Phát triển sản phẩm tài chính quản lý rủi ro tới phụ nữ nghèo ở nông thôn trong các tổ chức tài chính vi mô tại việt nam - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

DƯƠNG NGỌC LINH

Phát triển sản phẩm tài chính quản lý rủi ro
tới phụ nữ nghèo ở nông thôn trong các tổ chức
tài chính vi mô tại Việt Nam

luËn v¨n th¹c sÜ
KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ

Hµ néi – 2006


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

DƯƠNG NGỌC LINH

Phát triển sản phẩm tài chính quản lý rủi ro
tới phụ nữ nghèo ở nông thôn trong các tổ chức
tài chính vi mô tại Việt Nam
Mã số

: 60.34.05

luËn v¨n th¹c sÜ
KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Đình Tự

1.2.1.2.Rủi ro và áp lực kinh tế ................................................................................. 24
1.2.1.3.Các biện pháp đối phó với rủi ro ................................................................... 27
1.2.2.Các sản phẩm tài chính quản lý rủi ro:............................................................. 29
1.2.2.2.Khái niệm: ..................................................................................................... 29
1.2.2.2.Các loại sản phẩm tài chính quản lý rủi ro:................................................... 30
1.2.3.Tổ chức TCVM và sản phẩm tài chính quản lý rủi ro: .................................... 32
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO, ÁP LỰC KINH TẾ VÀ CÁC SẢN PHẨM
TÀI CHÍNH QUẢN LÝ RỦI RO CHO PHỤ NỮ NGHÈO TRONG CÁC TỔ
CHỨC TCVM TẠI VIỆT NAM ............................................................................... 35
2.1.Thực trạng rủi ro và áp lực kinh tế mà phụ nữ nghèo trong các tổ chức TCVM
gặp phải và cách thức họ sử dụng để đối phó với vấn đề này. .................................. 35


2

2.1.1.Giới thiệu về đợt khảo sát ................................................................................ 35
2.1.2. Khái quát về hai tổ chức TCVM đƣợc chọn để khảo sát ............................... 35
2.1.3. Kết quả khảo sát: ............................................................................................ 36
2.1.3.1. Những rủi ro và áp lực kinh tế chính ........................................................... 36
2.1.3.2.Những biện pháp đƣợc sử dụng để đối phó với rủi ro và áp lực kinh tế ...... 45
2.2.Tình hình cung cấp các sản phẩm tài chính quản lý rủi ro hiện nay cho phụ nữ
nghèo ở Việt Nam ..................................................................................................... 57
2.2.1.Bảo hiểm .......................................................................................................... 57
2.2.1.1.Giới thiệu bảo hiểm ....................................................................................... 57
2.2.1.2.Các sản phẩn bảo hiểm hiện có ở Việt Nam: ................................................ 58
2.2.2. Tiết kiệm ......................................................................................................... 69
2.2.2.1. Giới thiệu...................................................................................................... 69
2.2.2.2. Các sản phẩm tiết kiệm hiện có ở Việt Nam. ............................................... 69
2.2.2.3. Nhận xét về việc cung cấp sản phẩm tiết kiệm cho các hộ gia đình có thu
nhập thấp ở Việt Nam ............................................................................................... 72

3.1.2.Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và xoá đói giảm nghèo…………………...87
3.1.3.Định hƣớng và giải pháp chủ yếu phát triển ngành, lĩnh vực đảm bảo sự tăng
trƣởng bền vững và xoá đói giảm nghèo…………………………………………...88
3.1.4. Địn h hƣớng v à chiến lƣợc hoạt đ ộng của T CVM ở n ƣớc ta trong
thời gian t ới … …… ………… ……… … ………… ……… … ………… …92
3.2.Một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát triển sản phẩm tài chính quản lý rủi ro
cho phụ nữ nghèo ở nông thôn và hoạt động TCVM chính thức ở nƣớc
ta…………………… ................................................................................................ 95
3.2.1.Những giải pháp nhằm phát triển sản phẩm quản lý rủi ro trong các tổ chức
TCVM

................................................................................................................ 95

3.2.1.1.Phát triển sản phẩm Tiết kiệm với những loại hình phù hợp với phụ nữ
nghèo

................................................................................................................ 95

3.2.1.2.Phát triển hình thức vốn vay khẩn cấp ........................................................ 101
3.2.1.3.Phát triển sản phẩm Bảo hiểm với một số loại hình và cách làm phù hợp . 106
3.2.1.4.Giải pháp về qui trình phát triển sản phẩm mới .......................................... 113
3.2.2.Những kiến nghị nhằm phát triển hoạt động TCVM chính thức tại
Việt Nam .............................................................................................................. 114
3.2.2.1.Đối với Chính phủ: ...................................................................................... 115
3.2.2.2.Đối với các nhà tài trợ ................................................................................. 117
3.2.2.3.Đối với NHNN ............................................................................................ 118
3.2.2.4.Đối với các tổ chức TCVM ......................................................................... 119
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 121





5

chức khác đối với họ và từ đó xem xét khả năng đẩy mạnh các sản phẩm tài chính
đó trong thời gian tới.
Với những lý do trên đây, học viên đã lựa chọn vấn đề “Phát triển sản phẩm tài
chính quản lý rủi ro tới phụ nữ nghèo ở nông thôn trong các tổ chức TCVM tại
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu hoàn thành luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua ở nuớc ta đã có một số nghiên cứu, bài viết đề cập đến hoạt
động của các Tổ chức TCVM trong việc hỗ trợ các hoạt động cho ngƣời nghèo. Tuy
nhiên các công trình nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến tác động và ảnh hƣởng của
hoạt động tài chính qui mô nhỏ với việc giúp ngƣời dân thoát khỏi đói nghèo mà
chƣa có đề tài nào nghiên cứu việc bảo vệ ngƣời dân và giúp họ tránh tái nghèo
bằng các các sản phẩm tài chính để có thể giảm bớt đƣợc tình trạng dễ bị tổn thƣơng
của họ. Vì vậy luận văn sẽ kế thừa các các kết quả nghiên cứu trên, đồng thời tập
trung phân tích sâu thêm về các rủi ro mà phụ nữ nghèo thƣờng gặp phải, các sản
phẩm tài chính giúp họ giảm bớt các rủi ro này, và đặc biệt luận văn sẽ tập trung
phân tích về khả năng phát triển các sản phẩm này trong các tổ chức TCVM.
3. Mục đích nghiên cứu
3.1. Về mặt lý luận:
3.1.1. Nghiên cứu sự cần thiết của việc quản lý rủi ro và áp lực kinh tế xảy ra đối
với phụ nữ nghèo
3.1.2. Làm rõ những vấn đề về sản phẩm tài chính quản lý rủi ro đối với phụ nữ
nghèo
3.2. Về mặt thực tiễn:
3.2.1. Nghiên cứu thực trạng rủi ro, việc cung cấp sản phẩm tài chính quản lý rủi ro
và xác định khả năng phát triển sản phẩm này trong các tổ chức TCVMtại
Việt Nam

lý rủi ro trong các tổ chức TCVM tại Việt Nam.


7

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ RỦI RO VÀ CÁC SẢN PHẨM TÀI CHÍNH QUẢN LÝ RỦI RO
CHO PHỤ NỮ NGHÈO TRONG CÁC TỔ CHỨC TCVM TẠI VIỆT NAM
TCVM và hoạt động giảm nghèo tại Việt Nam
1.1.1. Khái quát về hoạt động giảm nghèo
1.1.1.1. Nghèo đói
a. Khái niệm:
Khái niệm nghèo đói theo tiêu chuẩn chung quốc tế (cũng đƣợc Việt Nam thừa
nhận): "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ
phát triển kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của các địa phƣơng” [25]
b. Tiêu chí xác định
 Theo tiêu chuẩn quốc tế:
- Đói nghèo mức thấp (đói nghèo về lƣơng thực, thực phẩm): dựa vào mức tiêu
dùng lƣơng thực, thực phẩm nhằm đảm bảo năng lƣợng tối thiểu quy định chung
cho các nƣớc đang phát triển là 2.100calo/ngày/ngƣời [25]
- Đói nghèo mức cao (đƣờng đói nghèo chung): gồm cả đói nghèo về lƣơng thực

thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm [25]
 Theo tiêu chuẩn của Việt Nam:
Việt Nam xác định tiêu chí nghèo dựa trên giá trị thu nhập bình quân đầu ngƣời
hàng năm. Cụ thể, theo qui định của Bộ trƣởng Bộ Lao động Thƣơng binh và Xã
hội (số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH) ngày 1/11/2000 thì chuẩn nghèo áp dụng cho
thời kỳ 2001-2005 theo bình quân thu nhập đầu ngƣời là: 80.000đ/ngƣời/tháng ở

Theo chuẩn nghèo của Chƣơng trình XĐGN Việt Nam (giai đoạn 2000-2005)
đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo (chiếm 17,2% tổng số hộ cả nƣớc);
năm 2005 còn khoảng 1,2 triệu hộ (chiếm 8%) [25]. Nhƣng nếu áp dụng theo chuẩn
nghèo mới đƣợc thông qua từ 1/1/2006 tƣơng đƣơng với chuẩn nghèo của quốc tế
(200.000đ/ngƣời/tháng đối với nông thông và 260.000đ/ngƣời/tháng với khu vực
thành thị) thì dự kiến chúng ta sẽ có 4,3 triệu hộ nghèo, tƣơng đƣơng khoảng 27%
dân số cả nƣớc [16].
b. Đói nghèo ở nƣớc ta tập trung ở khu vực nông thôn: Số hộ nghèo ở khu vực
nông thôn chiếm 90,5% tổng số hộ nghèo toàn quốc, trong đó: nông thôn miền
núi chiếm 28% tổng hộ nghèo toàn quốc; nông thôn đồng bằng chiếm 62,5%
tổng số hộ nghèo toàn quốc [25].
c. Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh: Một bộ phận
lớn dân cƣ nằm giáp ranh mức nghèo do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về
chuẩn nghèo cũng khiến họ rơi xuống ngƣỡng nghèo và làm tăng tỉ lệ nghèo.
Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những
ngƣời nghèo (phần lớn từ nông nghiệp) rất bấp bênh và dễ bị tổn thƣơng trƣớc
những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng. Nhiều hộ gia đình tuy có mức
thu nhập ở trên ngƣỡng nghèo, khi có những dao động về thu nhập cũng có thể
khiến họ trƣợt xuống ngƣỡng nghèo.


9

d. Nghèo đói tập trung ở vùng có điều kiện sống khó khăn: Đa số ngƣời nghèo sinh
sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên
khắc nghiệt nhƣ vùng núi, vùng sâu, vùng chịu ảnh hƣởng lớn của thiên tai, điều
kiện thiên nhiên không thuận lợi.
1.1.1.3. Nguyên nhân nghèo đói: Có 3 nhóm nguyên nhân dƣới đây:
a. Nhóm nguyên nhân chủ quan từ ngƣời nghèo: Ngƣời nghèo thƣờng thiếu nhiều
nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực, nhƣ

nghèo và giảm nghèo bền vững trên cơ sở tổ chức phối hợp lồng ghép chương trình
XĐGN với chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội. Sớm ban hành cơ chế,
chính sách, giải pháp để khuyến khích các tỉnh nghèo, huyện nghèo, xã nghèo, hộ
nghèo trên cơ sở đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, tự lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo
đói...” [3]. Chính phủ đã chính thức đề ra Chƣơng trình XĐGN với tƣ cách là một
Chƣơng trình Quốc gia. Các biện pháp đƣợc đề ra gồm có giải quyết vấn đề đất đai
cho các hộ nông dân; mở rộng các quỹ tín dụng cho vay vốn với lãi suất ƣu đãi; xây
dựng các loại công trình thiết yếu; tạo điều kiện cho các đối tƣợng nghèo đƣợc
hƣởng các dịch vụ xã hội; điều tra xác định các hộ nghèo đói do mất khả năng lao
động để tiến hành trợ cấp. Để thực hiện xoá đói giảm nghèo, giải pháp cơ bản vẫn là
các chƣơng trình phát triển kinh tế xã hội tổng thể ở các địa phƣơng trong cả nƣớc.
Tuy nhiên giải pháp này phải kết hợp với việc tác động trực tiếp tới những đối
tƣợng nghèo, hỗ trợ họ về vốn, về tƣ liệu sản xuất, kinh nghiệm sản xuất để tự các
đối tƣợng này có thể vƣơn lên, vƣợt qua nghèo đói. Do đó, quan điểm cơ bản khi
thực hiện chƣơng trình này là không phải cấp phát, cho không theo kiểu cứu tế, mà
là tạo ra các tiền đề để hộ nghèo thoát khỏi tình trạng nghèo đói bằng chính sức lao
động của họ, theo đúng quan điểm của ngƣời xƣa: “cho cần câu hơn cho xâu cá”.
Mặc dù ngân sách Nhà nƣớc còn hạn hẹp, song Nhà nƣớc đã đầu tƣ cho các
chƣơng trình quốc gia phục vụ xóa đói giảm nghèo thông qua chƣơng trình đầu tƣ
cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo (Chƣơng trình 133, 135). Từ khi có Chƣơng trình
xóa đói giảm nghèo (1992) đến năm 2000, Nhà nƣớc đã đầu tƣ thông qua các
chƣơng trình quốc gia có liên quan đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo khoảng
21.000 tỷ đồng. Riêng trong hai năm 1999 và 2000 gần 9.600 tỷ đồng (Ngân sách
nhà nƣớc đầu tƣ trực tiếp cho chƣơng trình 3.000 tỷ đồng; lồng ghép các chƣơng
trình, dự án khác trên 800 tỷ đồng; huy động từ cộng đồng trên 300 tỷ đồng;
nguồn vốn tín dụng cho vay ƣu đãi hộ nghèo trên 5.500 tỷ đồng) [25]


11


Trƣớc kia là Ngân hàng phục vụ ngƣời nghèo


12

hội và các tổ chức phi chính phủ đã tham gia rất tích cực vào công cuộc xoá đói
giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội thông qua các chƣơng trình tín dụng tiết
kiệm quy mô nhỏ (dƣới đây gọi tắt là TCVM). Đến tháng 12/2004, theo thống kê
không chính thức của Nhóm công tác TCVM Việt Nam, hiện có khoảng 2.900
chƣơng trình dự án đang hoạt động tại 132 huyện, 36 tỉnh/thành phục vụ 351.289
ngƣời nghèo với số vốn hơn 369 tỷ đồng [8]. Chính sự thành công không nhỏ này
đã gây ảnh hƣởng sâu sắc đến các nhà hoạt định chính sách. Sự đóng góp của
TCVM đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung và công cuộc XĐGN nói riêng
đã đƣợc ghi nhận bằng việc ra đời Nghị định số 28/2005/NĐ – CP ngày 09/3/2005
của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại
Việt Nam. Nghị định này đã hình thành một khuôn khổ pháp lý cho loại hình hoạt
động đang phát triển rất nhanh này.
b. Khái niệm TCVM:
Theo Nghị định 28/2005/NĐ –CP ngày 09/3/2005: „Tài chính quy mô nhỏ là
hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ
gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và ngƣời nghèo‟
[20].
1.1.2.3. Những nhà cung cấp TCVM ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những nhà cung cấp tài chính ở nông thôn có thể nhóm lại thành ba
nhóm chính: chính thức, bán chính thức và phi chính thức. Các nhóm này đều cung
cấp các dịch vụ TCVM cho hộ nghèo, tuy nhiên phƣơng pháp và mức độ tiếp cận
khác nhau.
a. Khu vực chính thức:
Gồm hoạt động của các tổ chức tài chính hoạt động theo Luật các tổ chức tín
dụng và Luật hợp tác xã, nhƣ NHNo&PTNT; NHCSXH.

tín dụng nông thôn thành lập tại xã để cung cấp dịch vụ tài chính cho các hộ
nông dân tại địa phƣơng. Đến tháng 12 năm 2004, hệ thống quĩ TDND có 905
quĩ ở các cấp cơ sở, vùng và trung ƣơng với 966.540 thành viên. Tổng dƣ nợ
vốn là 5,1 nghìn tỉ đồng (330 triệu USD), mức vay trung bình là 5,3 triệu đồng.
Lãi cho vay tín dụng của quỹ dao động trong khoảng 1,1 đến 1,3%/tháng [8]
 Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện Việt Nam (TKBĐ). Công ty dịch vụ TKBĐ
đƣợc thành lập năm 1999 và hoạt động dƣới quyền của Tổng cục Bƣu chính
viễn thông Việt Nam. Chức năng chính của của công ty là cung cấp sản phẩm


14

tiết kiệm cho bộ phận dân cƣ Việt Nam chƣa đƣợc phục vụ đầy đủ (nông dân,
phụ nữ và ngƣời nghèo) để huy động tiết kiệm cho việc đầu tƣ phát triển của
chính phủ. Năm 2001, công ty đã có 539 chi nhánh, 500.000 tài khoản tiết kiệm
và dƣ tiết kiệm đạt 3,8 nghìn tỉ đồng, khoản tiết kiệm trung bình là 7,6 triệu
đồng [8].
b. Khu vực bán chính thức


Khu vực này gồm hoạt động cung cấp dịch vụ TCVM của các tổ chức phi chính
phủ, các chƣơng trình tín dụng - tiết kiệm của các tổ chức CTXH nhƣ Hội phụ
nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên v.v… Những tổ chức TCVM này đƣợc coi là
khuyến khích ngƣời nghèo hơn là hƣớng tới việc cung cấp dịch vụ tài chính sâu
rộng hơn và thích hợp hơn so với khu vực tài chính chính thức.



Từ năm 2001, khu vực này đã đƣợc khảo sát nhƣng không đầy đủ. Báo cáo phát
triển của Ngân hàng thế giới (World Bank) năm 2004 cho biết: có khoảng 57 tổ

„hình thức hỗ trợ” - loại thứ nhất nhằm kiếm thêm thu nhập từ lãi, còn loại thứ
hai nhằm hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên. Hiện tại không có các số liệu
chính thức nào về số lƣợng các nhóm họ/hụi đang tồn tại hoặc tổng số vốn do
các nhóm này huy động [8].
 Họ hàng, bạn bè, láng giềng: Các khoản vay từ bạn bè hoặc họ hàng có hình
thức linh hoạt, và thƣờng không có lãi, thƣờng phụ thuộc vào quan hệ cá nhân
giữa ngƣời vay và ngƣời cho mƣợn, hoặc nguồn thu nhập của ngƣời vay.
 Người cho vay lãi: Có 3 loại hình cho vay tƣ nhân. Kiểu cho vay “truyền thống”
bao gồm việc cho vay trên cơ sở tin tƣởng lẫn nhau, sử dụng các thủ tục đơn
giản mà không hề có bất kỳ một hợp đồng vay vốn bằng văn bản nào. Loại hình
cho vay truyền thống này thƣờng là cho vay ngắn hạn bằng tiền mặt, đôi khi chỉ
trong vài ngày. Kiểu thứ hai là cho vay thông qua các hiệu cầm đồ, loại hình này
cũng tƣơng tự nhƣ kiểu thứ nhất, nhƣng ngƣời cho vay thƣờng yêu cầu ngƣời
vay phải cầm cố tài sản hoặc đất đai. Kiểu thứ ba là hình thức cho vay của các
tiểu thƣơng, các nhà cung cấp vật tƣ và các đại lý tiếp thị ở khu vực địa phƣơng.
Hình thức cho vay này đang ngày càng trở nên thông dụng và có thể thực hiện
bằng tiền mặt hoặc hàng hoá. Những tƣ nhân cho vay tiền có đặc điểm hoạt


16

động đa dạng và linh hoạt. Các khoản cho vay của họ thƣờng nhỏ và ngắn hạn
(đƣợc xác định theo mùa vụ hoặc theo ngày). Lãi suất cho vay thƣờng dao động
từ 4-10%/tháng [8].
1.1.2.3. Những đặc điểm chính của TCVM tại Việt Nam
a. Sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị-xã hội trong lĩnh vực TCVM,
đặc biệt là Hội phụ nữ.
Ở hầu hết các nƣớc, các tổ chức phi chính phủ (PCP) là “những ngƣời tiên
phong” trong hoạt động TCVM. Tại Việt Nam, phòng trào này đƣợc triển khai
thông qua bộ máy của các tổ chức CTXH, đặc biệt là Hội phụ nữ [21]. Sở dĩ Hội

hạn chế và giảm sự chuyên tâm vào công việc. Hơn nữa, họ rất có thể thay đổi vị
trí công tác do sự điều chuyển cán bộ. Do vậy, các chƣơng trình có thể gặp khó
khăn trong quá trình thực hiện hoặc tăng chi phí đào tạo lại cán bộ.


17



Hầu hết các chƣơng trình TCVM không thể triển khai một cách độc lập khỏi cơ
cấu tổ chức chung và chính sách hoạt động của các tổ chức CTXH.
Trong bối cảnh chƣa có khung pháp lý cho hoạt động TCVM thì cách lựa chọn

Hội phụ nữ là đối tác là hợp lý. Nó giúp tiết kiệm chi phí do có thể sử dụng đƣợc cơ
sở vật chất và nguồn nhân lực sẵn có của họ và vì vậy, cũng tiết kiệm đƣợc thời
gian triển khai chƣơng trình. Tuy nhiên Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ban hành
ngày 09/3/2005 đã qui định khá rõ ràng về tiêu chuẩn của các chức danh quản lý
của các tổ chức TCVMvà hạn chế về nguồn lực hiện nay của các chƣơng trình
TCVM là những thách thức lớn nhất cần vƣợt qua để chuyển đổi theo Nghị định 28.
b. TCVM tập trung ở nông thôn hơn là ở thành thị với phụ nữ nghèo là đối
tượng chính
Đặc trƣng thứ hai của lĩnh vực TCVM của Việt Nam là đại đa số khách hàng là
phụ nữ nghèo ở vùng nông thôn và chỉ triển khai tại một hoặc vài tỉnh với số lƣợng
vài huyện và vài chục xã. Hơn nữa, các điểm chƣơng trình thƣờng rải rác không tập
trung.
c. Phương pháp tổ chức hoạt động của các tổ chức TCVM đa dạng và phù hợp
với người nghèo.
 Phương pháp cho vay qua nhóm được sử dụng phổ biến trong các chương trình
TCVM: Các chƣơng trình TCVM không cho vay trực tiếp đến từng cá nhân mà
thông qua các nhóm. Việc thành lập các nhóm theo nguyên tắc tự nguyện. Tự

động tiết kiệm chỉ trong phạm vi các thành viên tham gia chƣơng trình. Với
chính sách và sản phẩm tiết kiệm phù hợp với ngƣời nghèo các chƣơng trình
TCVM đã làm đƣợc điều các tổ chức tín dụng chính thức ở nông thôn hiện nay
chƣa làm đƣợc. Điều này có đƣợc là do:
- Họ hoạt động ngay tại cộng đồng, thậm chí tận các thôn xóm thông qua các
nhóm vay vốn. Tiết kiệm là là hợp phần không thể thiếu gắn liền với dịch vụ
cung cấp vốn vay.
- Các chƣơng trình TCVM huy động những món gửi tiết kiệm rất nhỏ vài nghìn
đồng nhƣng thƣờng xuyên hàng tuần, hàng tháng với thủ tục gửi rất đơn giản.
d. Ngân hàng cho vay các đối tượng chính sách do Nhà nước hỗ trợ vốn
 Đặc trƣng nổi bật của lĩnh vực TCVM ở Việt Nam là sự tồn tại của một ngân
hàng cho vay chính sách chính thức trên thị trƣờng TCVM, đó là NHCSXH.


19

Quyết định thành lập NHCSXH2 đã tạo ra một Ngân hàng phi lợi nhuận cung
cấp đầy đủ các loại hình sản phẩm và dịch vụ tài chính ở mức giá bao cấp.
Ngoài ra, Ngân hàng này còn đƣợc miễn trừ đối với nhiều điều khoản quy định
khác điều chỉnh hoạt động của các NHTMNN và sẽ không chịu tác động của
khung điều tiết đƣợc đề xuất dành cho các tổ chức tài chính quy mô nhỏ.
 Nguồn vốn vốn của NHCSXH ngày càng đƣợc mở rộng kể từ khi thành lập vào
năm 2003. Theo báo cáo, ngân hàng có 1.515 nghìn tỉ đồng vốn điều lệ từ Ngân
sách Nhà nƣớc và dự kiến sẽ đƣợc rót thêm 3,5 nghìn tỉ đồng vốn điều lệ. Nguồn
vốn của thể chế này còn đƣợc bổ sung bởi nguồn đóng góp bắt buộc với tỉ lệ 2%
tiền gửi VNĐ từ các NHTMNN. Theo Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2004 và
kế hoạch năm 2005 của NHCSXH tính đến hết tháng 12/2004, Ngân hàng có
tổng nguồn vốn là 15,4 nghìn tỉ đồng [14].
 Với nguồn vốn dồi dào, NHCSXH đƣợc đặt vào vị trí chiếm thị phần thống trị
trong thị trƣờng TCVM. Tuy nhiên, lãi suất cho vay ƣu đãi mà NHCSXH đang

hoạt động tại các huyện này. Ví dụ, Tổ chức Tiết kiệm và Tín dụng do tổ chức
CECI (Canada) hỗ trợ ở huyện Bá Thƣớc, tỉnh Thanh Hoá hiện phục vụ 48,1%
hộ nghèo, so với 27,2% của NHCSXH và 47% của NHNo&PTNT. Tại các địa
phƣơng khó khăn nhƣ miền núi và vùng sâu, vùng xa, các tổ chức TCVM có xu
hƣớng vƣơn tới số lƣợng các hộ nghèo còn lớn hơn 52% ở huyện Mai Sơn, tỉnh
Sơn La và 47% ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, so với tỉ lệ 42% ở Sơn
La và 26% ở Đông Triều của NHNo&PTNT và NHCSXH cộng lại [8]
- Sử dụng số liệu của 7 tổ chức TCVM đang hoạt động ở 60 xã vùng miền núi khó

khăn, biểu đồ dƣới đây cho thấy tỉ lệ phần trăm khách hàng vay vốn từ các tổ
chức TCVM là 43% so với 27% của NHCS và 30% của NHNo [8]
Biểu đồ 1.1: Thị phần của các tổ chức cho vay ở 60 xã có hoạt động của các tổ chức TCVM

Nguồn: Nghiên cứu của ILO [8]


21

 Đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ tài chính của người nghèo thông qua cách
tiếp cận lấy khách hàng làm trung tâm:
- Các tổ chức TCVM, do có quan hệ gắn kết chặt chẽ với các tổ chức CTXH nhƣ
Hội LHPN, thƣờng có cấu trúc tổ chức phân làm nhiều cấp khác nhau, từ nhóm
đến cụm, thôn, xã rồi đến huyện, tỉnh, trong khi đó các tổ chức tài chính chính
thức hoạt động thông qua các chi nhánh chỉ vƣơn tới đƣợc thấp nhất là cấp xã.
Cán bộ của các tổ chức TCVM là ngƣời địa phƣơng và đóng tại cộng đồng, điều
đó có nghĩa là:
 Khách hàng có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính một cách dễ dàng, nhanh
chóng và thuận tiện hơn.
 Các cán bộ có thể giám sát hiệu quả hơn và có thể đáp ứng các nhu cầu của
khách hàng tốt hơn.

cho trẻ em v.v…Các khách hàng cho biết sự khác biệt chủ yếu giữa các tổ chức
TCVM và NHNo&PTNT là ở mức độ đào tạo liên tục và trợ giúp kỹ thuật do
các tổ chức TCVM cung cấp sau khi giải ngân, một dịch vụ mà các khách hàng
đánh giá cao vì nó đã giúp họ cải thiện đƣợc các kỹ năng quản lý kinh doanh và
có thể sử dụng vốn hiệu quả hơn.
b. Các tác động kinh tế - xã hội


Đa dạng hoá nguồn thu nhập của các hộ gia đình đồng thời giảm rủi ro và
nguy cơ bị thương tổn về kinh tế:
Các khoản cho vay của TCVM cho phép các hộ nghèo mở rộng hoạt động kinh

tế hiện thời của họ và tăng thu nhập. Ví dụ nhƣ, 34% các khách hàng của tổ chức
Tầm nhìn thế giới sử dụng vốn để tăng qui mô sản xuất. Trong khi đó, các khảo sát
khách hàng của Quỹ Tình Thƣơng cho thấy, các khách hàng trƣớc kia chƣa bao giờ
ra khỏi luỹ tre làng hiện đang bán các sản phẩm của họ ở nhiều chợ khác nhau ở các
tỉnh. Với việc đa dạng hoá các nguồn thu nhập, các hộ gia đình không chỉ tăng mức
thu nhập mà còn giảm đƣợc các rủi ro khi thị trƣờng địa phƣơng của họ bị ế ẩm.
Thu nhập gia đình tăng giúp các hộ gia đình có thể chịu đƣợc các chi phí đột xuất
trong trƣờng hợp ốm đau hay tai nạn. Ngoài ra, thành phần tiết kiệm bắt buộc trong
các chƣơng trình TCVM đã khuyến khích và tập cho khách hàng thƣờng xuyên tiết
kiệm một số tiền nhỏ để cải thiện khả năng đối phó với các rủi ro bất ngờ xuất phát
từ đời sống hàng ngày hoặc từ công việc kinh doanh của họ [8]


Góp phần vào việc đạt được mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo:


23


b. Dễ bị tổn thƣơng và nghèo đói là hai yếu tố ảnh hƣởng lẫn nhau. “Dễ bị tổn
thƣơng là sự bất lực của một hộ gia đình đối phó với những rủi ro và áp lực kinh
tế” [27]. Nó là nguyên nhân của đói nghèo và cũng là kết quả của đói nghèo. Dễ


Trích đoạn Giới thiệu về sản phẩm bảo hiểm sinh mạng cá nhân Các thách thức khi nhân rộng sản phẩm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status