tiêu luận tâm lí học trí tuệ đề tài nghiên cứu khả năng sang tạo của học sinh tiểu học - Pdf 33

A.MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

Khả năng sáng tạo có tầm quan trọng vô cùng đặc biệt đối với sự phát
triển các nền văn minh của loài người Từ các bậc hiền triết đến các nhà
giáo dục từ cổ chí kim đều thừa nhận điều này. Từ thời Khổng Tử đã rất
coi trọng mối quan hệ giữa các khâu của giáo dục. Ông nhấn mạnh trong
dạy học cần tuân thủ: học đi đôi với tư (tư là tư duy), với tập, với hành.
Ngạn ngữ cổ Hi Lạp cũng nhấn mạnh: “Dạy học không phải là rót kiến
thức vào một chiếc thùng rỗng mà là thắp sáng lên những ngọn lửa”.
Ngọn lửa được hiểu là tư duy. Ở phương Tây, tư duy càng được coi
trọng: “Tư duy tạo nên sự cao cả của con người” (Pascal).
Ở Việt Nam, các nhà lãnh đạo, nhà giáo dục cũng vô cùng nhấn mạnh
đến vai trò của tư duy. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói:
“Điều chủ yếu không phải là nhồi nhét một mớ kiến thức hỗn độn… mà
là phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học
tập, phương pháp giải quyết vấn đề”.


Vai trò của khả năng sáng tạo cũng được nhấn mạnh trong Luật Giáo
dục trong các thời kì, và đến nay nó được nâng lên ở tầm chiến lược
trong giáo dục phát triển con người thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Như vậy, tư duy sáng tạo là một phẩm chất trí tuệ quan trọng
của con người. Không một cách giải quyết vấn đề nào mà không đòi hỏi
phải sáng tạo.
Do vậy, tư duy sáng tạo không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà tâm
lý học mà còn thu hút các nhà khoa học sư phạm, bởi nó có mối quan hệ
sâu sắc với hoạt động học tập của học sinh trong nhà trường đặc biệt là
với việc phát triển trí tuệ, hoàn thiện nhân cách toàn diện ngay từ khi
còn ngồi trên ghế nhà trường.Chính vì thế, từ những lí do trên nhóm
chúng tôi đi đến quyết định chọn đề tài nghiên cứu là: “Nghiên cứu khả



- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp làm trắc nghiệm


B.NỘI DUNG
Chương 1: Lý luận chung về sáng tạo
1. Các khái niệm về sáng tạo
1.1. Khái niệm về sáng tạo
Hiểu theo nghĩa đơn giản thì sáng tạo là hoạt động tạo ra cái mới. Theo từ
điển Tiếng Việt thì sáng tạo được hiểu là "tìm ra cái mới, cách giải quyết mới,
không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có".
Theo từ điển Triết học, "Sáng tạo là quá trình hoạt động của con người tạo
ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất. Các loại hình sáng tạo được xác
định bởi đặc trưng nghề nghiệp như khoa học kĩ thuật, tổ chức quân sự. Có thể nói
sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần".
Quan niệm của S.Freud - cha đẻ của Phân tâm học về sáng tạo cũng là một
quan niệm cần lưu tâm. Theo ông thì “Sáng tạo cũng giống như giấc mơ hiện hình,
là sự tiếp tục và sự thay thế trò chơi trẻ con cũ”. Với khái niệm này, Sigmund
Freud cũng nhìn sáng tạo dưới góc nhìn của vô thức con người trong trạng thái
thăng hoa. Ngoài ra, sáng tạo còn được một số tác giả quan niệm khác nhau như:
E.P.Tonance (Mĩ) cho rằng "Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết
nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả". Đây là quan niệm khá "rộng" về sáng tạo vì
mọi quá trình giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ đều là hoạt động sáng tạo.


J.P.Guilford (Mĩ) đã không đưa ra một định nghĩa thuần về sáng tạo mà theo
ông thì tư duy sáng tạo là sự tìm kiếm và thể hiện những phương pháp logic trong
tình huống có vấn đề, tìm kiếm những phương pháp khác nhau và mới của việc



tư của tư duy, bằng năng lực của cá nhân thực hiện hoạt động đặc biệt tạo ra những
sản phẩm rất độc đáo và hiệu quả.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sáng tạo
a. Di truyền và đặc điểm cá nhân
André P. Walton, (2003) trong bài viết "Các tác động của các yếu tố cá nhân
về sự sáng tạo", cho rằng: sáng tạo có thể dựa trên một số yếu tố như học tập, kinh
nghiệm, động lực, trí tưởng tượng, cá tính và các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính
sáng tạo của con người. Sáng tạo có các hình thức khác nhau, sự nảy sinh các ý
tưởng, sáng tạo trong các phương pháp tiếp cận, các sản phẩm, nghệ thuật, các hệ
thống, giải pháp, tình huống, chiến lược, thay đổi, phương pháp, kỹ thuật, thiết kế,
phương pháp điều trị và nghiên cứu. Nghiên cứu sáng tạo cần phải tìm kiếm các
tình huống mơ hồ để tìm lời giải thích, minh chứng bằng sự kiện hoặc câu trả lời
thỏa mãn sự tò mò của một người.
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo đó là yếu tố di
truyền và đặc điểm cá nhân. Di truyền là hiện tượng chuyển những tính trạng của
cha mẹ cho con cái thông qua gencủa bố mẹ. Trong sinh học, di truyền chuyển
những đặc trưng sinh học từ một sinh vật cha mẹ đến con cái và nó đồng nghĩa với
di chuyển gen, gen thừa nhận mang thông tin sinh học (hay thông tin di truyền).
Ngoài ra, các đặc điểm về tính cách, nhận thức và tư duy của con cái có thể
được tiếp nhận từ bố mẹ thông qua môi trường sinh hoạt gia đình (các thói quen,


quy định của gia đình gọi làgia phong, nề nếp). Ở con người, xác định đặc trưng
nào phụ thuộc vào di truyền và đặc trưng nào phụ thuộc vào môi trường thường
gây tranh cãi; đặc biệt là đối với những đặc tính phức tạp như trí thông minh
và màu da; giữa tự nhiên và nuôi dưỡng.
Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng quyết định đến năng lực sáng tạo của
mỗi cá nhân. Ngoài ra, các yếu tố di truyền cũng được phản ánh trong quan hệ

người sáng tạo đó được giáo dục và đào tạo bằng những phương pháp và nội dung
dạy học sáng tạo dựa trên một viễn cảnh phát triển sáng tạo và các chiến lược giáo
dục sáng tạo. Nội dung dạy học sáng tạo chứa đựng trong nó các sự thật, các mối
quan hệ và các hiện thực của cuộc sống, nơi khởi nguồn của tư duy, của các khám
phá và của các vấn đề nảy sinh cần được giải quyết khi đi qua quá trình nhận thức


của con người. Phương pháp dạy học sáng tạo dựa trên nền tảng của trí tưởng
tượng và phát triển các năng lực tưởng tượng.

2. Đặc điểm của lứa tuổi học sinh lớp 2
Ở lớp 2, nhiều học sinh đã biết tập trung chú ý vào bất cứ tài liệu học tập nào,
vào những điều giáo viên giảng giải cũng như tập trung để làm tốt các bài tập được
giao ở lớp, ở nhà.
Sự phát triển trí nhớ của học sinh nhỏ cũng có những biến đổi về chất so với
trước. Hoạt động học tập ngay từ đầu đòi hỏi đứa trẻ phải biết ghi nhớ có chủ định
những tri thức học được những chế độ sinh hoạt hằng ngày, các qui tắc hành vi ứng
xử, những nhiệm vụ học tập về nhà v.v... Những nhiệm vụ ghi nhớ này không phải
được hình thành ngay mà được phát triển dần trong quá trình học tập.
Hầu hết trẻ em còn bị trí nhớ tự do, thiếu chủ định chi phối. Đối với học sinh
tiểu học, hai hình thức ghi nhớ: chủ định và không chủ định (có ý nghĩa và không
có ý nghĩa vẫn song song tồn tại, chuyển hóa, bổ sung cho nhau trong quá trình học
tập).
Hầu hết những tri thức ở sách giáo khoa, giáo viên đem đến cho học sinh đều
mô tả bằng lời, bằng những hình vẽ, mô hình... Để lĩnh hội được những tri thức,
học sinh phải tái tạo cho mình những hình ảnh của hiện thực như: hành vi của các


nhân vật trong chuyến kể, những sự kiện trong quá khứ, những cảnh quan chưa
trông thấy, các hình vẽ hình học trong không gian v.v... tất cả những điều trên tạo

chúng và đã được kiểm tra với một mức độ nào đó, là phương pháp xem xét các thông tin
có sẵn trong các tài liệu để rút ra những thông tin cần thiết nhằm đáp ứng mục tiêu
nghiên cứu của một đề tài nhất định
Phương pháp nghiên cứu tài liệu được phân thành các loại sau:
a. Nghiên cứu tài liệu định tính
Đó là những thao tác trí tuệ để giải thích những thông tin có trong tài liệu trên cơ sở
quan điểm mà tác giả nghiên cứu quan tâm.
Phân tích định tính thường bị ảnh hưởng bởi tính chủ quan của người nghiên cứu vì
khi xem xét tài liệu, nhà nghiên cứu dễ bị chi phối bởi quan điểm chủ quan của mình.
b. Nghiên cứu tài liệu định lượng
Là nghiên cứu nhằm tìm ra các dấu hiệu, các phạm trù để đo lường những đặc điểm,
những tính chất của tài liệu, phản ánh những khía cạnh chủ yếu của nội dung (nội dung
có thể đo lường được).


Việc nghiên cứu định lượng thường bao trùm lên một kết quả lớn các tài liệu và nó
thường có tác dụng trong nghiên cứu một số lượng lớn tài liệu thiếu tính hệ thống, đòi hỏi
phân tích chính xác, tính khách quan cao.

1.1.2 Tiến trình nghiên cứu tài liệu
Để nghiên cứu tài liệu cần phải đi theo các bước như sau:
Giai đoạn chuẩn bị
- Chuẩn bị đề cương, soạn thảo đề cương là bước đầu tiên của quá trình nghiên cứu.
- Xác định tài liệu phù hợp với vấn đề nghiên cứu, trước hết phải đọc qua các danh
mục tạp chí, sách báo tư liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu quy trình xác định
tài liệu phù hợp với vấn đề nghiên cứu
Giai đoạn sử dụng tài liệu nghiên cứu
Khi xác định được một bài báo, báo cáo khoa học đã công bố phù hợp với vấn đề
nghiên cứu, người nghiên cứu cần phải có khả năng khai thác những thông tin trong đó.
Cấu trúc của một bài báo khoa học được công bố chia thành ba phần lớn sau: 1, giới

các phương pháp khác.

1.2 Phương pháp làm trắc nghiệm


1.2.1. Khái niệm về phương pháp làm trắc nghiệm
a. Trắc nghiệm trí sáng tạo TST-N
2. Quy trình tổ chức nghiên cứu
2.1 Tiến trình thực hiện đề tài
- Lựa chọn đề tài, thu thập số liệu, xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài.
- Xử lý kết quả và viết báo cáo trên nền kết quả thu được
2.2 Lựa chọn khách thể nghiên cứu:
Lựa chọn khách thể là Học sinh lớp 2 Trường Herman Gmeiner.
2.3 Phương pháp tiến hành nghiên cứu: làm trắc nghiệm
Sử dụng bảng trắc nghiệm TST – N để đánh giá khả năng sáng tạo của học sinh lớp
2 Trường Herman Gmeiner.


Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan về kết quả làm trắc nghiệm của học sinh
Theo kết quả xử lí,
2. Sự tương quan mức độ sáng tạo theo giới tính
3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sáng tạo




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status