Nghiên cứu qui trình nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh để điều trị vô sinh nam giới - Pdf 33

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

BỘ QUỐC PHÒNG

ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC

BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH NUÔI CẤY, BIỆT HÓA
TẾ BÀO GỐC SINH TINH ĐỂ ĐIỀU TRỊ VÔ SINH
NAM GIỚI
MÃ SỐ: ĐTĐL2009T/27

Cơ quan chủ trì đề tài: Học viện Quân y - Bộ Quốc phòng
Chủ nhiệm đề tài: PGS. TS. Nguyễn Đình Tảo

8999

HÀ NỘI - 2011


MỤC LỤC
Nội dung

Trang

CHƯƠNG I. MỞ ĐẦU ........................................................................................ 28
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................. 31
2.1. Tổng quan về phân lập tế bào dòng tinh ....................................................... 31
2.2. Tổng quan về tế bào nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh........................ 41

4.4.4. Kết quả nghiên cứu trữ lạnh mô tinh hoàn................................... 132
4.5. Các qui trình phân lập, nuôi cấy và bảo quản tế bào gốc sinh tinh ............ 138
CHƯƠNG V. BÀN LUẬN ................................................................................ 157
5.1. Về lựa chọn bệnh nhân qua xét nghiệm mất đoạn nhỏ ở vùng AZF trên NST
Y ........................................................................................................ 157
5.2. Về quá trình phân lập tế bào gốc sinh tinh.................................................. 163
5.3. Nuôi cấy các tế bào dòng tinh thu được từ mào tinh. ................................. 164
5.4. Nuôi cấy các tế bào gốc sinh tinh................................................................ 165
5.5. Vai trò của tế bào Sertoli trong nuôi cấy..................................................... 166
5.6. Phương pháp nuôi cấy ................................................................................. 166
5.7. Ý nghĩa của phương pháp nuôi cấy............................................................. 167
5.8. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu bảo quản tế bào gốc sinh tinh ................ 168
5.9. Thể tích tinh hoàn và tế bào gốc sinh tinh lập............................................. 168
5.10. Trữ lạnh các tế bào dòng tinh thu nhận từ mào tinh ................................. 169
5.11. Trữ lạnh tế bào gốc sinh tinh trong mô tinh hoàn của bệnh nhân ............ 176
KẾT LUẬN......................................................................................................... 182
KIẾN NGHỊ ........................................................................................................ 184
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................. 185
PHỤ LỤC ........................................................................................................... 201
- Danh sách bệnh nhân PESA, MESA
- Danh sách bệnh nhân trữ lạnh tinh trùng từ mào tinh và mô tinh hoàn

22


DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ART

Assisted Reproductive Technology (Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản)



Phương pháp nhuộm tiêu bản bằng Hematoxylin- Eosin

IVF

In Vitro Fertilization (Thụ tinh trong ống nghiệm)

ICSI

Intracytoplasmic Sperm Injection (Tiêm tinh trùng vào trong bào
tương trứng)

NOA

Non-Obstructive Azoospermia

MESA

Microsurgical Epididymal Sperm Aspiration

OA

Obstructive Azoospermia

PESA

Percutaneous Epididymal Sperm Aspiration

SC


Bảng 4.5. Tỷ lệ di động của tinh trùng và tinh tử tại mào tinh qua các thời điểm
nuôi cấy trong môi trường không bổ sung các hormone .................. 113
Bảng 4.6. Tỷ lệ di động của tinh trùng và tinh tử tại mào tinh qua các thời điểm
nuôi cấy trong môi trường có bổ sung các hormone ....................... 114
Bảng 4.7. So sánh kết quả nuôi cấy các tế bào ở mào tinh trong môi trường nuôi
cấy có bổ sung và không bổ sung các hormone............................... 114
Bảng 4.8. Biến đổi số lượng các tế bào dòng tinh chuột trong môi trường nuôi
cấy...................................................................................................... 116
Bảng 4.9. Biến đổi số lượng các tế bào dòng tinh người trong môi trường nuôi
cấy...................................................................................................... 118
Bảng 4.10. Khả năng thụ tinh của tinh tử chuột sau nuôi cấy ........................... 126
Bảng 4.11. Sự phát triển phôi chuột ngày 2 với tinh tử sau nuôi cấy .............. 126
Bảng 4.12. Sự phát triển phôi chuột ngày 3 với tinh tử sau nuôi cấy .............. 127
Bảng 4.13. Khả năng thụ tinh của tinh tử sau nuôi cấy ..................................... 127
Bảng 4.14. Sự phát triển phôi ngày 2 với tinh tử sau nuôi cấy.......................... 128
Bảng 4.15. Sự phát triển phôi ngày 3 với tinh tử sau nuôi cấy.......................... 129
Bảng 4.16. Tuổi, thời gian vô sinh của bệnh nhân............................................. 130
Bảng 4.17. Đặc điểm thể tích tinh hoàn của bệnh nhân nghiên cứu ................. 130
Bảng 4.18. Kết quả độ di động của tinh trùng thu nhận từ mào tinh trước, sau trữ
lạnh và nuôi cấy. ................................................................................ 131
Bảng 4.19. Tỉ lệ sống của tinh trùng trước trữ lạnh và sau rã đông .................. 131
24


Bảng 4.20. Hình thái tinh trùng trước và sau rã đông........................................ 132
Bảng 4.21. Đặc điểm mô tinh hoàn trước trữ lạnh nhóm sử dụng chất bảo quản
Glycerol (Sperm freeze) ................................................................... 133
Bảng 4.22. Kết quả sau trữ lạnh mô tinh hoàn sử dụng Glycerol (Sperm Freeze).. 133
Bảng 4.23. Đặc điểm mô tinh hoàn trước trữ lạnh ở nhóm sử dụng chất bảo quản
DMSO. .............................................................................................. 135

Hình 4.6. Hệ thống phân lập tế bào dựa vào lực từ tính (MACS)..................... 110
Hình 4.7. Ống sinh tinh bệnh nhân azoospermia do tắc (HE, x600)................. 111
Hình 4.8. Ống sinh tinh bệnh nhân azoospermia không do tắc (HE, x600). ...... 112
Hình 4.9. Các tinh tử được phân lập (x600)...................................................... 115
Hình 4.10. Tinh hoàn chuột 8 ngày tuổi x100 ................................................... 117
Hình 4.11. Tinh hoàn chuột 8 ngày tuổi x400 .................................................. 118
Hình 4.12. Ngày 1 nuôi cấy x400 trên vi trường chỉ thấy tinh nguyên bào và tinh
bào 1 .................................................................................................. 119
Hình 4.13. Hình ảnh nuôi cấy 10 ngày x600. .................................................... 120
26


Hình 4.14. Các tế bào dòng tinh sau 20 ngày nuôi cấy...................................... 120
Hình 4.15. Hình ảnh các tế bào gốc sinh tinh nuôi cấy với GFP x400.. ........... 122
Hình 4.16. Hình ảnh nhuộm FISH NST 18, NST X và NST Y....................... 123
Hình 4.17. Hình ảnh nhuộm FISH NST 18, NST X và NST Y........................ 124
Hình 4.18. Hình ảnh tinh tử tròn dưới kính hiển vi điện tử x5000................... 125
Hình 4.19. Hình ảnh tinh tử đã kéo dài x3000 .................................................. 125
Hình 4.20. Tinh trùng trong nhuộm Papanicolaou (x1000) .............................. 132
Hình 4.21. Mô tinh hoàn tổn thương nặng sau trữ lạnh bằng Glycerol (x200)... 134
Hình 4.22. Mô tinh hoàn sau rã đông sử dụng chất bảo quản Glycerol (x400) .. 134
Hình 4.23. Mô tinh hoàn sau rã đông sử dụng chất bảo quản DMSO (x400) .... 136
Hình 4.24. Siêu vi thể đầu tinh trùng sau trữ lạnh sử dụng DMSO x5000 ...... 136

27


CHƯƠNG I
MỞ ĐẦU
Theo các kết quả nghiên cứu tại Việt Nam, thì tỷ lệ vô sinh chung từ 5

trong ống nghiệm-tiêm tinh trùng vào bào tương noãn (IVF-ICSI) đã hé mở
những hy vọng mới cho những trường hợp không có tinh trùng không do tắc
(non-obstructive azoospermia).
Nuôi cấy các tế bào dòng tinh (In Vitro culture of Spermatogenesis
cells): là phương pháp điều trị có nhiều triển vọng trong tương lai cho các
bệnh nhân không có tinh trùng trong tinh dịch không do tắc NOA (Non
Obstructive Azoospermia). Hiện nay trên thế giới một số tác giả đã tiến hành
nuôi cấy và đã có được một số thành công bước đầu. Để nâng cao hiệu quả,
tính an toàn của phương pháp này, chúng tôi tiến hành phân lập, nuôi cấy tế
bào gốc sinh tinh. Kết quả bước đầu cho thấy tế bào gốc sinh tinh phát triển
trong môi trường nuôi cấy, phân chia giảm nhiễm tạo thành các tinh tử tròn,
tinh tử đang kéo dài và tinh tử đã kéo dài. Tuy nhiên chất lượng tế bào này
như thế nào là vấn đề còn tiếp tục được nghiên cứu.
Trữ lạnh các tế bào dòng tinh nói chung và tế bào gốc sinh tinh nói
riêng giúp cho việc bảo tồn khả năng sinh sản cho nam giới trước khi điều trị
các bệnh ác tính bằng phẫu thuật, hoá chất, tia xạ cũng như một số bệnh lý
mạn tính như tiểu đường, rối loạn miễn dịch. Ngoài ra trữ lạnh tinh trùng lấy
từ mào tinh và mô tinh hoàn giúp cho tránh khỏi sinh thiết tinh hoàn nhiều lần
dế gây ra các biến chứng và tạo áp lực lớn về tâm lý cho bệnh nhân [26]. Việc
trữ lạnh tinh trùng đã trở thành thường qui trong các trung tâm hỗ trợ sinh
sản, tuy nhiên việc trữ lạnh tế bào gốc sinh tinh còn nhiều vấn đề còn tiếp tục
nghiên cứu.
Ðây là một nghiên cứu có khoa học, tính nhân văn. Kết hợp với quá
trình phân lập, nuôi cấy và bảo quản tế bào gốc sinh tinh, mở ra triển vọng
cho những bệnh nhân không có tinh trùng trong tinh dịch có thể có cơ hội có
29


những đứa con của chính mình. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến
hành nghiên cứu đề tài với 3 mục tiêu như sau:

trong số đó vô sinh nam chiếm một tỷ lệ rất lớn. Có rất nhiều nguyên nhân
dẫn đến vô sinh nam. Trong đó, vô sinh do không có tinh trùng trong tinh
dịch (azoospermia) là một nguyên nhân vô sinh nam trầm trọng và khó điều
trị nhất. Theo các thống kê cho thấy gần 20% các cặp vợ chồng ở Mỹ vô sinh,
gần 25% các cặp vô sinh bị thiểu năng tinh trùng. Khoảng 2% các cặp vợ
chồng vô sinh có chồng là azoospermia. Như vậy azoospermia chiếm khoảng
8% bệnh nhân vô sinh nam.
Thông thường người ta chia azoospermia làm 2 loại là azoospermia do
tắc (obstructive azoospermia) và azoospermia không do tắc (non-obstructive
azoospermia).
Azoospermia do tắc: nhóm bệnh nhân này bao gồm bệnh nhân thắt ống
dẫn tinh, không có ống dẫn tinh, biến chứng tắc ống dẫn tinh sau các phẫu
thuật, tắc hệ thống dẫn tinh sau các viêm nhiễm. Ở các bệnh nhân này, trong
tinh hoàn vẫn xảy ra quá trình sinh tinh bình thường.
Azoospermia không do tắc: là nhóm bệnh nhân mà không thể thu được
tinh trùng từ mào tinh. Ở các bệnh nhân này, trong tinh hoàn không xảy ra
quá trình sinh tinh bình thường [4].
31


Ngày nay, đối với các bệnh nhân azoospermia do tắc (obstructive
azoospermia), bệnh nhân có thể thu tinh trùng từ mào tinh hoặc tinh hoàn để
tiến hành làm phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn
(intracytoplasmic sperm injection- ICSI). Kỹ thuật ICSI được thực hiện thành
công trên thế giới vào năm 1992 [17]. Hiện nay, kỹ thuật ICSI có thể áp dụng
cho tất cả trường hợp vô sinh do nam giới, trừ những trường hợp hoàn toàn
không có tinh trùng trong ống sinh tinh. ICSI có thể thực hiện với tinh trùng
từ tinh dịch, tinh trùng hút từ mào tinh hay tinh trùng sinh thiết từ tinh hoàn.
Hiện nay, ICSI được xem là phương pháp điều trị vô sinh nam hiệu quả nhất,
tỉ lệ có thai của một chu kỳ điều trị thường trên 30%.

tương có bộ máy Golgi nhỏ, các ty thể hình cầu và rất nhiều Ribosom tự do.
Trong thời kỳ trưởng thành các tinh nguyên bào trải qua một loạt quá trình
gián phân. Kết quả, chúng tạo thành các tế bào giống như các tế bào ban đầu
gọi là tinh nguyên bào nhóm A, đây là nguồn duy trì tiếp tục của tinh nguyên
bào. Chúng cũng có thể phân chia và phát triển thành tế bào lớn hơn tinh
nguyên bào lúc đầu gọi là tinh nguyên bào nhóm B, các tế bào này tiếp tục
phát triển trở thành tinh bào I.
Ngay sau khi được tạo thành, các tinh nguyên bào nhóm B bước vào kỳ
đầu lần phân chia thứ nhất của quá trình giảm phân, lúc này các tinh bào I có
46 nhiễm sắc thể. Quá trình phát triển của tinh bào I kéo dài đến hết lần 1 của
giảm phân, dài 22 ngày. Tinh bào I có kích thước lớn nhất trong các tế bào
dòng tinh và đặc trưng bởi sự có mặt của các nhiễm sắc thể ở các giai đoạn
khác nhau của quá trình xoắn bên trong nhân tế bào.
Qua lần giảm phân đầu tiên, tinh bào I trở thành các tế bào nhỏ hơn, gọi
là tinh bào II. Tinh bào II có 23 nhiễm sắc thể. Tinh bào II rất khó quan sát
trên tiêu bản tinh hoàn vì chúng tồn tại trong thời gian rất ngắn, rồi tham gia
quá trình giảm phân thứ hai.

33


Kết quả của quá trình phân chia tinh bào II tạo ra tiền tinh trùng. Đó là các
tế bào có kích thước nhỏ, đường kính 7 – 8 µm, có một hạt nhân với vùng nhiễm
sắc thể dày đặc. Vị trí của tiền tinh trùng là ở gần lòng ống sinh tinh.
Tiền tinh trùng phải trải qua một quá trình biệt hoá phức tạp gọi là quá
trình tạo tinh trùng, bao gồm các quá trình như sau:
- Bất hoạt bộ gen để bảo toàn sự hoạt động của toàn bộ gen sau này.
- Nhiễm sắc thể đóng xoắn lại, thuận lợi cho quá trình di chuyển và làm
nhân nhỏ lại. Cụ thể trong quá trình này, histone ở nhân được thay thế bằng
protamine, đây là chất giúp sắp xếp lại chuỗi ADN ở nhân gọn hơn. Nhân tế

Quá trình sinh tinh trải qua 3 giai đoạn sau:
+ Sinh tinh bào: là quá trình tinh nguyên bào phân chia, tạo ra tinh bào.
+ Giảm phân: sản xuất ra các tế bào tiền tinh trùng hay còn gọi là tinh tử.
+ Tạo tinh trùng: là quá trình biệt hoá tiền tinh trùng thành tinh trùng.
2.1.4 Các tế bào gốc sinh tinh
Tế bào gốc (stem cell) là quần thể các tế bào có khả năng tự phân chia
và tự đổi mới vô hạn định, ngoài ra còn có khả năng biệt hoá thành nhiều
dạng tế bào của các mô khác nhau.
Các tế bào gốc phôi, có ở phôi vào khoảng từ 3 đến 5 ngày sau thụ tinh.
Các tế bào này có khả năng tăng sinh vô hạn định và có thể tự biệt hoá thành tất
cả các dạng mô trong cơ thể. Vì vậy, các tế bào này được gọi là tế bào gốc vạn
năng (có khả năng biệt hoá thành dạng mô bất kỳ - pluripotent stem cell) [20].
Các tế bào gốc trưởng thành thì có tính đặc hiệu mô hơn, khả năng
phân chia và biệt hóa ít hơn. Do đó, các tế bào này được gọi là tế bào gốc đa
năng (chỉ có khả năng biệt hoá thành một số dạng mô cụ thể với số lượng hạn
chế – multipotent stem cell) [18].
Tính “thường biến” của tế bào gốc phôi và tế bào gốc trưởng thành là
do các tế bào này có khả năng biệt hoá thành nhiều mô khác biệt với nguồn
gốc ban đầu của chúng. Vì vậy có khả năng phát triển qua lớp mầm phôi. Khả
năng tự tái tạo của tế bào gốc là đặc điểm rất quan trọng của chúng. Do đó các
35


tế bào gốc là nguồn tế bào chưa biệt hoá sơ khai. Ngược lại, hầu hết tế bào
sinh dưỡng có khả năng tự tái tạo hạn chế do đoạn cuối (telomere) của thể
nhiễm sắc bị co ngắn lại [35].
Hiện nay chúng ta có thể thu được tế bào gốc từ nhiều nguồn khác
nhau. Khả năng tạo ra nhiều chuỗi thế hệ của tế bào gốc phôi và tế bào gốc
trưởng thành đã được nghiên cứu và mô tả kỹ lưỡng qua nhiều nghiên cứu
khoa học. Cho dù tiềm năng của tế bào gốc phôi là vô cùng to lớn, nhưng việc

Các tế bào gốc sinh tinh là các tế bào nằm sát với màng đáy của ống
sinh tinh. Tế bào có nhân hình oval, hạt nhân nằm sát với màng nhân. Bào
tương sẫm màu với bộ máy Golgi nhỏ, ít ty thể và nhiều Ribosom tự do. Ngày
nay các nghiên cứu cho thấy CD24 và CD9 (CD9 còn có ở các tế bào gốc ở vị
trí khác) có ở tế bào gốc sinh tinh, không có CD34 [25].
Theo Shosei Yoshida, 2010 tỷ lệ các tế bào gốc sinh tinh của biểu mô
ống sinh tinh rất ít chỉ chiếm < 1% tổng số tế bào. Hiện nay người ta đã
nghiên cứu và nhận thấy có rất nhiều gen quyết định quá trình sinh tinh như
gen Plzf, một gen ức chế (transcriptional repressor). Nếu chuột mất gen này
thì quá trình sinh tinh không bình thường. Ngoài ra gen Bcl6b cũng giúp cho
việc duy trì sự tồn tại các stem cell. Ngoài ra các gen khác khi bị biến đổi
cũng làm thay đổi như Taf4b, Utp14b. Nhưng gen Etv5 ngoài tác động lên tế
bào stem cell còn tác động đến tế bào Sertoli. Gần đây người ta nhận thấy gen
nanos2 có vai trò then chốt trong việc duy trì và phát triển của stem cell [122].
Ở người tinh nguyên bào Adark được biết đến là tế bào có chức năng dự
trữ, rất ít phân chia trong điều kiện bình thường. Tinh nguyên bào Apale có
chức năng sinh ra các tế bào tiếp theo đó là tinh nguyên bào B; để sau đó
thành tinh bào [8].
Tanaka Atsushi, 2003 cho rằng tiêu chuẩn chọn tinh bào: đó là các tế
bào hình tròn, đường kính từ 12-15µm. Mito Kanatsu-Shinohara, 2004 cho
rằng CD9 chính là marker bề mặt để phát hiện các tinh nguyên bào ở chuột.
[22], [104].
37


2.1.5 Mào tinh
Ống mào tinh là một ống đơn, cong queo, độ dài khoảng 4 - 6m. Chính
ống này cùng mô liên kết xung quanh và mạch máu tạo nên thân và đuôi của
mào tinh hoàn. Biểu mô của mào tinh hoàn là biểu mô trụ cao giả tầng, gồm
có các tế bào đáy hình tròn và tế bào chính hình trụ. Các tế bào này nằm trên

này, tỉ lệ làm giầu tinh nguyên bào có thể lên đến trên 80%. Tuy đây là
phương pháp có hiệu quả chưa cao, nhưng dễ áp dụng.
2.1.6.2. Phương pháp STAPUT
- Được Dirami và CS thực hiện 1999. Đây là phương pháp phân lập
tinh nguyên bào có dùng các enzyme EDTA-trypsin và DNase I để tách rời
các tế bào ở biểu mô ống sinh tinh. Sau đó, các tế bào được đưa vào buồng
phân tách tế bào (Staput chamber) với nguyên lý hoạt động dựa vào trọng
lượng khác nhau của các loại tế bào. Tuy nhiên, hiệu quả của phương pháp
không cao [19].
2.1.6.3. Phương pháp dùng kháng thể bề mặt FACS
- Phương pháp FACS (Fluorecence activated cell sorting) được
Shinohara và CS, 2000; Fujita và CS, 2005; Guan và CS, 2006; Geens M và
CS tiến hành năm 2007; Mucksová J, 2009. Tỉ lệ làm giầu tinh nguyên bào
theo phương pháp này lên đến 97%, tuy nhiên giá thành đắt đỏ do trang bị
máy móc và hóa chất cao phức tạp [91].
2.1.6.4. Phương pháp sử dụng màng nền (màng đáy – laminin)
Phương pháp này được Pasi P tiến hành vào năm 1985, theo nguyên lý
các tinh bào và tế bào Sertoli bám vào màng đáy khi nuôi cấy còn các tinh
nguyên bào thì không bám vào màng đáy, do đó nổi lên trên. Theo một số tác
giả hiệu quả của phương pháp này có thể đạt 80 – 95%, do vậy đây là phương
pháp phân lập tế bào gốc sinh tinh khá hiệu quả và dễ thực hiện [92].
2.1.6.5. Phương pháp dùng lực từ tính MACS
Phương pháp MACS (Magnetic cell sorting) do Von Schonfeldt và CS
thực hiện 1999; Vander Wee và CS thực hiện 2001; Buageaw và CS thực hiện
39


2005. Đây là phương pháp này dựa trên nguyên lý: các kháng thể gắn vào các
kháng nguyên đặc hiệu trên bề mặt tế bào, ví dụ như các kháng thể c-kit,
GFR-α-1, Thy-1, α-6 và β-1 integrin, CD-9 là một loại protein vận chuyển

Như chúng ta đã biết trong các tế bào từ tinh hoàn thì tinh tử tròn, tinh tử
đang kéo dài, đã kéo dài và tinh trùng đều có bộ nhiễm sắc thể la 1N, các tế
bào còn lại là 2N và 4N có ở một số giai đoạn của tinh bào và tinh nguyên
bào. Các tế bào từ tinh hoàn sẽ được nhuộm bằng phương pháp fluorescent
dye. Shino-hara và CS, 2000; Hermann và CS, 2009 đã sử dụng phương pháp
FC để đánh giá phương pháp phân lập tinh nguyên bào. Ryu và CS, 2005,
Geising A và CS, 2010 đánh giá các tế bào sau nuôi cấy [44].
2.2. Tổng quan về tế bào nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh
2.2.1. Kỹ thuật vi thao tác trong hỗ trợ sinh sản [trích dẫn từ 115]
- 1987 Laws King và CS đã tiêm tinh trùng vào khoang dưới màng
zona.
- 1988, Lanzendorf và CS là người đầu tiên tiêm tinh trùng vào bào
tương noãn.
- 1990, Silber và CS đã thành công với đứa trẻ đầu tiên ra đời từ thụ
tinh trong ống nghiệm bằng tinh trùng thu được từ mào tinh.
- 1992, Palermo và CS đã thực hiện thành công kỹ thuật ICSI cho bệnh
nhân thiểu năng tinh trùng nặng.
- Devoey và CS, 1994; Silber và CS, 1994 đã tiến hành thành công kỹ
thuật ICSI với tinh trùng lấy từ mào tinh [35].
- Với sự phát triển của kỹ thuật ICSI, nhiều nhà khoa học đã tiến hành
tiêm tinh tử, thậm chí cả tinh tử tròn vào bào tương noãn và đã thu được thành
công đáng kể. Tesarik và CS, 1995; Bernabeu và CS, 2000; Balaban và CS,
2000, đã tạo thành phôi từ các tinh tử và đã có những đứa trẻ khỏe mạnh ra
đời. Tuy vậy, tất cả các tác giả đều công bố tỷ lệ rất thấp [22], [23], [105].
41


- Hiện nay, nhiều tác giả đã tiến hành tiêm các tinh tử và tinh trùng sau
nuôi cấy vào bào tương noãn và đã thu được kết quả [23], [86], [102].
2.2.2. Nghiên cứu về nuôi cấy tế bào dòng tinh [trích dẫn từ 102]

1. Dùng enzym để tách cấu trúc trung gian giữa tế bào Sertoli và tế bào
mầm càng ít càng tốt.
2. Tập hợp các đám lớn mật độ tế bào Sertoli để giữ trạng thái liên kết.
3. Sử dụng môi trường hóa học xác đinh bổ sung các hocmon như là
testosteron, các yếu tố phát triển.
4. Thường xuyên thay đổi môi trường nuôi cấy.
Kết quả cho thấy các tinh tử tròn có thể mọc đuôi trong môi trường
nuôi cấy và diển biến theo thời gian thay thế các histone trong các tinh
nguyên bào nuôi cấy là phù hợp với quan sát được trong tự nhiên
Trước đó Hadley et al, 1985 đã sử dụng một màng đáy tổng hợp và
thấy rằng một số tinh nguyên bào có thể phát triển thành tinh bào 1 trong môi
trường nuôi cấy có tế bào Sertoli.
Từ giữa những năm 70, người ta đã làm giàu được các tế bào dòng tinh
ở các đoạn phát triển khác nhau. Tuy nhiên, việc loại bỏ các tế bào khỏi môi
trường sinh lý và nuôi cấy in vitro là vấn đề tiếp tục được nghiên cứu. Thứ
nhất, sự phân lập nguyên vẹn vài lớp tế bào dòng tinh là không thể thực hiện
được do sự liên quan đến cấu trúc phức tạp của tế bào Sertoli. Thứ hai, trong
nuôi cấy riêng biệt sự trao đổi chất của các tế bào dòng tinh có thay đổi rất
lớn và các tế bào này không thể tồn tại được vài giờ hay vài ngày (Grooteged
et al, 1977, 1989; Jutte et al, 1981, 1982; Le Magueresse và Jégou, 1988;
Matsui et al 1991; Risley và Morse-Gaudio, 1992) do chúng rất dể bị tổn
thương khi phân lập. Các tế bào dòng tinh, đặt biệt là các tinh tử có thể tổng
hợp nhiều protein khác nhau trong thời gian nuôi cấy ngắn hạn (Gerton và
Millette, 1986). Tuy nhiên, người ta không biết là các sự kiện này có đúng
sinh lý hay không hoặc là chúng phản ứng lại các kích thích trong điều kiện
nuôi cấy, bởi vì các tế bào không chết ồ ạt trong các điều kiện thử nghiệm
43


này. Các tinh tử ở chuột có thể mọc đuôi trong vòng 24h nuôi cấy. Nhiệt độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status