đang bị khủng hoảng, các hoạt động văn
hóa cổ truyền còn đậm tính tự phát, truyền thông đại chúng trở thành yếu tố
chủ đạo trong những thành tố cấu thành đời sống văn hóa ở nông thôn. Thực
tế, ngƣời dân đa phần hƣởng thụ văn hóa trong khuôn viên gia đình, chủ yếu
qua sóng truyền hình, phát thanh. Đây chính là một đặc điểm quan trọng trong
hƣởng thụ văn hóa của ngƣời miền Tây Nam Bộ.
25
Vai trò và tác động của truyền thông đại chúng, đặc biệt là của báo
truyền hình thể hiện ở các điểm:
- Làm thay đổi cơ cấu hoạt động rỗi của ngƣời dân nông thôn. Nếu
trƣớc đây ngƣời dân lúc rảnh rỗi thƣờng làm vƣờn hay sang chơi nhà hàng
xóm cùng trà rƣợu chuyện trò thì hiện nay họ chủ yếu coi tivi, nghe đài ngay