Những hình thức cơ bản trong quản lý tài nguyên môi trường ở Việt Nam - Pdf 33

Tiểu luận Quản lý tài nguyên môi trường TS. Nguyễn Khoa Lân
Phần 1. MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Người nghèo luôn luôn phải chịu tác động nhiều hơn bởi tình trạng xuống
cấp về môi trường. 70% dân số Việt Nam kiếm sống từ đất đai, điều đó làm cho
họ bị phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng và sự sẵn có của tài nguyên thiên nhiên.
Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng về dân số, đô thị hóa và kinh tế cũng tạo
nên sức ép ngày càng tăng đối với môi trường và người dân, những người vốn
phải dựa vào môi trường để kiếm sống.
Chất lượng rừng tiếp tục xuống cấp và 700 loài động vật được xem là có nguy
cơ tiệt chủng. Tình trạng ô nhiễm môi trường công nghiệp và đô thị thường
xuyên vượt quá mức độ cho phép, trong khi bụi ở các vùng đô thị đã vượt quá
mức độ tối đa ít nhất hai lần.
Bảo đảm sự bền vững về môi trường là một chỉ tiêu quan trọng của Việt Nam
và là một trong tám Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết
thực hiện đến năm 2015. Xét mức độ rộng lớn của chỉ tiêu này, thật khó có thể
đo lường. Các chỉ số thông thường cơ bản cho thấy Việt Nam có thể đang trên
đường tiến tới việc chấm dứt tình trạng hủy hoại môi trường, nhưng còn lâu mới
có thể đảo ngược được tình trạng xuống cấp về môi trường của thập kỷ vừa qua.
Chính phủ Việt Nam đã xây dựng được một khuôn khổ pháp lý tốt cho công
tác quản lý môi trường, bắt đầu bằng những sửa đổi đối với Hiến pháp năm 1992
và ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1994. Gần đây Bộ Tài nguyên & môi
trường được thiết lập, trong đó có Cục Môi trường quốc gia, Tổng cục quản lý
đất đai và Tổng cục Khí tượng thủy văn.
Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường 2001-2010 của Việt Nam đã xác
định ba mục tiêu chung cho chính sách quốc gia về môi trường, đó là:
- Ngăn chặn và kiểm soát tình trạng ô nhiễm.
- Bảo vệ, bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Cải thiện chất lượng môi trường ở các khu vực đô thị, công nghiệp và
nông thôn.
1

Trong giới hạn cho phép chúng tôi chỉ xin đề cập đến những hình thức quản
lý tài nguyên môi trường và những thành tựu của nó trên cơ sở những nghiên
cứu về vấn đề tài nguyên môi trường ở Việt Nam
PHẦN 2: NỘI DUNG
2.1. Những khái niệm chung
2.1.1. Khái niệm quản lý môi trường
"Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế,
kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển
bền vững kinh tế xã hội quốc gia".
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý về môi trường bao gồm:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong
hoạt động sống của con người.
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã
hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững
bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên,
không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn
minh và công bằng xã hội.
- Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng
lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và
cộng đồng dân cư.
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã
hội thành một hệ thống rộng lớn "Tự nhiên - Con người - Xã hội", trong đó yếu
3
Tiểu luận Quản lý tài nguyên môi trường TS. Nguyễn Khoa Lân
tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên
- Con người - Xã hội" đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện
công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội
nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các
mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó. Vì chính con người đã góp phần quan
trọng vào việc phá và tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên - con

2.2.1. Quản lý nhà nước
Hình thức quản lý nhà nước là quản lý tài nguyên môi trường thông qua các
công cụ luật pháp, chính sách về môi trường trên phương diện quốc tế và quốc
gia.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều
chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và các tổ chức quốc tế trong
việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và
môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế về môi
trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX,
giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về "Môi
trường con người" tổ chức năm 1972 tại Thuỵ Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh
Rio - 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến
nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn
bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật,
trong đó Luật Bảo vệ Môi trường được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày
27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ đã ban hành Nghị định
175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và
Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi
trường. Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các
ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành. Một số tiêu
chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ
môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu
khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ
5
Tiểu luận Quản lý tài nguyên môi trường TS. Nguyễn Khoa Lân
rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về
việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông. Các
văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được nhà nước Việt Nam phê
duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi

thực hiện các chương trình, chính sách của nhà nước trên địa bàn của địa
phương mình mà không được quyền ra quyết định trong việc sử dụng tài
nguyên. Chính quyền địa phương phụ thuộc về tài chính đối với chính quyền
cấp trên vì nguồn kinh phí cho việc quản lý bảo vệ rừng, xây dựng vốn rừng và
việc thực hiện các chương trình dự án của chính phủ ở các địa phương đều trông
chờ vào sự phân bổ kế hoạch và kinh phí hàng năm của nhà nước cho các địa
phương. Nguồn kinh phí này thường rất khiêm tốn, không thể đáp ứng nhu cầu
cần thiết của các địa phương. Do chính quyền địa phương cấp cơ sở khi được
trao quyền mà không có khả năng về tài chính nên khó có thể có khả năng ra
quyết định.
Người dân được giao đất lâm nghiệp nhưng vì chính sách hưởng lợi không rõ
ràng và thù lao ít ỏi đã không thu hút được sự đầu tư trồng và bảo vệ rừng một
cách có hiệu quả. Việc cấp phát cây giống không dựa vào nhu cầu của người
dân, cây giống kém chất lượng, không đúng thời vụ gieo trồng, không hướng
dẫn kỹ thuật cần thiết trước khi trồng là nguyên nhân tất yếu dẫn đến tình trạng
tỉ lệ cây sống thấp, bị chặt bỏ vì chất lượng kém, không được trồng vì không có
nhu cầu.
Có thể thấy rõ cách tiếp cận áp đặt từ trên xuống của các dự án thuộc CT
327. Đánh giá về sự tham gia vào các dự án 327, phần lớn cán bộ và dân địa
phương đều cho rằng họ không có cơ hội được tham gia góp ý kiến mà mọi
quyết định đều áp đặt từ trên xuống. Hơn nữa việc hỗ trợ cây giống và vật tư của
các dự án này mang tính chất “ban phát” cho người dân hơn là giúp họ phát triển
các hoạt động sản xuất một cách có hiệu quả và lâu bền. Sự ban phát này cùng
với việc cung cấp thông tin không đầy đủ cho người dân về dự án đã làm cho
người hưởng lợi từ dự án coi nhẹ sự hỗ trợ của nhà nước dẫn đến tình trạng lãng
7
Tiểu luận Quản lý tài nguyên môi trường TS. Nguyễn Khoa Lân
phí cây giống và chăn thả gia súc bừa bãi gây thiệt hại lớn cho việc trồng và bảo
vệ rừng.
" Chương trình 327, dân chúng tôi chẳng được gì. Họ đưa cây xuống và trừ

- Việc quản lý nhà nước chủ yếu dựa trên công cụ luật pháp, các chế tài vì
thế việc thực hiện tỏ ra cứng nhắc, chưa đồng bộ và phù hợp với nhu cầu của
cộng đồng và quốc gia.
- Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước
về bảo vệ tài nguyên môi trường còn chậm, chưa đồng bộ.
- Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, hạn chế về
năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ khoa học - công nghệ bảo
vệ môi trường, xử lý, giải quyết ô nhiễm môi trường còn thấp.
- Nhận thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của nhiều cấp ủy,
lãnh đạo các cấp, các ngành, doanh nghiệp và nhân dân chưa đầy đủ; ý thức bảo
vệ môi trường nhìn chung còn thấp.
- Nguồn vốn đầu tư và chi thường xuyên cho bảo vệ tài nguyên môi trường
chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều địa phương còn sử dụng kinh phí sự nghiệp
môi trường cho các mục đích khác hoặc sử dụng không hiệu quả.
- Trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ tài nguyên môi trường còn thiếu và
lạc hậu. Nhiều nơi trong chỉ đạo, điều hành chỉ quan tâm tới các chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi trường; có biểu hiện buông lỏng
công tác quản lý nhà nước, thiếu kiên quyết trong việc xử lý vi phạm pháp luật
về bảo vệ môi trường; chưa giải quyết dứt điểm các điểm nóng, bức xúc về ô
nhiễm môi trường.
- Tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến.
Nhiều vi phạm có tổ chức, tinh vi, một số hành vi có dấu hiệu tội phạm. Nhiều
tổ chức, cá nhân khi vi phạm nhưng không nhận trách nhiệm. Tuy vậy, nhà nước
vẫn chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, để lại những hậu quả nặng nề cho môi
trường.
9
Tiểu luận Quản lý tài nguyên môi trường TS. Nguyễn Khoa Lân
- Các hình thức xử lý vi phạm còn mang tính chiếu lệ, chưa đủ sức răn đe,
ngăn ngừa.
- Việc quản lý môi trường chưa thực sự mang lại hiệu quả đối với chất

Trên cơ sở phân tích sơ đồ trên chúng tôi nhận thấy hình thức quản lý tài
nguyên rưng theo hình thức tư nhân có những ưu điểm cũng như hạn chế sau:
 Mặt tích cực
- Phù hợp với chính sách giao đất giao rừng hiện hành nên dễ thực hiện.
- Người dân có chủ quyền trên nguồn tài nguyên được giao nên có điều kiện
vay vốn ngân hàng để đầu tư, phát triển, chủ động kế thừa, chuyển nhượng.
- Gắn được trách nhiệm với quyền lợi của người dân địa phương.
- Phát huy được sự năng động của nông hộ trong việc quản lý phát triển tài
nguyên.
 Mặt hạn chế:
- Phân chia đất rừng cụ thể về mặt pháp lý đến từng hộ có nguy cơ làm mất
truyền thống quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, dòng họ. Đây là
tập quán truyền thống quý báu của người dân bản địa, họ thường coi tài sản từ
thiên nhiên là của cả cộng đồng, mọi người đều có quyền hưởng.
- Thời gian nhận đất nhận rừng khá dài (thường từ 20 - 50 năm) nên khi gia
đình tách hộ sẽ có nguy cơ phát sinh mâu thuẫn, xé lẻ rừng vốn diện tích đã nhỏ
11
Tiểu luận Quản lý tài nguyên môi trường TS. Nguyễn Khoa Lân
bé.
- Có khả năng phát sinh mâu thuẫn giữa các hộ trong phân chia lợi ích, phân
chia các loại rừng giàu nghèo, vị trí xa gần khác nhau. Trong một buôn vẫn có
hộ không được nhận đất nhận rừng.
- Khó thúc đẩy các phương thức hợp tác trong quản lý, phát triển rừng.
- Trình độ các hộ khác nhau nên việc nhận thức và thực hiện việc quản lý phát
triển rừng sẽ không đồng đều.
- Dễ mất rừng do một số hộ quá khó khăn hoặc vì tham lợi trước mắt mà sang
nhượng rừng trái phép cho những người sản xuất nông nghiệp.
2.2.3. Quản lý cộng đồng
Quản lý cộng đồng (thôn, bản, nhóm hộ, nhóm người cùng hưởng lợi). Mặc
dù cộng đồng không phải là một chủ thể kinh tế, nhưng đây là một loại hình tập


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status