ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Vương Đình Hải
Giải pháp phát triển nguyên liệu thuốc lá ở miền Bắc
nước ta đến năm 2010
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Hà nội - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Vương Đình Hải
Giải pháp phát triển nguyên liệu thuốc lá ở miền Bắc
nước ta đến năm 2010
Luận văn Thạc sĩ
Mã Số: 60 34 05
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Văn Tâm
Hà nội - 2006
1
Từ đó, việc xây dựng giải pháp phát triển nguyên liệu thuốc lá của Việt
Nam nói chung và miền Bắc nói riêng trong những năm tới là hết sức cần thiết.
Từ sự cần thiết đó, tôi chọn đề tài luận văn là “ Giải pháp phát triển nguyên liệu
thuốc lá ở miền Bắc nước ta đến năm 2010”.
2. Tình hình nghiên cứu
Nguyên liệu thuốc lá miền Bắc chiếm một phần quan trọng trong sản xuất
thuốc lá điếu nội địa và góp phần xuất khẩu, đồng thời nó là cây trồng đem lại
thu nhập cao cho người nông dân các vùng trồng thuốc lá. Song chưa có một đề
tài khoa học nào nghiên cứu về vấn đề đẩy mạnh phát triển nguyên liệu thuốc lá
ở miền Bắc nước ta.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến lĩnh vực đầu tư
sản xuất, chế biến, tiêu thụ nguyên liệu thuốc lá ở miền Bắc.
Việc phát triển nguyên liệu thuốc lá đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội đối
với người nông dân, các công ty sản xuất thuốc lá và Nhà nước.
Từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển nguyên liệu thuốc lá ở miền Bắc
nước ta đến năm 2010.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nguyên liệu thuốc lá vàng sấy lò, các công ty đầu
tư sản xuất nguyên liệu thuốc lá và nông dân các vùng trồng thuốc lá.
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng phát triển nguyên liệu thuốc lá giai đoạn
2001 – 2005 và một số giải pháp đến năm 2010 ở miền Bắc nước ta.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp thống kê, phân
tích tổng hợp, phân tích so sánh, phương pháp thực chứng.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử làm công cụ chủ đạo
3
Cây thuốc lá là cây đem lại lợi nhuận cao cho người trồng, bình quân lợi
nhuận đạt từ 25% đến 40%.
Phát triển nguyên liệu thuốc lá là việc đầu tư cơ sở vật chất, khoa học kỹ
thuật từ khâu gieo trồng, hái sấy, bảo quản chế biến và tiêu thụ để phát triển diện
tích vùng trồng, nâng cao năng suất, chất lượng nguyên liệu nhằm đáp ứng nhu
cầu của thị trường (các nhà máy thuốc lá điếu trong nước và xuất khẩu).
1.1.2. Một số đặc điểm của sản xuất nguyên liệu thuốc lá
Sản xuất nguyên liệu thuốc lá là sự kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và
công nghiệp, quy trình sản xuất phức tạp, yêu cầu về ứng dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ cao.
5
Quy trình sản xuất nguyên liệu thuốc lá gồm bốn giai đoạn: trồng và
chăm sóc đồng ruộng; sơ chế; thu mua; chế biến, bảo quản và tiêu thụ nguyên
liệu.
Sơ đồ 1.1. Quy trình sản xuất nguyên liệu thuốc lá
Trồng
Sơ chế
Thu mua
nguyên
liệu
Chế biến,
bảo quản
xuất nguyên liệu thuốc lá, nhằm chủ động cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào
để sản xuất sản phẩm thuốc lá. Điều này diễn ra chủ yếu là để giảm chi phí sản
xuất và làm tăng thêm giá trị sản phẩm.
Canh tác cây thuốc lá đòi hỏi nhiều nhân công, song trong quá trình thu
hoạch người ta có thể thực hiện việc cơ giới hoá , tuy nhiên vẫn còn một số nước
việc cơ giới hoá sẽ không khả thi và không kinh tế do nhiều nguyên nhân khác
nhau.
Do thuốc lá sau khi thu hoạch cần phải được sơ chế ngay để đảm bảo độ
chín “kỹ thuật” của lá thuốc, nên các lò sấy và khu phân loại thuốc lá phải được
đặt gần các cánh đồng thuốc lá.
7
1.1.3. Vai trò phát triển nguyên liệu thuốc lá
1.1.3.1. Đối với nông dân vùng trồng thuốc lá
Việc phát triển sản xuất nguyên liệu thuốc lá tạo công ăn việc làm ổn định,
nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần tích cực trong việc phát triển
kinh tế nông thôn, làm cho bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc. Thúc đẩy các
ngành nghề khác ở nông thôn cùng phát triển như xây dựng, thương mại, dịch
vụ, tạo điều kiện cho thị trường ở nông thôn phát triển, giúp nông dân địa
phương ở các vùng trồng thuốc lá từ chỗ thiếu ăn đi đến ổn định cuộc sống, có
tích luỹ, xây dựng nhà cửa và mua sắm phương tiện giải trí, phương tiện đi lại và
công cụ phục vụ sản xuất.
Lợi ích từ trồng cây thuốc lá đem lại thường cao hơn so với trồng các loại
cây nông nghiệp khác.Thuốc lá chủ yếu được trồng ở vùng núi và trung du
những nơi trình độ canh tác hạn chế, đất đai không màu mỡ, điều kiện canh tác
khó khăn. Cây trồng nông nghiệp chính là lúa, ngô, năng xuất thấp, giá thành
không cao, thu nhập từ trồng các loại cây này chỉ đem lại 8 đến 10 triệu
đồng/ha/vụ. Trong khi đó, trồng cây thuốc lá với năng suất trung bình 1,3 đến
hiện qua các vùng như sau:
Bảng 1.1. Hiệu quả của cây thuốc lá so với các cây trồng khác
Tổng chi
STT
Loại cây trồng
phí SX
(đ/ha)
Tỷ suất lợi
Tổng thu
Lợi nhuận
nhập (đ/ha)
(đ/ha)
27.000.000
14.000.000
108
nhuận/ vốn
đầu tư (%)
9
Qua bảng trên ta thấy hiệu quả đem lại từ việc trồng thuốc lá cao hơn
nhiều so với trồng các cây trồng khác, lợi nhuận trồng thuốc lá gấp 4,67 lần so
với trồng cây lúa nước và gấp 4 lần so với trồng ngô.
Ở miền núi phía Bắc nếu không trồng thuốc lá, người nông dân chỉ trồng
một vụ lúa còn lại đất bị bỏ hoang. Việc phát triển sản xuất nguyên liệu thuốc lá
giúp cho tăng vòng quay sử dụng đất, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng ở
các địa phương, thực hiện đẩy mạnh công tác xoá đói giảm nghèo.
Phát triển sản xuất nguyên liệu thuốc lá góp phần giảm nhập khẩu đẩy
mạnh xuất khẩu, có ý nghĩa quan trọng trong việc rút ngắn khoảng cách nhập
siêu, tiến tới cân đối xuất – nhập.
* Hiệu quả xã hội
Sản xuất nguyên liệu thuốc lá giải quyết lượng lao động rất lớn, tăng thu
nhập cho người trồng, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống dân cư,
đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo cho bà con nông dân vùng sâu vùng xa. Làm cho
bộ mặt nông thôn các tỉnh miền núi ngày càng đổi thay, tạo điều kiện ổn định an
ninh quốc phòng tại các tỉnh biên giới.
Công tác đầu tư sản xuất nguyên liệu thuốc lá thông qua hợp đồng giữa
các công ty thuốc lá và người nông dân nhằm thực hiện tốt chủ trương của Chính
phủ trong việc tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp và nông nghiệp, tăng
cường mối liên minh công – nông. Từng bước góp phần thay đổi cơ cấu cây
trồng, phân bố lại lao động, phát triển cơ sở hạ tầng tại các địa phương vùng
trồng nguyên liệu.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá phát triển nguyên
liệu thuốc lá
1.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng
1.2.1.1. Yếu tố khách quan
Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho cây thuốc lá đạt
được những nét đặc thù về chất lượng theo từng vùng địa lý khác nhau. Nói đến
11
khí hậu là nói đến mối tương quan giữa nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời. Cây
thuốc lá là cây ngắn ngày, ưa ánh sáng trực tiếp. Việt Nam là nước có khí hậu
nhiệt đới, vì vậy cường độ bức xạ mặt trời tại các vùng trồng thuốc lá tại nước ta
hiện nay khá thích hợp cho cây thuốc lá sinh trưởng và phát triển. Nhiệt độ là
một yếu tố cần thiết cho sự nẩy mầm, sinh trưởng và phát triển cây thuốc lá đồng
thời quyết định quá trình chín của lá thuốc. Thực nghiệm cho thấy, nhiệt độ cần
thiết cho cây thuốc lá sinh trưởng và phát triển từ 200 đến 300, ở nhiệt độ 250 –
280 là nhiệt độ lý tưởng nhất cho cây thuốc lá sinh trưởng và phát triển
* Điều kiện kinh tế – xã hội
Dân số đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nguyên liệu thuốc lá, số
lượng và chất lượng lao động là những yếu tố cần thiết để thúc đẩy sản xuất. Sản
xuất nguyên liệu thuốc lá đòi hỏi áp dụng khoa học kỹ thuật cao hơn so với các
cây trồng khác vì vậy những vùng có trình độ dân trí cao sẽ tiếp thu được sự
chuyển giao khoa học kỹ thuật tốt hơn những vùng có trình độ dân trí thấp. Thu
nhập và mức sống của người nông dân
Cơ sở hạ tầng vùng trồng cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nguyên
liệu thuốc lá. Việc sản xuất nguyên liệu thuốc lá đòi hỏi phải có sự vận chuyển
vật tư phân bón, than sấy, thuốc lá lá với số lượng lớn,` vì vậy cần phải chuyên
chở bằng cơ giới hoá, do đó những vùng giao thông đi lại khó khăn sẽ hạn chế
việc phát triển sản xuất nguyên liệu thuốc lá. Cây thuốc lá không cần nhiều nước
và sức chịu hạn của nó khá tốt nhưng duy trì đủ độ ẩm và thường xuyên thì sẽ
giúp cho cây thuốc lá phát triển tốt, tạo điều kiện tăng năng suất và chất lượng
nguyên liệu.Chính bởi đặc tính này của cây thuốc lá mà yếu tố hệ thống thuỷ lợi
phát triển cũng là một yếu tố cần thiết cho việc phát triển sản xuất nguyên liệu
nguyên liệu thuốc lá. Nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng sản xuất.
Chỉ tiêu này được gọi là phát triển khi nó ổn định và tăng trưởng qua các năm
sản xuất theo nhu cầu thị trường và kế hoạch của các công ty nguyên liệu thuốc
lá.
13
Mỗi giống thuốc lá cho năng suất sản xuất khác nhau và mỗi vùng trồng
cũng cho một năng suất sản xuất khác nhau. Nhưng chỉ tiêu năng suất được đánh
giá là phát triển khi nó đạt được năng suất tối đa của giống đó, đối với quy định
ở mỗi vùng trồng ví dụ như thuốc lá vàng sấy C176 trồng ở Lạng Sơn có năng
suất tối đa là 1,8 tấn/ha, trồng ở Bắc Giang là 2,2 tấn/ha (nguyên liệu sau khi
sấy).
Sản lượng là yếu tố kết tinh từ diện tích trồng và năng suất sản xuất. Do
vậy chỉ tiêu này được đánh giá là phát triển khi hai yếu tố trên phát triển.
1.2.2.2. Chỉ tiêu về chất lượng
Chất lượng nguyên liệu là yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng thuốc lá
điếu. Chất lượng nguyên liệu thuốc lá phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó
giống, vị trí địa lý vùng trồng, kỹ thuật canh tác và kỹ thuật sơ chế đóng vai trò
quan trọng. Song chỉ tiêu về chất lượng được đánh giá theo các tiêu chí sau:
* Chỉ tiêu về lý hoá
Trong sản xuất thuốc lá điếu, tuỳ theo từng mác thuốc, các nhà sản xuất có
các yêu cầu khác nhau về thành phần hoá học cho từng chủng loại nguyên liệu
để có được giải pháp phối chế tối ưu cho mác thuốc đó. Vì vậy việc đặt giới hạn
cho thành phần hoá học của từng loại nguyên liệu chỉ có ý nghĩa tương đối. Giới
hạn dưới đây thường được sử dụng cho thuốc lá nguyên liệu vàng sấy lò:
+ Nicotin:
dưới 20 điểm.
Căn cứ vào các tiêu chí trên có thể đánh giá chất lượng thuốc lá vàng sấy
thành 2 vùng:
+ Vùng A: có điểm bình hút từ 38 điểm trở lên, gồm các tỉnh: Cao Bằng,
Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Sơn La, Lào Cai, huyện Võ Nhai
– Tỉnh Thái Nguyên. Nhóm này có chất lượng tương đối tốt, có hương thơm đặc
trưng, vị đậm dễ chịu, hơi nóng, nặng vừa phải, cháy tốt, tàn trắng, phù hợp cho
phối chế thuốc điếu trung, cao cấp.
+ Vùng B: có điểm hút dưới 38 điểm, gồm các tỉnh Bắc Giang, Thanh
Hoá, Hà Nội, Hà Tây … có chất lượng trung bình, hương thơm trung bình, hơi
tạp, vị hơi đắng, độ cháy trung bình, tàn xám trắng, chủ yếu sử dụng làm chất
độn trong phối chế thuốc điếu.
* Chỉ tiêu cấp loại nguyên liệu
Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phát triển nguyên liệu thuốc lá.
Dựa vào cấp loại thuốc lá, các nhà máy thuốc lá điếu có thể phối chế các mác
thuốc khác nhau theo một công thức nhất định. Để sản xuất thuốc lá điếu cấp cao
cần phải có nguyên liệu thuốc lá cấp cao. Hơn nữa, thuốc lá cấp cao có giá trị
cao hơn nhiều thuốc lá cấp thấp, khi sản xuất được nhiều thuốc lá cấp cao thì
hiệu quả kinh tế của người trồng thuốc lá cũng như các công ty đầu tư sản xuất
thuốc lá sẽ cao hơn. Vì vậy, tỷ lệ cấp cao trong sản xuất nguyên liệu thuốc lá
tăng lên càng nhiều và tỷ lệ này đạt từ 85% trở lên thì được đánh giá là sản xuất
nguyên liệu thuốc lá phát triển.
15
Căn cứ vào vị trí lá, kích thước, màu sắc, độ tổn thương sâu bệnh, độ tổn
thương cơ học, màu tạp và một số chỉ tiêu khác (độ dầu dẻo, độ dầy, độ mịn) để
phân biệt cấp loại nguyên liệu thuốc lá. Theo tiêu chuẩn phân cấp nguyên liệu
16
liệu thuốc lá trong nước, nhằm sản xuất ra các loại nguyên liệu có chất lượng cao
đạt phẩm cấp quốc tế. Đồng thời khuyến khích vào lĩnh vực chế biến nguyên liệu
thuốc lá để thay dần nguyên liệu cao cấp nhập khẩu và hướng tới xuất khẩu,
giảm kim ngạch nhập khẩu và tăng thu cho ngân sách Nhà nước.
1.3.1.2. Chính sách khuyến khích xuất khẩu
Để khuyến khích xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá, giảm dần sự chênh lệch
giữa xuất khẩu và nhập khẩu trong lĩnh vực này, chính sách ưu đãi thuế quan,
miễn thuế xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá sẽ giúp cho các doanh nghiệp trong
nước giảm chi phí xuất khẩu và như vậy sản phẩm xuất khẩu sẽ có ưu thế cạnh
tranh hơn. Chính sách cho vay vốn đầu tư xuất khẩu với lãi suất ưu đãi từ quỹ hỗ
trợ xuất khẩu của Nhà nước và hỗ trợ vốn lưu động cho các doanh nghiệp thực
hiện công tác xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá, chính sách thưởng cho những sản
phẩm xuất sang những thị trường mới hoặc quy định các thủ tục xuất nhập khẩu
thông thoáng là những chính sách động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp trong công tác xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá.
1.3.1.3. Chính sách bảo hộ vùng trồng trong nước
Chúng ta đang chuẩn bị gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, sau
khi gia nhập chính thức, các sản phẩm sản xuất trong nước nói chung và sản
phẩm của ngành thuốc lá nói riêng sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh gay gắt ngay
tại thị trường nội địa. Do đó chính sách bảo hộ nguyên liệu vùng trồng trong
nước vô cùng quan trọng trong việc phát triển nguyên liệu thuốc lá.
1.3.1.4. Các chính sách và giải pháp về tài chính để đầu tư phát triển
nguyên liệu thuốc lá
Các công ty đầu tư trồng cây thuốc lá chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, do đó hạn chế về vốn và khả năng đầu tư. Việc hỗ trợ về mặt tài chính của
Chính phủ đối với các công ty này là hết sức quan trọng, nó góp phần thúc đẩy
liệu thuốc lá là rất cần thiết.
18
Muốn có được sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng thì người nông dân cần
phải thực hiện tốt quy trình kỹ thuật sản xuất từ khâu gieo trồng, hái sấy và phân
cấp, giúp cho các nhà đầu tư thực hiện được mục tiêu đầu tư của mình là mua
được nguyên liệu thuốc lá đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng. Như vậy
liên minh công nông ngày càng gắn kết, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển sản
xuất nguyên liệu thuốc lá
Ngoài ra, việc thực hiện nghiêm túc các điều khoản đã ký kết trong hợp
đồng kinh tế giữa nông dân với các nhà đầu tư cũng góp phần đẩy mạnh sản xuất
phát triển như việc bán hết sản phẩm trên diện tích đã ký hợp đồng và trả hết tiền
đầu tư ứng trước cho các công ty đầu tư sản xuất nguyên liệu, tạo lòng tin cho
các nhà đầu tư tiếp tục thực hiện đầu tư trong những năm tiếp theo.
1.4. Kinh nghiệm một số nước về phát triển nguyên liệu thuốc lá
1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là nước sản xuất thuốc lá lớn nhất trên thế giới. Trong những
năm gần đây, sản lượng bình quân trên 2,3 triệu tấn/năm. Thuốc lá được trồng
tập trung ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc như: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng
Đông…. Trung Quốc hiện có khoảng 300 triệu người nghiện thuốc lá, sản xuất
và tiêu thụ khoảng 1.800 tỷ điếu thuốc/năm. Ngành snả xuất thuốc lá có quan hệ
đến số công nhân làm việc trong 200 nhà máy thuốc lá điếu và 10 triệu nông dân
trồng thuốc lá.
Để có thể quản lý ngành thuốc lá từ Trung ương đến địa phương, năm
1981 Chính phủ Trung Quốc đã ban hành một số quy định về quản lý ngành
thuốc lá, đến tháng 1/1982 thành lập Tổng công ty thuốc lá và tháng 1/1984
thành lập cục độc quyền thuốc lá Nhà nước. Cục độc quyền thuốc lá Nhà nước là
đơn vị hành chính cao nhất quản lý ngành thuốc lá, trực thuộc quốc vụ viện
hoá cao, thực hiện lập kế hoạch từ khâu trồng nguyên liệu, sấy lá, sản xuất sản
phẩm thuốc lá điếu, kinh doanh và xuất nhập khẩu sản phẩm thuốc lá.
20
Hàng năm, cục độc quyền Nhà nước xem xét, nghiên cứu nhu cầu thị
trường chỉ đạo Cục Độc quyền các địa phương xây dựng kế hoạch sản xuất kinh
doanh, có căn cứ vào điều kiện thực tế của mỗi tỉnh. Sau đó Cục Độc quyền
Trung ương tổng hợp thành kế hoạch của toàn ngành trình Uỷ ban Kế hoạch Nhà
nước xem xét phê duyệt.
Sau khi tiến hành thẩm định trên cơ sở đề nghị của Cục Độc quyền thuốc
lá Nhà nước, Uỷ ban Nhà nước sẽ phê duyệt và giao kế hoạch cho các tỉnh. Căn
cứ vào kế hoạch được giao, các đơn vị triển khai trồng nguyên liệu và sản xuất
thuốc lá điếu và chỉ được phép trong kế hoạch được giao. Tuy nhiên, cũng có sự
điều chỉnh kế hoạch tuỳ vào tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
trong quá trình thực hiện kế hoạch.
Mỗi nhà máy sản xuất thuốc lá điếu được giao cho sản xuất vài nhãn thuốc
nhất định, trường hợp phát triển sản phẩm mới phải báo cáo cho cục độc quyền.
+ Quản lý có giấy phép: Theo Luật độc quyền thì tất cả 9 loại sản phẩm
gồm thuốc điếu, thuốc xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lá sấy lại, thuốc lá, giấy vấn
thuốc lá, đầu lọc, sợi làm đầu lọc, thiết bị chuyên dùng trong ngành thuốc lá đều
phải có giấy phép sản xuất kinh doanh.
+ Quản lý về thuế và giá cả: thực hiện chính sách đánh thuế cao để quản
lý. Giá mua bán nguyên liệu thuốc lá do Uỷ ban Vật giá Nhà nước ban hành trên
cơ sở đề nghị của Cục độc quyền thuốc lá, giá này được quy định cho từng vùng
theo từng cấp loại (hiện nay có 40 cấp thuốc lá lá).
1.4.2. Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ là nước xếp thứ 3 sau Trung Quốc và Mỹ về sản xuất thuốc lá.
Diện tích trồng hàng năm khoảng 450.000 ha, sản lượng khoảng 700.000 tấn;
độc quyền quốc gia, cũng như các hãng độc quyền sản xuất thuốc lá điếu, chế
biến nguyên liệu thuốc lá… được hình thành nhằm khai thác triệt để lợi ích kinh
tế của thuốc lá.
22
Các nước đang phát triển có xu hướng sản xuất thuốc lá nguyên liệu tăng
hơn các nước phát triển.
1.4.4.2. Tình hình sản xuất và xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá
* Tình hình sản xuất nguyên liệu thuốc lá
Hệ thống sản xuất cây thuốc lá rất khác nhau: Từ những nông trại lớn đến
các hộ gia đình nhỏ. Đặc trưng trong sản xuất nhỏ là sử dụng nhiều lao động còn
cơ giới hoá sử dụng ít hoặc không sử dụng, trong khi đó ở những nông trại lớn
thì hạn chế sử dụng lao động và sản xuất chủ yếu bằng cơ giới hoá (chủ yếu sử
dụng lao động theo mùa vụ). Ở những nông trại lớn việc áp dụng khoa học kỹ
thuật để thúc đẩy sản xuất phát triển là yếu tố hết sức quan trọng ví dụ như việc
bón phân, sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh…; còn các hộ gia đình sản xuất
nhỏ, công tác đầu tư khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Do đó, ở
những nông trại lớn, năng suất lao động và hiệu quả trồng cây thuốc lá thường
cao hơn các hộ sản xuất nhỏ.
Hai yếu tố sản xuất nổi bật trong việc trồng cây thuốc lá là đất đai và lao
động. Hai yếu tố này phải phối hợp bằng nhiều cách khác nhau tuỳ thuộc vào sự
khan hiếm tương đối của chúng.
* Xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá
Các quốc gia xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá kể cả quốc gia xuất khẩu
nhiều nhất cũng cần phải nhập khẩu một khối lượng nguyên liệu thuốc lá cần
thiết để sản xuất thuốc lá trong nước. Lý do có thể là nhập khẩu nguyên liệu để
sản xuất các nhãn thuốc lá ngoại nhập hoặc dùng để phối chế với các loại nguyên
liệu trong nước tạo ra những sản phẩm thuốc lá đặc trưng riêng.