Chương I
Sự phát triển của hệ thống thông tin di động vệ
tinh
I. Sự phát triển của ngành viễn thông di động
Hệ thống thông tin di động được chia làm 2 loại chính là:Trên măt đất
và vệ tinh. Ơ cả hai loại hình này tính di động có được là do kết nối tần
số vô tuyến (RF) giữa chuyển tiếp và nối với mạng cố định và mỗi thuê
bao người dùng, cho đến gần đây cả hai hệ thống này vần còn phát triển
độc lập. Hệ thống di động mặt đất thích hợp nhất với môi trường ở
thành phố, trái lại hệ thống di động vệ tinh lại cung cấp các giải pháp
thông tin có hiệu quả cho các vùng sâu vùng xa như ngoài khơi, hành
lang hàng không hay những vùng heo hút. Đầu năm 1990 công nghệ
MSS đã phát triển vượt bậc đến mức mà các nhà lập kế hoạch hệ thống
đã bắt đầu định giá được những nguồn lợi và kỹ năng có được từ việc
hợp nhất hai công nghệ này từ đó dẫn đến sự khởi đầu của quá trình
từng bước hợp nhất của hai hệ thống vào cuối thập kỷ tiến tới hợp nhất
hoàn toàn trong tương lai gần.
I.1. Hệ thống mặt đất
người ta đã nhận ra tiềm năng thông tin di động ngay từ những buổi
đầu của vô tuyến vào cuối những năm 1800 vô tuyến di động sử dụng
sớm nhất là trong ngành hàng hải và cưu hộ. Trước và trong chiến tranh
thế giới lần thứ 2 hệ thống thông tin di động chỉ được giới hạn trong
lĩnh vực quân sự. Các đèn chân không và pin làm cho máy điện đài trở
nên đồ sộ hạn chế tác dụng của chúng trong chuyên môn đến những
năm 1950 sự tiến bộ về công nghệ đã cho gia đời các máy bộ đàm
FM/VHF ( điều tần bằng són cực ngắn ) mở rộng khả năng áp dụng của
hệ thống di động tới các phương tiện di động cá nhân sự lớn mạnh của
1
vô tuyến di động rất còn chậm chạp cho đến những năm 1970 do việc
mở rộng dịch vụ trong băng tần được phép là rất kho khăn. Nhìn chung
các dịch vụ thông tin di động vẫn còn khá đắt ngay cả khi cước phí của
nghệ máy tính đã làm giảm mạnh chi phí thông qua quy mô của các nền
kinh tế cũng như sự gia tăng của hệ thống thông tin tư nhân. hàng loạt
máy điện thoại tế bào các hệ thống cũng như dịch vụ viễn thông khác
được đưa vào sử dụng. Tỷ lệ tăng trưởng này còn được đánh giá qua
một bảng dự toán cho thấy tại Anh 60% dân số sẽ sử dụng điện thoại di
động vào cuối năm 2000. Sự thành công về mặt thương mại của mạng
điện thoại tế bào cũng để lại hậu quả là sự gia đời của rất nhiều hệ
thống không tương thích với nhau dẫn đến việc các thuê bao không thể
sử dụng điện thoại của mình ngoài vùng đăng ký, các nỗ lực được tập
chung giải quyết vấn đề này đã dẫn đến sự ra đời của hệ thống kỹ thuật
số thế hệ thứ 2 tiêu biểu là hệ thống GSM ở Châu Âu có khả năng
chuyển vùng giữa các nước. Mặc dù hệ thống tế bào đã cho hiệu quả
phổ cao nhưng dung lượng thấp vẫn là vấn đề bức xúc và những nỗ lực
để nâng cao dung lượng vẫn đang được tiếp tục. Tại Mỹ dựa vào các
sóng mang của hệ thông AMPS đã giảm từ 300 KHz xuông còn 10khz.
Cách thứ hai là việc đưa ra kỹ thuật nén âm kỹ thuật số dùng với
TDMA nhằm tăng dung lượng lên một bậc điều chế trải phổ với
CDMA là một cách khác nữa những người đề xuất phương pháp này
công bố rằng dung lượng của CDMA bằng 10- 20 lần so với AMPS.
Các hệ thống thông tin cá nhân gần đây dựa trên công nghệ GSM và
công nghệ trải phổ được gọi là IS-136 hay D-AMPS. Hệ thống tế bào
thế hệ thứ 3 dựa trên những tiêu chuẩn chung đang được giới thiệu ở
một số nước Châu Âu và một số nước khác nhằm tạo ra tính đồng nhất
trong thông tin di động thế giới, từ đó mang lại lợi nhuận cho nhà khai
thác, sản xuất cũng như người sử dụng. Người ta cũng hy vọng rằng hệ
thống thông tin vệ tinh cũng trở thành một thành phần của hệ thống
3
rộng khắp này. Hệ thống này sẽ cung cấp các dịch vụ băng tần với tính
lưu động lớn hơn.
I.1.2 Hệ thống thông tin vệ tinh :
tinh quỹ đạo tầm thấp cho hệ thống thông tin di động và đã đưa ra kết
luận rằng những hệ thống này hoàn toàn có tính khả thi so với hệ thống
vệ tinh địa tĩnh và điều này có thể thực hiện chỉ trong 1 thập kỷ, chỉ
một năm sau Motorola đã công bố dự án hệ thống vệ tinh quỹ đạo thấp
(LEO) cung cấp dịch vụ truyền âm thanh qua máy điện thoại cầm tay
điều này đã khởi nguồn cho một loạt các hoạt động gây chấn động
trong ngành thông tin vệ tinh và trong vòng 3 năm sau hàng loạt các
công ty và tổ chức đã công bố những dự án tương tự hầu hết đều tập
trung vào việc sử dụng nhóm vệ tinh không GEOs. Đang chú ý hơn cả
trong các dự án này là hệ thống MEO của Inmasat nhưng do một công
ty tư nhân có tên là ICO Global systems limied thực hiện và hệ thống
LEO nổi tiêng vói thương hiệu Globalstas giữa những năm 90 các dự án
điện thoại vệ tinh cầm tay sử dụng GEOs đã được công bố. Những dự
án này có kế hoạch triển khai hàng trăm trạm thu phát với những máy
phát có công suất lớn nhằm bù lại độ cao tương đối lớn của GEO có
một điều thú vị rằng chỉ vài năm trước hệ thống địa tĩnh này đã bị từ
bỏ. Tiếp đó là một loạt các hệ thống thông tin cá nhân (PCSs) dùng
mạng cố định với các sản phẩm FSS đã lấn áp hầu hết mạng thuê bao
của MSS. Hầu hết các hệ thống FSS đều hoạt động ở băng tần 20-
30Ghz và ở nhiều quỹ đạo. Phần lớn các nhà thiết kế của các hệ thống
vệ tinh này đều quan tâm đến lợi ích thu được từ sự hợp nhất 2 hệ
thống vệ tinh và hệ thống mặt đất và việc kết nối này sẽ mở rộng hơn
nữa hệ thống mạng các tổ chức quốc tế đề ra các tiêu chuẩn và các khái
niệm cho các hệ thống mặt đất thế hệ thứ 3 bắt đầu xem xét vai trò của
các hệ thống vệ tinh trong các hệ thống tương lai. Người ta cũng hiểu
rằng hệ thống tế bào vẫn được tập trung nhiều ở những vùng đông dân
5
cư do đó những hệ thống tương lai này sẽ kết hợp các giao diện để tạo
nên khả năng hoạt động rộng khắp của cả 2 hệ thống vệ tinh và mặt đất.
Bên cạnh đó vào những năm 90 công nghệ dẫn đường vệ tinh cho cá
SCC
NCC
BMC
MSC
VLR VLRHLRHLR
Mạng di
động mặt đất
Mạng cố
định mặt đất
Hình I.3 Các thành phần chính của một hệ thống thông tin vệ
tinh di động hiện đại
f
1
f
1
Vùng
phục vụ
Tần số tái
sử dụng
Tín hiệu
Đường
phục vụ
Thông tin kết nối
Kết nối với Anten
Vệ tinh
chuyển tiếp
Như ta đã đề cập ở trên hệ thống vệ tinh thế hệ 1 và 2 đã cung xấp
các dịch vụ có liên quan đến các máy di động tương đối lớn. Thế hệ thứ
3 còn có tên là “hệ thống siêu địa tĩnh” cung cấp các dịch vụ thoại hoặc
đa phương tiện tới các máy cầm tay hay máy để bàn. Trạm điều khiển
Trạm cố định
Định tuyến mặt đất
a)
b)
Constellation
Dữ liệu cơ sở từ xa
Liên kết giữa
các vệ tinh
Vệ tinh
thứ N
Hình I.4
hưởng bởi các yêu cầu dịch vụ và một số các vấn đề kỹ thuật có liên
quan một số được tóm tắt như sau
+ Quỹ đạo
Quỹ đạo được phân loại theo độ cao độ nghiêng độ lệch tâm độ
cao quyết định diện tích phủ sóng của vệ tinh, vệ tinh ở độ cao hơn thì
bao chùm một diện tích rộng hơn. Độ nghiêng ảnh hưởng đến phạm vi
bao phủ lớn nhất, nhỏ nhất trên mặt đất là hai đầu cực của độ nghiêng
quỹ đạo là xích đạo có độ nghiêng là 0 và một cực quỹ đạo có độ
nghiêng 90 một quỹ đạo xích đạo.
10
t= 0
Cơ quan
Tin nhắn ‘M’
Vệ tinh
t= t
1
t= t
2
Lưu giữ Lưu giữ Lưu giữ
Thông lượng của hệ thống là số đo của dung lượng của hệ thống tất
cả MSS ngày nay sử dụng truyền dẫn kỹ thuật số do đó tốc độ truyền
dữ liệu là một thách thức chung của sự phân loại.
+ Trễ cho phép
Trễ được cho phép bởi một phụ thuộc ứng dụng hệ thống trễ tổng
thể = 400ms giây nhiễu loạn cho một cuộc đàm thoại, nhưng trễ vài
phút, vài giờ là chấp nhận được trong việc gửi e-mail thời gian trễ cho
phép ảnh hưởng đến vài đặc tính của hệ thống vệ tinh di động.
Hệ thống thời gian không thực sử dụng chuyển mạch gói trong đó
các gói và bản tin được lưu tại các bộ đệm của các nút trung gian của
đường liên kết và được truyền đi khi có điều kiện thích hợp Inmasat-c
và Eutltracs hệ thống địa tĩnh sử dụng cấu trúc như thế. Hệ thống
ORBCOM là loại hệ thống LBO (quỹ đạo thấp) lưu rồi truyền
11
- Đối với hệ thống địa tĩnh thời gian thực bỏ qua tắc nghẽn liên kết RF
do che chắn tầm nhìn của vệ tinh không bị gián đoạn khi người dùng
hoạt đọng trong phạm vi phủ sóng của nó biên giới của các vùng phủ là
mờ nhạt, kéo dài hàng chục km điều đó dẫn đến sự giảm dần chất lượng
tín hiệu đối với các phương tiện di chuyển chậm. Vì thế những phương
tiện dịch chuyển chậm không cần chuyển tín hiệu cuộc gọi cho một
chùm tia khác kế cận khi người dùng tiêu tốn một khoảng thời gian
đáng kể tại khu vực mờ nhạt này nơi mà tín hiệu giảm cấp dần dần. Tuy
nhiên sự chuyển giao là cần thiết đối với các phương tiện di chuyển
nhanh như máy bay chẳng hạn trong hệ thống vệ tinh không địa tĩnh
tầm nhìn biến đổi theo các vùng phủ động vì thế người dùng có vẻ sử
dụng nhiều chùm tia khác nhau trong một cuôc gọi tạo lên sự chuyển
giao cần thiết trong mạng
+ Tính kết nối
Mạng phải có khả năng định vị một di động bị gọi và đinh tuyến
các tín hiệu giữa các bên hiệu quả nhất có thể và duy trì cuộc gọi trong
trên tầu có thể to hơn một thiết bị dùng cho máy bay, thiết bị đầu cuối
trên ô tô có thể nhỏ hơn hai loại trên, trong khi thiết bị đầu cuối cầm tay
phải nhơ tương đối đẻ bỏ vào túi hoặc ví người dùng. Nhu cầu về sức
mạnh tầu vũ trụ và tăng tính nhậy cảm khích cỡ thiết bị đầu cuối giảm
xuống và các bước băng lên. Di động cá nhân cung cấp ứng dụng văn
phòng chất lượng cao qua mạng Inmarsat. Điện thoại Inmarsat nhỏ nhẹ
và có cơ cấu giao tiếp vệ tinh di động hiệu quả nặng khoảng 2kg tương
đương với kích cỡ của máy.
Một phần dữ liệu dễ dàng Capsat Messenger cũng cung cấp âm
thanh trung thực và các dịch vụ Fax nó dễ dàng được di chuyển tới
vùng được coi là xa xôi nhất dễ dàng cài đặt và sử dụng.
+ Truy cập vệ tinh
13
Trong môi trường MSS hàng ngàn người chia sẻ nguồn vệ tinh và
vì thế truy cập vệ tinh có hiệu quả là rất quan trọng phân quyền (DA),
nhất kênh (SCPC) tần số hoặc sự phối hợp TDMA nơi mà nhóm trực
kênh được chia sẻ bởi tất cả người dùng trong mỗi cuộc gọi hoặc gói cơ
bản đưa ra một giải pháp hiệu quả cho liên lạc mạch hoặc kiểu gói .
Trực kênh có thể được điều chỉnh bởi cả trung tâm hoặc thiết kế phân
phối trong một trung tâm thiết kế, một trực kênh được điều tiết trung
tâm, trong khi ở thiết kế phân phối kênh phân phối được ổn định cho
mỗi trạm tham gia cố định tự vận hành.
Kiểu CDMA đưa ra một sự tiến bộ trong lĩnh vực giao thoa và đa
tuyến giảm dần chuyển nhịp nhàng và một số hệ thống hiện đại hỗ trợ
CDMA. Truyền dữ liệu có xu hướng biểu lộ nhiều đặc tính xếp thành
hàng từ chùm vô tuyến đến các dòng liên tục, do đó biểu đồ truy cập
được kết hợp đặc biệt với đặc tính truyền tải truy cập thông thường
được sử dụng cho giao tiếp dữ liệu.
Trong những năm gần đây cùng với sự ra tăng của các ứng dụng dữ
liệu, một sơ đồ được biết đến nhưng không đồng nhất kiểu truyền tải
I.1.4 Các kế hoạch kinh doanh
Một yếu tố của các dự án vệ tinh di động hiện đại là một kế hoạch kinh
doanh khả thi và đáng tin cậy. Cùng với sự phân tích thị trường kỹ
lưỡng, chiến lược đầu tư hoàn vốn để tăng tài chính và thu nhập. Trong
những năm gần đây chúng ta đã giám sát nhu cầu thị trường hơn là ảnh
hưởng của các sản phẩm hệ thống vệ tinh di động và thiết kế hệ thống.
Gần đây các nhà cung cấp triển vọng xu hướng chỉ thực hiện nghiên
cứu thị trường mở rộng để lựa chọn các loại hình dịch vụ và mong đợi
của người dùng ở khía cạnh chấp nhận trễ đường truyền, giảm tín
hiệu.... Thiết kế thi công được phát triển do nhận thức sâu sắc các yêu
cầu từ trước thị trường và sở thích của người dùng.
15
I.1.5 Những quan tâm điều chỉnh
Một trong các linh hoạt động đầu tiên khi triển khai một dự án là
cấp phép hoạt động và tần số rõ ràng từ phía nhà quản lý của các khu
vực dịch vụ có thể bao gồm một nhóm. Thủ tục này có thể đòi hỏi
khoảng thời gian đáng kể vì rất nhiều lý do như hệ thống hành chính,
chính sách điều tiết, các sự kiện chính trị. Các quan tâm khác bao gồm
việc chuẩn bị các hiệp định đầy tranh cãi với các nhà hoạt động khác.
Những điều đó và hàng loạt các chủ đề liên quan khác.
I.1.6 Những quan tâm
Những quan tâm hoạt động Vận hành và bảo dưỡng hệ thống MSS
khó khăn bao gồm các hoạt động phức tạp, như phóng và duy trì vệ
tinh, quản lý mạng, chạy thử thiết bị đầu cuối mới kiểm tra liên tục
kênh kinh doanh và kế hoạch dài hạn. Mức độ nỗ lực khi quy mô của
mạng lớn hơn.
Bước đầu của một hệ thống là quan trọng vì một sự cần thiết cài đặt
các hoạt động, kỹ thuật chạy thử, quan hệ khách hàng. Trong khi duy trì
dòng tài chính và tạo ra lợi nhuận. Thế hệ đầu tiên của hệ thống phi
mặt đất là để thống nhất về rủi ro do tài chính vì thị trường không ổn
thiết. Những hoạt động điển hình để duy trì quỹ đạo vệ tinh cấu hình
lại trong tải trong trường hợp lỗi hệ thống phụ hoặc đáp lại yêu cầu hoạt
động.... Hệ thống hoạt độngg rất nhậy cảm với một số vấn đề RF liên
quan như giao thoa hệ thống nội ngoại mất đường truyền cổng giao
tiếp..... truyền vệ tinh với phương pháp được giám sát để duy trì tính
liên tục RF của mạng và trợ giúp cho các nhiệm vụ khác có liên quan
trong tuyến.
+ Điều hành mạng phải đảm bảo rằng khách hàng thoả mãn với chất
lượng dịch vụ điều thường được xem như một mức dịch vụ và lẫn bit
tín hiệu thên vào những vấn đề có liên quan đến chậy thử, sổ sách, hậu
mãi. đôi khi lỗi của hệ thống phụ tới hạn như hệ thống quản trị tần số
17
mạng, biểu thị chính nó gián tiếp như một sự mất trong liên lạc mạng vì
thế việc quan sát dòng thông tin qua mạng là cần thiết, dự đoán được sử
dụng trong kế hoạch phát triển theo các lí thuyết giả định và giả thuyết
và có thể được sàng lọc trong quá trình hoạt động theo hướng dữ liệu
thực.
+ ITU đã nhận thấy giao tiếp di động cá nhân theo yêu cầu tiềm năng to
lớn và các yêu cầu kỹ thuật duy nhất GMPCS là phạm vi cố định của
MSS nhằm hỗ trợ giao tiếp cá nhân đến các cá nhân bằng các máy cầm
tay giống như điện thoại nhỏ hoặc máy cầm tay GMPCS có thể được
phân loại bằng rất nhiều cách như quỹ đạo và dịch vụ. Các hệ thống vệ
tinh lớn LEO triển khai các vệ tinh lớn phức tạp và mạnh trong LEOs
hoặc MEOs có khả năng đáp ứng giao tiếp thời gian thực như giọng
nói, Fax đến các phương tiện giao tiếp cầm tay. Hệ thống vệ tinh nhỏ
thực hiện các bước đơn giản hơn và giá rẻ hơn hoạt động trong phạm vi
thấp hơn của quỹ đạo và được thiết kế để cung cấp dịch vụ nhắn tin
thời gian thực và phi thời gian thực có bít thấp như các báo cáo và nhắn
tin tới các thiết bị đầu cuối bỏ túi hệ thống siêu GEO là những hệ thống
GEO hiện đại nó triển khai một số lượng lớn các chùm tia (>100) tăng
trong những năm gần đây
Giao diên người dùng phức tạp Sự giới hạn áp dụng với thiết bị
chuyên nghành như thiết bị đầu
cuối lớn trên thuyền
Thiếu kiến thức về công nghệ
này
Ngày càng được nhận thức tốt
Hệ thống nhạy cảm với giao diện
trong vùng
Vấn đề tồn tại như ảnh hưởng
giảm tổng thể sự phát ra hệ
thống phổ
Sắp xếp tuyến phức tạp và tốn
thời gian
Quan tâm của nhà điều hành tới
việc giảm thu nhập do 1 trễ nào đó
Các giải pháp thực tế khả thi
Bảng 1.8
Ngược lại đến điểm chuyển giao của thiên niên kỷ, dịch vụ tương
tự rất sẵn có từ các thiết bị đầu cuối cầm tay Laptop với chi phí thấp.
Xu hướng về việc tích hợp vệ tinh và các hệ thống tế bào tăng lên như
19
được chứng minh bởi thế hệ đầu tiên của máy điện thoại cầm tay hai
chế độ.
Thế hệ đầu tiên và thứ 2 sản phẩm MSS vẫn được sử dụng có xu
hướng các giao diện người với máy phức tạp, thường yêu cầu đào tạo
đặc biệt như vận hành đúng một số vấn đề được nhắc đến như thiếu
kiến thức cần thiết về thiết bị, thường thì công nhân ở những vùng xa
sôi được trang bị điện thoại di động vệ tinh mà không được hướng dẫn
đầy đủ dẫn tới ít phổ biến. Trong hầu hết các trường hợp vẫn để xẩy ra
định với chính quyền sở tại để giảm thiểu thâm hụt cho các nhà điều
hành sở tại và xây dựng các đặc điểm của thiết kế hệ thống để chặn
đường truyền vào các địa phận đặc biệt hoặc chỉ cho phép liên lạc qua
các cổng đặc biệt
I.1.9 Các hệ thống vệ tinh có liên quan
Vệ tinh cung cấp hàng loạt các dịch vụ di động hấp dẫn hơn là
1. Hệ thống hàng hải
2. Trực tiếp tới hệ thống truyền phát vô tuyến cá nhân
3. Hệ thống liên lạc cá nhân bởi FSS
4. Truyền hình trực tiếp tới máy di động
+ Hệ thống hàng hải được dùng để định vị phương tiện trên biển, trên không
hoặc vũ trụ và trên mặt đất để đảm bảo rắng tuyến được chọn đi đúng
hướng cả ngắn và dài hạn, hàng hải ngắn hạn được yêu cầu cho sự thay đổi
hướng tốc độ và gia tốc tức thời để chánh chướng ngại vật và định vị dài
hạn được sử dụng để tạo ra điều chỉnh tổng thể của một tuyến.
Trong những năm gần đây thiết bị thu của hệ thống vệ tinh hoa tiêu
và đặc biệt GPS trở thành phương tiện giao tiếp cá nhân phụ do sự giảm
đáng kể giá của các thiết bị thu làm cho chúng trở thành một phần đồ
dùng thường xuyên mang cùng các nhà thám hiểm du lịch quản lý đội
tầu, các tổ chức tập hợp.
21
Hệ thống hoa tiêu GPS được giới thiệu do quân đội mỹ năm 1978 một
chùm gồm 18 vệ tinh GPS có thể cung cấp liên tục diện tích bao phủ
vòng quanh thế giới sau đó tăng lên 24 vệ tinh có thể quan sát được 3
lần diện tích trái đất. Các vệ tinh quay vòng quanh quỹ đạo ở độ
nghiêng 63 độ và với độ cao 20200 km so với mặt biển và mất 12 h
quay một vòng quanh quỹ đạo.
Các vệ tinh truyền tín hiệu thời gian điều chỉnh tự động cùng với
tham số quỹ đạo của chúng nó được sử dụng bởi các thiết bị tiếp nhận
hàng dãy các dự toán. Hệ thống hoạt động trên nguyên tắc cơ bản tương
vệ tinh phát trực tiếp quy ước đòi hỏi rất nhiều tần số của băng thông vì
thế kiểu truyền tương tự không dùng được trong hệ thống vệ tinh di
động, chúng có rất nhiều băng thông giới hạn. Sự thách thức có thể
truyền tín hiệu truyền hình tốt trong phạm vi các dải tần trong trật tự
50khz công nghệ chiến lược để giành lại mục tiêu này là nén hình, kiểu
mã và modun hiệu quả. Phát truyền hình tới tầu trong dải tần 400khz sử
dụng bù đắp điều pha Q. Chương II
CẤU TRÚC MẠNG THÔNG TIN VỆ TINH DI ĐỘNG
II.1 Giới thiệu
Chúng ta sẽ xem xét tổng thể về hệ thống MSS. Nội dung của phần
này bao gồm kiến trúc phần không gian kết nối mạng và quản lý mạng.
23
Sự phát triển của hệ thống MSS là một quá trình lặp liên quan đến một
số các thông số phức tạp. Các khái niệm về yêu cầu dịch vụ. Kiến trúc
phần không gian, vận hành và các kế hoạch kinh doanh được lặp đi lặp
lại trong quá trình phát triển cho đến khi tìm được giải pháp chấp nhận
được. Các mối liên hệ bên trong giữa các thực thể này là rất phức tạp và
không rõ ràng, yêu cầu có sự phán đoán, suy xét của con người, và do
đó dẫn đến có nhiều giải pháp khác nhau. Phần quan trọng nhất và phần
đắt tiền nhất của hệ thống MSS là phần không gian. Vượt qua chướng
ngại này, việc phát triển hệ thống cũng phải tiếp tục đối mặt với các
vấn đề khác như : lập kế hoạch tài chính của dự án, thiết kế hệ thống
chi tiết, phát triển cơ sở hạ tầng, triển khai hình thành chòm vệ tinh và
cuối cùng là công tác vận hành hệ thống. Thành phần thiết yếu nhất
của mạng MSS là đường truyền dịch vụ, đường truyền không dây cho
phép sự di động. Vai trò của mạng lưới là nhằm đảm bảo rằng kết nối
thực hoặc ảo được duy trì trong suốt quá trình cuộc gọi và cuộc gọi có
(Hình II.2) mô tả một số kiểu đường truyền sử dụng trong hệ thống
MSS. Đường truyền dịch vụ SL cung cấp một kết nối vô tuyến đến
mạng mặt đất, liên lạc từ máy di động đến máy di động được định
tuyến qua đường truyền dịch vụ di động đến di động trực tiếp MMSL,
đường truyền giữa các vệ tinh ISL dùng để định tuyến cuộc gọi chuyển
tiếp qua vệ tinh tới mặt đất, Đường truyền Feeder FL kết nối từ cửa
ngõ đến chòm vệ tinh, các đường truyền nội cửa ngõ GLN, liên cửa ngõ
GGL và đường truyền quản lý mạng NML dùng để trao đổi các thông
tin quan trọng trong việc hỗ trợ quản lý mạng lưới, đường truyền mặt
đất TL kết nối hệ thống MSS với mạng di động hay cố định mặt đất.
Giao diện vô tuyến bao gồm các đường truyền cửa ngõ và đường truyền
dịch vụ như đã nói ở trên, đường truyền dịch vụ là quan trọng nhất
trong hệ thống MSS, vì nó phải chịu các hạn chế về khả năng trong hệ
thống di động vệ tinh do một số các yếu tố sau:
25