TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SP TOÁN HỌC
------------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC KỂ CHUYỆN Ở
LỚP 5
Giáo viên hướng dẫn
ThS. Đặng Thị Hoa
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thảo An
MSSV: 1110281
Lớp: Giáo dục Tiểu học K37
Cần Thơ, 2015
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT/ KÍ HIỆU
GV
HS
GD
TG
Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thảo An
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
- Kể chuyện là một phân môn của Tiếng Việt, do đó việc dạy tốt phân
môn này chính là đã góp phần vào việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ và mục tiêu
mà bộ môn dạy học tiếng Việt đề ra. Điều này được thể hiện rõ thông qua mục
đích và ý nghĩa của phân môn Kể chuyện. Cụ thể như sau:
Một là: Môn học này nhằm thoả mãn nhu cầu được nghe kể chuyện của trẻ,
đồng thời nó còn mang lại những xúc cảm thẩm mĩ cho tâm hồn học sinh.
Hai là: Những câu chuyện kể sẽ góp phần giáo dục các em một cách hết
sức tự nhiên, nhẹ nhàng và thoải mái. Góp nhặt từng chút một từ ý nghĩa của mỗi
câu chuyện, các em sẽ ngày càng tự hoàn thiện nhân cách của mình.
Ba là: Giờ kể chuyện còn góp phần tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn
sống cho trẻ. Thông qua việc kể lại các câu chuyện dưới các dạng bài khác nhau
các em đã tiếp xúc với các tác phẩm văn học, điều này đồng nghĩa với việc vốn
văn học của các em được tích luỹ dần trong dạy học Kể chuyện. Song song đó,
các giờ kể chuyện còn mở ra cho các em một tầm hiểu biết mới hơn về cuộc sống
xung quanh.
Bốn là: Trí tưởng tượng của các em ngày càng phát triển nhờ vào việc
được nghe hoặc kể lại các câu chuyện. Các câu chuyện cũng gieo vào tâm hồn
các em những ước mơ, hoài bão về một tương lai tươi đẹp.
Năm là: Việc kể lại câu chuyện bằng lời của mình đã góp phần rèn luyện
và phát triển kĩ năng nói, kể trước đám đông. Từ đó, các em sẽ tự tin, mạnh dạn
như sau:
Do giáo viên chưa có một quan miện đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng
của việc dạy học Kể chuyện cũng như họ chưa hiểu đầy đủ những ích lợi mà Kể
chuyện mang lại nên họ nghĩ rằng đây là môn học không phải là thật sự cần thiết
đối với học sinh. Vì lẽ đó nên giáo viên rất ít đầu tư cho việc dạy học Kể chuyện
(từ việc rèn luyện kĩ năng kể chuyện cho bản thân đến việc tìm ra phương pháp
phù hợp để hướng dẫn cho học sinh).
Giáo viên chưa có phương pháp dạy tốt nên học sinh chưa thể có một giờ
học Kể chuyện thật sự thú vị. Điều này dẫn tới việc các em không hứng thú thậm
chí còn không thích học mặc dù trẻ em nào hầu như cũng rất thích kể chuyện.
Những điều trên đây đã dẫn đến một hệ quả tất yếu là chất lượng dạy học
Kể chuyện ở tiểu học, trong đó có lớp 5 chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
2
Chọn đề tài “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Kể chuyện
lớp 5” làm khóa luận tốt nghiệp, tôi hi vọng sẽ khắc phục được những thực tế nói
trên từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của giờ
dạy và học kể chuyện cho HS lớp 5 nói chung và tiểu học nói riêng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kể chuyện là một loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời. Nó xuất hiện cả
trước khi con người tìm ra chữ viết. Điều này được chứng minh bằng một kho
tàng văn học dân gian khổng lồ mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta. Kể
chuyện đã sớm được đưa vào chương trình giảng dạy trong trường tiểu học. Và,
nó đã được các em học sinh đón nhận rất hào hứng vì đây là một môn học lí thú
và hấp dẫn. Tuy nhiên để giảng dạy tốt môn học, người giáo viên cần có những
hiểu biết về một số điểm lí luận cơ bản về phương pháp và kĩ thuật dạy học phân
môn này. Xuất phát từ yêu cầu trên, một số nhà khoa học đã lao vào nghiên cứu
vấn đề này nhưng số lượng các công trình hãy còn khá khiêm tốn.
những bài soạn mẫu rất cụ thể.
Xuất phát từ quan điểm: Tiếng Việt - là công cụ, là phương tiện lĩnh hội
tiếp thu nền văn hoá của dân tộc, nền văn minh của nhân loại – phải được coi
trọng từ thời thơ ấu, cần được tổ chức hướng dẫn dạy dỗ thật khoa học, Nguyễn
Xuân Khoa đã cho ra mắt bạn đọc quyển Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo. Dạy học kể chuyện là một trong những phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mà tác giả đã đề cập tới. Trong đó, tác giả đã chỉ ra phương
pháp cũng như nghệ thuật đọc và kể chuyện thật cụ thể.
Quyển giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2 do đồng tác giả Lê
Phương Nga và Nguyễn Trí biên soạn cũng đã đề cập đến phương pháp dạy học
Kể chuyện. Viết về phương pháp dạy học kể chuyện, các tác giả đã vạch ra mục
đích quan trọng và ý nghĩa thiết thực của việc dạy học kể chuyện. Đồng thời, các
tác giả cũng đã xây dựng cách thức tổ chức cũng như các hoạt động chủ yếu
trong tiết kể chuyện. Đặc biệt, các tác giả đã nhấn mạnh đến việc rèn kĩ năng
nghe và kể cho học sinh.
Trong đề tài Truyện cổ tích và một số biện pháp dạy học kể chuyện cổ tích
cho học sinh lớp 1, 2, 3 của Phạm Thị Thu Thuỷ, tác giả đã đưa ra một số biện
pháp dạy học kể chuyện cổ tích ở lớp 1, 2, 3 khá cụ thể.
Xác định quan niệm và biện pháp dạy học Kể chuyện ở Tiểu học của Trần
Thị Mến ngoài việc xác định quan niệm về việc dạy học kể chuyện ở Tiểu học,
trong đề tài này, tác giả còn đề xuất một số biện pháp dạy học kể chuyện ở Tiểu
4
học nhưng cũng chỉ dừng lại ở hướng dẫn học sinh kể lại câu chuyện vừa được
nghe thầy cô kể.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên đây là rất giá trị cho giáo viên trong
việc dạy học kể chuyện theo chương trình cải cách giáo dục. Đối với chương
trình 2000 thì các công trình trên đây chỉ có thể áp dụng với các lớp 1,2,3 và kiểu
bài Nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe trên lớp ở lớp 4-5.
- Từ những thức trạng đã tìm hiểu, tôi đã tìm ra một số biện pháp để cùng
giáo viên tháo gỡ những khó khăn trong dạy học Kể chuyện thời gian qua. Ngoài
ra đề tài còn đưa ra một số biện pháp để rèn kĩ năng kể chuyện cho HS lớp 5, tạo
hứng thú học tập và giúp các em nhận thấy tầm quan trọng của phân môn kể
chuyện từ đó giáo dục động cơ học tập cho các em. Những việc làm trên nhằm
mục đích nâng cao hiệu quả dạy học Kể chuyện ở lớp 5 nói riêng và ở tiểu học
nói chung.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Các biện pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng
dạy học Kể chuyện lớp 5.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phân tích tài liệu: Đọc, nghiên cứu và sử dụng các tài liệu có liên
quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu quan niệm
của giáo viên về Kể chuyện, ý thức học tập của học sinh và thực trạng việc dạy
học Kể chuyện hiện nay.
5.3. Quan sát: Dự một số giờ dạy thực tế để nắm được cách thức dạy học
của giáo viên và kĩ năng kể chuyện của học sinh ở lớp 5 đồng thời cũng nhằm bổ
sung, tăng độ chính xác, khách quan cho việc điều tra.
5.4. Thực nghiệm sư phạm: Nhằm kiểm tra tính khoa học và tính khả thi
của những biện pháp đã đề xuất.
5.5. Tổng hợp và thống kê các kết quả thu được từ điều tra, quan sát và
thực nghiệm sư phạm.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương I. Cơ sở lí luận của việc dạy học Kể chuyện ở Tiểu học.
1.1 Quan niệm chung về kể chuyện
1.1.1 Quan niệm về kể và kể chuyện
1.1.2 Nhu cầu kể chuyện trong cuộc sống
6
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC KỂ CHUYỆN Ở TIỂU HỌC
1.1. Quan niệm chung về kể chuyện
1.1.1. Quan niệm về kể và kể chuyện
Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân chủ biên giải thích “kể” tức là nói một sự
việc có mở đầu, diễn biến và kết thúc.
Tác giả Nguyễn Trí cho rằng: Kể chuyện là một phương thức tự sự, một
phương thức biểu đạt để kể các chuyện. Theo quan niệm này, muốn kể chuyện
chúng ta phải có chuyện để kể. Hay nói cách khác là người ta dùng cách kể
chuyện khi có chuyện muốn kể.
Thuật ngữ kể chuyện cũng được tác giả Chu Huy trình bày trong quyển
Dạy học kể chuyện ở trường Tiểu học. Theo đó, ông cho rằng “ kể chuyện” bao
gồm bốn phạm trù ngữ nghĩa sau:
Một là: Chỉ loại hình tự sự trong văn học (phân biệt với loại hình trữ tình,
loại hình kịch) còn gọi là truyện hay tiểu thuyết.
Hai là: Chỉ tên một phương pháp nói trong diễn giảng.
Ba là: Chỉ tên một loại văn thuật chuyện trong môn Tập làm văn.
Bốn là: Chỉ tên một phân môn ở các lớp trong trường tiểu học.
Ở phạm trù ngữ nghĩa thứ nhất, tác giả cho rằng kể chuyện là một loại
hình trong sáng tác văn học mà đặc trưng của nó là phải có tình tiết, tức là sự
việc đang xảy ra, đang diễn biến, có nhân vật với ngôn ngữ, tâm trạng, tính cách
riêng. Theo đó thì phạm trù ngữ nghĩa này chỉ đề cập tới “ chuyện” mà chưa nói
tới hoạt động “kể”.
Ở phạm trù ngữ nghĩa thứ hai, tác giả cho rằng kể chuyện là một phương
pháp trực quan sinh động bằng lời nói. Theo cách hiểu này, tác giả đã quan niệm
kể chuyện là một phương pháp dùng lời để trình bày một vấn đề một cách sinh
động nhằm thu hút sự chú ý của người nghe.
Nếu ở phạm trù ngữ nghĩa thứ nhất, tác giả xem kể chuyện chỉ hàm chứa
nội dung thì trong phạm trù ngữ nghĩa thứ hai, tác giả lại cho rằng kể chuyện là
8
hệ trước để lại. Những câu chuyện này chủ yếu nói về kinh nghiệm sản xuất hoặc
giải thích các hiện tượng thiên nhiên hay ước mơ chinh phục thiên nhiên của
9
người xưa. Đó chính là kho tàng văn học dân gian đồ sộ và vô cùng quý giá mà
nhân loại bao thế hệ đã dành tặng cho hậu thế.
Khi chữ viết xuất hiện cũng là lúc nền văn học viết ra đời, hơn bao giờ
hết nhu cầu kể chuyện của con người là rất cao. Điều này thể hiện ở việc con
người ghi lại những câu chuyện dân gian để tiếp tục kể lại và lưu truyền lâu dài
cho đời sau. Song song đó, con người luôn không ngừng đua nhau sáng tác thêm
rất nhiều câu chuyện mang hơi thở của thời đại nhằm đáp ứng nhu cầu về kể
chuyện ngày càng cao của con người.
Tóm lại, kể chuyện là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống con
người. Dù muốn dù không nhu cầu này vẫn tồn tại và phát triển một cách tự
nhiên từ đời này qua đời khác và ngày càng cao.
1.1.3. Nhu cầu kể chuyện đối với trẻ
Từ lúc bập bẹ tập nói, các em nhỏ đã rất thích nghe kể chuyện. Những câu
chuyện của bà luôn là niềm hứng khởi đối với các em và nó đã để lại trong lòng
các em những tình cảm tốt đẹp. Khi đến tuổi mẫu giáo, nhu cầu được nghe cũng
như được kể chuyện của các em lại tăng lên. Bộ môn cho trẻ làm quen với tác
phẩm văn học mà chủ yếu là cho trẻ làm quen với truyện và thơ là bộ môn quan
trọng ở các lớp mẫu giáo.
Đến khi bước vào tuổi tiểu học, nhu cầu về kể chuyện lại tiếp tục tăng,
đặc biệt là đối với các loại truyện cổ dân gian. Vì sao vậy? Vì những truyện kể
dân gian là những câu chuyện rất gần gũi với các em, các em đã được làm quen
với chúng từ rất sớm. Những câu chuyện này giúp các em nhận thức thế giới và
chúng cũng giúp các em chính xác hoá những biểu tượng đã có về tự nhiên và xã
hội. Đồng thời chúng từng bước cung cấp thêm những khái niệm mới và mở
Theo tác giả Hoàng Hoà Bình, dạy học kể chuyện ở tiểu học nhằm đạt các
mục tiêu sau:
Một là, cùng với phân môn Tập đọc, kể chuyện bước đầu cho các em tiếp
xúc với ngôn ngữ văn học, biết rung cảm trước vẻ đẹp của nó. Đồng thời các em
nắm được một số đặc điểm chính yếu của nó để vận dụng trong việc tiếp nhận
các tác phẩm văn học và trong việc sáng tạo lời nói phục vụ cho hoạt động giao
tiếp.
Hai là, bước đầu cho các em tiếp xúc với hình tượng văn học, rung cảm
trước những vui, buồn, yêu, ghét của con người. Từ đó hình thành và phát triển
nhận thức, tình cảm và thái độ đúng đắn trong cuộc sống như biết phân biệt cái
đẹp với cái xấu, cái thiện với cái ác, cái đúng với cái sai; biết yêu thương trường
11
lớp, thầy cô, bạn bè, quê hương, đất nước; có lòng nhân ái vị tha; có ý thức về
bổn phận với ông bà, cha mẹ, người thân, thầy cô giáo, bạn bè; biết tôn trọng nội
qui, tôn trọng pháp luật, bảo vệ của công, bảo vệ môi trường; biết sống tự tin,
năng động, trung thực, dũng cảm; có ý thức và nhu cầu nhận thức bản thân.
Ba là, bước đầu rèn luyện và hình thành các kĩ năng cơ bản như biết kể
chuyện, biết tóm tắt câu chuyện, biết rút ra ý nghĩa câu chuyện, biết nhận xét,
nêu cảm nghĩ của mình về các nhân vật có trong truyện... để vận dụng trong học
tập trên lớp và trong thưởng thức nghệ thuật ngoài lớp.
1.2.1.2. Nhiệm vụ của phân môn Kể chuyện ở trường Tiểu học
Trong quyển Dạy kể chuyện ở trường Tiểu học, tác giả Chu Huy đã chỉ ra
nhiệm vụ cơ bản của phân môn kể chuyện là: bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm
vui, trau dồi vốn sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ.
Chúng ta có thể hiểu các nhiệm vụ của kể chuyện cụ thể như sau:
Nhiệm vụ thứ nhất là bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui cho trẻ. Kể
chuyện đã đáp ứng nhu cầu nghe kể chuyện của trẻ. Đối với các em nhu cầu này
rất lớn (như đã nói đến ở phần trên). Các câu chuyện được sử dụng để kể cho trẻ
tạo cho các em hứng thú học tập.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động dạy học Kể chuyện ở Tiểu học
1.2.2.1. Kể chuyện là hoạt động lời nói – là một dạng độc thoại đặc
biệt
Tác giả Nguyễn Trí cho rằng: Nói là hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ
máy phát âm. Đầu tiên người nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọn ngôn
ngữ để diễn tả nội dung ấy. Sau đó người nói sử dụng bộ máy phát âm để truyền
đi chuỗi lời nói đã được xác định.
Như vậy muốn người khác hiểu được những ý nghĩ của mình, con người
phải sử dụng bộ máy phát âm để chuyển đổi những ý nghĩ đó thành lời nói. Hay
nói cách khác là để tiến hành hoạt động giao tiếp con người phải sử dụng lời nói
phù hợp với những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau. Hoạt động lời nói là một
phương thức giao tiếp, trong đó, con người sử dụng lời nói trực tiếp hoặc gián
tiếp nhằm mục đích trao đổi thông tin cho nhau.
Theo quan niệm về kể chuyện thì hoạt động chủ yếu của kể chuyện là hoạt
động ngôn ngữ nói. Đó là hoạt động lời nói sinh động. Về bản chất
“ truyện”
xuất phát từ hoạt động “ nói chuyện” nên khi tái tạo lại truyện thì phải tái tạo
bằng cách“ kể” sao cho truyền cảm thì mới chuyển tải hết cái hay, cái đẹp của
câu chuyện. Muốn đạt được điều này, ngoài phương tiện chính là ngôn ngữ,
13
người kể còn phải sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ như: cử chỉ, điệu bộ, nét
mặt,... để hỗ trợ.
Về bản chất chúng ta có thể xem kể chuyện là một kiểu đặc biệt của dạng
nói độc thoại.
Trong quyển Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trính
cho phù hợp như truyện cười phải được kể với giọng vui tươi, truyện ngụ ngôn
sẽ được kể với giọng châm biếm, còn giọng hùng tráng được dành để kể chuyện
thần thoại, với cổ tích thì giọng trầm tĩnh, trong sáng là phù hợp nhất. Tuy nhiên,
sắc thái giọng của hầu hết các truyện không phải lúc nào cũng như nhau từ đầu
đến cuối truyện mà phải thay đổi cho phù hợp với từng tình tiết cụ thể. Ví dụ khi
kể chuyện Ông Nguyễn Khoa Đăng (lớp 5, tuần 22), chúng ta sẽ kể với giọng
trầm tĩnh ở đoạn (từ một lần cho đến lính bắt họ giải về quan) để thuật lại
nguyên nhân vụ kiện của người bán dầu nhưng ở đoạn kể lại cuộc chiến giữa
quân của triều đình với bọn cướp thì chúng ta phải kể với giọng hùng tráng để
thấy được sức mạnh của quân triều đình.
Hai là kĩ thuật ngắt giọng: Ngắt giọng là cách ngừng, nghỉ giọng trong khi
kể để bộc lộ ý tứ của câu chuyện.
Trong Kể chuyện, chúng ta thường sử dụng hai kĩ thuật ngắt giọng sau:
Thứ nhất là ngắt giọng lô-gíc: Đó là những chỗ dừng lại giữa các từ,
nhóm từ có quan hệ mật thiết với nhau về nghĩa. Cách ngắt giọng này chủ yếu
dựa vào dấu hiệu hình thức đó là các dấu câu hoặc dựa vào cấu trúc câu (trạng
ngữ/ chủ ngữ/ vị ngữ). Nhờ ngắt giọng lô-gíc, chúng ta hiểu được ý nghĩa của
câu nói một cách rõ ràng, đầy đủ hơn.
Thứ hai là ngắt giọng tâm lí: Ngắt giọng tâm lí là một phương tiện tác
động đến tình cảm của người nghe. Như vậy nếu ngắt giọng lô gích phục vụ cho
trí tuệ thì ngắt giọng tâm lí phục vụ cho tình cảm... Sự im lặng có tác dụng truyền
cảm, đó chính là ngắt giọng tâm lí”.
Ngắt giọng tâm lí bắt nguồn từ trạng thái tâm hồn của người kể, nó được
xác định bằng sự hàm ý, bằng thái độ của người kể, nó phản ánh hoạt động sáng
tạo của người kể. Ngắt giọng lô gích có thể trùng hoặc không trùng với ngắt
giọng lô gích. Ví dụ khi kể đoạn nói về suy nghĩ của Pa-xtơ khi nhìn thấy em bé
đau đớn trong câu chuyện Pa-xtơ và em bé (lớp 5, tuần 14), để diễn tả nỗi xót
thương em bé của Pa-xtơ, ta có cách ngắt giọng tâm lí như sau: “ Nhìn vẻ đau
đớn của em bé/ và đôi mắt đỏ hoe rưng rưng muốn khóc của người mẹ,/ lòng Pa-
động có suy nghĩ. Mọi việc tôi làm đều vì mục đích cách mạng. Tôi chưa đến tuổi
thành niên thật nhưng tôi đủ trí khôn để hiểu rằng thanh niên Việt Nam chỉ có
một con đường duy nhất là làm cách mạng, không có con đường nào khác”. Một
ví dụ khác, chúng ta sẽ kể giọng trầm lặng với đoạn sau để thể hiện lòng đau xót
16
đối với những đồng bào, với quê hương ta đã bị bọn lính Mĩ giết hại, tàn sát một
cách vô cùng dã man: “ Vào sáng ngày 16 tháng 3 năm 1968, chỉ trong vòng bốn
tiếng đồng hồ, quân đội Mĩ đã huỷ diệt hoàn toàn mảnh đất này: thiêu cháy nhà
cửa, ruộng vườn, giết hại gia súc, bắn chết 504 người, phần lớn là cụ già, trẻ
em và phụ nữ mang thai. Có gia đình 11 người bị lính Mĩ ập tới, xả súng giết
đồng loạt trong ít phút. Có những đứa bé bị bắn khi đang bú trên xác mẹ”
(Tiếng vĩ cầm ở Mĩ Lai- Lớp 5, tuần 4).
Việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ trong kể chuyện. Ngoài những kĩ
thuật về mặt âm thanh đã nêu trên, trong khi kể chuyện, người kể cần sử dụng
phối hợp các yếu tố phi ngôn ngữ nhằm tăng sức hấp dẫn của lời kể. Lời kể của
chúng ta sẽ tạo ra sức hấp dẫn bội phần nếu như nó được kết hợp chặt chẽ, hài
hoà với tư thế, nét mặt và cử chỉ.
Yêu cầu về tư thế là người kể, trong lúc kể, phải giữ tư thế của mình sao
cho tự nhiên và đẹp, đĩnh đạc, không gò bó.
Nét mặt của người kể là rất quan trọng đối với việc truyền cảm câu
chuyện. Vẻ mặt của người kể giúp cho người nghe dễ dàng tiếp thu được ý nghĩa
của câu chuyện. Vẻ mặt phải được biểu hiện sao cho phù hợp với nội dung câu
chuyện. Nếu là một câu chuyện vui thì nét mặt người kể phải biểu lộ vẻ tươi vui.
Nếu là một câu chuyện buồn thì nét mặt phải lộ vẻ buồn rầu, ủ dột, thương cảm.
Những vẻ mặt đó tự nó xuất hiện nếu người kể thấu hiểu nội dung và cảm thụ
được nó. Người kể chuyện mà vẻ mặt dửng dưng, thờ ơ, lãnh đạm là điều cần
tránh. Vì như thế người nghe sẽ bị đẩy đến chỗ tách biệt với người kể. Đặc biệt
đối với học sinh, điều đó sẽ ngăn cản không cho các em nhận thức được ý nghĩa
thần, tình cảm, thế giới tinh thần con người thật đa dạng, phong phú và bí ẩn.
Cũng chính nhờ quá trình nhận thức về con người mà người đọc, người nghe có
được một hoạt động tự nhận thức. Đó là quá trình đối chiếu, liên tưởng, nghiền
ngẫm, tự quan sát và hiểu mình hơn.
Tóm lại, do bản chất phản ánh đới sống con người trong tính toàn vẹn sinh
động mà các tác phẩm văn học có thể cung cấp cho người đọc, người nghe một
vốn tri thức phong phú về nhiều mặt: từ cây cỏ, chim muông, vật dụng cho đến
phong tục tập quán, các trạng thái tình cảm và đời sống tinh thần của con người.
Nếu có dịp đọc qua các câu chuyện dành cho các em, chúng ta sẽ tìm thấy tất cả
những điều đó trong các câu chuyện ấy.
Ngoài việc cung cấp cho con người những hiểu biết về thế giới xung
quanh, văn học còn giúp con người hiểu được chính mình, nhờ hiểu được mình
18
nên con người tự tin với chính mình hơn. Văn học cũng góp phần làm nảy sinh
trong con người một khát vọng hướng tới chân lí, đấu tranh với cái xấu xa trong
con người, biết tìm thấy cái tốt của con người và thức tỉnh trong tâm hồn họ sự
xấu hổ, chí căm thù và lòng dũng cảm, biết làm tất cả để con người lành mạnh
hơn và tắm đẫm cuộc sống con người trong ánh sáng thiêng liêng của vẻ đẹp.
Như vậy, các tác phẩm văn học được sử dụng trong Kể chuyện còn có tác
dụng nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, tình cảm, đạo đức cho con người. Nó giúp con
người nhận ra cái đẹp, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái thật, cái giả.... Đồng thời, nó
còn gieo vào lòng ta một sự cảm thông sâu sắc với nỗi đau, sự cô đơn, tủi nhục
của người khác. Nó làm cho chúng ta hiểu rằng nỗi đau không của riêng ai.
Rõ ràng qua mỗi câu chuyện các em sẽ được bồi dưỡng một phẩm chất
trong các phẩm chất trên. Nội dung giáo dục được thể hiện trong ý nghĩa của câu
chuyện mà trong giờ dạy chúng ta yêu cầu các em tìm ra. Trong chương trình kể
chuyện ở tiểu học, mỗi câu chuyện gắn với một chủ điểm cụ thể. Các chủ điểm
đó cũng chính là nội dung giáo dục mà các câu chuyện hướng tới. Ví dụ ở lớp 5,
Ngoài việc cảm nhận vẻ đẹp do nội dung tác phẩm mang lại, người đọc,
người nghe còn cảm nhận được vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ.
Ngoài ra tác phẩm văn học còn đưa ra nội dung giao tiếp cụ thể. Nhưng
tác phẩm văn học không phải đưa ra một thứ kí hiệu giao tiếp thông thường mà
nó còn chứa đựng nội dung tư tưởng tình cảm và mang tính xã hội rất đậm nét.
Do đó tác phẩm nghệ thuật trở thành phương tiện có hiệu quả nhất đưa con người
xích lại gần nhau hơn về tình cảm cũng như về mặt tinh thần.
1.2.2.3. Kể chuyện là một hoạt động sáng tạo nghệ thuật
Kể chuyện có tính chất sáng tạo vì khi kể, người kể đã chuyển văn bản từ
ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ nói. Đồng thời, người kể cũng thể hiện mối quan
hệ riêng của mình đối với tác phẩm và kể theo phong cách riêng của mình. Trong
kể chuyện, người kể sử dụng ngôn từ theo cách riêng của mình để dựng lại câu
chuyện và gửi gắm tình cảm, cách nghĩ, cách nhìn của mình đối với những sự
kiện, nhân vật trong tác phẩm. Ngôn ngữ được người kể sử dụng ở đây là ngôn
ngữ nói, nó mang tính trực giác và biểu cảm, nó gắn liền với ngữ cảnh và hoàn
cảnh nói. Cho nên ngôn ngữ kể có đôi lúc không phải sử dụng giống y như ngôn
ngữ viết trong tác phẩm. Có thể nói cách khác là người kể chuyện đã tái tạo tác
phẩm văn học một cách nghệ thuật.
Đặc biệt đối với kiểu bài kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia thì
hoạt đông sáng tạo nghệ thuật thể hiện rất rõ nét. Điều đó được thể hiện ở chỗ là
20
từ những sự việc được nhìn thấy hoặc được trực tiếp tham gia, các em phải biết
sử dụng ngôn ngữ của mình để kể lại cho người khác nghe. Muốn câu chuyện kể
của mình hấp dẫn, thu hút sự chú ý của người khác, các em phải biết lựa chọn và
sử dụng ngôn ngữ một cách hay nhất. Và lúc này, các em không phải là người tái
tạo mà chính các em là người đã sáng tạo hoàn toàn ra câu chuyện.
Như đã trình bày ở phần trên, kể chuyện là một hoạt động lời nói. Cho
nên kể chuyện là hoạt động nghệ thuật của lời nói như ngữ điệu, cách ngắt giọng,
Cha mẹ; Anh em; Bạn trong nhà; Bốn mùa; Chim chóc; Muông thú; Sông biển;
Cây cối; Bác Hồ và Nhân dân.
Với lớp 2, kể chuyện có ba hình thức chủ yếu, đó là: kể theo tranh, kể
theo dàn ý cho sẵn hoặc kể theo lối phân vai.
Đối với lớp 3: Nội dung truyện kể chính là những văn bản các em vừa học
trong bài tập đọc. Kể chuyện ở lớp ba không có tiết riêng mà được bố trí chung
với tiết Tập đọc, nó chiếm thời lượng khoảng nửa tiết. Nội dung các câu chuyện
ở lớp 3 phục vụ các chủ điểm: Măng non; Mái ấm; Tới trường; Cộng đồng; Quê
hương; Bắc-Trung-Nam; Anh em một nhà; Thành thị và nông thôn; Bảo vệ Tổ
quốc; Sáng tạo; Nghệ thuật; Lễ hội; Thể thao; Ngôi nhà chung và Bầu trời và
mặt đất.
Về hình thức, ở lớp 3 có bốn hình thức kể, trong đó có ba hình thức giống
với lớp hai, và một hình thức mới là Tự đặt tên cho các đoạn rồi kể lại.
Nội dung dạy học kể chuyện ở lớp 4 và lớp 5 nhằm củng cố kĩ năng kể
chuyện đã được hình thành ở các lớp dưới đồng thời hình thành cho các em
những kĩ năng mới về kể chuyện.
Nội dung dạy học nhằm củng cố kĩ năng kể chuyện đã được hình thành ở
các lớp dưới: Đây là kiểu bài tập kể chuyện ở tuần thứ nhất trong một chủ điểm
học tập. Trong trường hợp này, câu chuyện có độ dài khoảng trên dưới 500 chữ,
được in trong sách giáo viên. Sách giáo khoa chỉ trình bày tranh hoặc tranh kèm
lời dẫn giải ngắn gọn. Bên cạnh mục đích chung là rèn kĩ năng nói, kiểu bài tập
này còn có mục đích rèn kĩ năng nghe cho học sinh.
Nội dung dạy học nhằm hình thành những kĩ năng mới về kể chuyện: Nội
dung này được thể hiện ở việc các em phải kể lại những câu chuyện đã nghe, đã
đọc (không phải vừa được nghe trên lớp) và những câu chuyện các em được
chứng kiến hoặc tham gia. Với việc kể lại những câu chuyện đã nghe, đã đọc thì
nội dung là những câu chuyện các em đã được nghe hoặc đã được đọc từ bất kì
kênh thông tin nào. Nội dung của những câu chuyện được chứng kiến hoặc tham
22