TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 33

BÀI GIẢNG: TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ TRÊN THẾ GIỚI
I. Những vấn đề cơ bản về lý thuyết tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế
-

-

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là những mục tiêu hàng đầu của các quốc gia, đặc
biệt là đối với các nước đang phát triển có thu nhập bình quân đầu người thấp muốn
nhanh chóng đạt được sự tiến bộ về kinh tế- xã hội và hội nhập với các nước trên thế
giới.
Bước vào thế kỷ XXI loài người đang chứng kiến sự đa dạng và sự khác nhau về trình
độ và con đường phát triển giữa các quốc gia. Song từ đó, chúng ta cũng không khỏi
không suy nghĩ xem mục tiêu và ý nghĩa đích thực của phát triển là gì; đằng sau
những qui luật chung của các hiện tượng và các quá trình kinh tế thì cái gì tác động và
chi phối con đường và thành tựu phát triển mà mỗi quốc gia đạt được; và cần phải làm
gì, làm như thế nào để lựa chọn cho mình con đường đúng đắn, phát huy được những
nhân tố thuận lợi, khắc phục những nhân tố ngăn cản, kìm hãm trong quá trình phát
triển.

1. Những khái niệm cơ bản
a. Tăng trưởng kinh tế
-

Mọi quốc gia trên thế giới muốn tồn tại và phát triển đều phải có chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội phù hợp, huy động và sử dụng có hiệu quả tất cả mọi nguồn lực như
tài nguyên thiên nhiên, lao động, khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, v.v… để
tạo nên sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Trong đó tăng trưởng
kinh tế là nhân tố đảm bảo vị trí quốc tế của một quốc gia, là điều kiện cơ bản cần
thiết cho sự phát triển.


-

-


-

nhiều vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô như lạm phát, thâm hụt ngân sách, thâm hụt thương
mại,… Tăng trưởng kinh tế với các chỉ tiêu đo lường được sử dụng làm thước đo trình
độ phát triển kinh tế như trên rất cụ thể và dễ hiểu, nó cũng là mục tiêu phấn đấu của
chính phủ , là tiêu chí để người dân đánh giá hiệu quả điều hành đất nước của chính
phủ. Nhưng TTKT không phản ánh được cuộc sống của nhiều nhóm dân cư khác nhau
trong xã hội, cũng như những bất bình đẳng, những chênh lệch giữa người giàu và
người nghèo, giữa thành thị và nông thôn; hay để chạy theo mục tiêu tăng trưởng mà
tài nguyên thiên nhiên có được khai thác và sử dụng hiệu quả, đúng mức hay không.
Tăng trưởng kinh tế là một chỉ tiêu cơ bản trong phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc
gia. Đây là mục tiêu của hầu hết các quốc gia, dù quốc gia đó giàu, nghèo hay thuộc
các chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Trong những năm gần đây, do sự tác động
mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nền kinh tế thế giới đã đạt tốc độ
tăng trưởng cao và thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu. Nhưng trên thực tế, cùng với đạt tốc
độ tăng trưởng cao về kinh tế lại xảy ra nghịch lý là sự huỷ hoại môi trường, các mâu
thuẫn xã hội nảy sinh, chu kỳ tăng trưởng không ổn định...Vì vậy, điều cốt lõi của quá
trình phát triển không chỉ là tốc độ tăng trưởng kinh tế mà chất lượng tăng trưởng
kinh tế mới là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Tôi xin trình bày phần thứ hai đó là phát
triển kinh tế.

b. Phát triển kinh tế
- Khái niệm: Là sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định
- Phát triển kinh tế được biểu hiện:


đón nhận lượng du khách tăng mạnh => đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào bất động
sản và khách sạn, nhà hàng.
 Mô hình phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua là hướng ngoại, dựa
nhiều vào xuất khẩu, nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. Mô hình này chỉ có thể
phù hợp trong điều kiện bình thường, nhưng lại khiến nền kinh tế và nền tài chính, tài
khóa trong nước bị tổn thương khi kinh tế thế giới có sự biến động và lâm vào tình
trạng bất ổn.
Qua đồ thị ta thấy giá trị xuất nhập khẩu của nước ta luôn tăng qua các năm, trong khi
đó giá trị nhập khẩu lại lớn hơn giá trị xuất khẩu (năm 2008 gần 2000 triệu USD); là
nền kinh tế hướng về xuất khẩu, nhưng càng tăng xuất khẩu thì nhập siêu lại càng cao.
Điều này dẫn đến hệ quả, khi độ mở nền kinh tế ngày càng lớn thì nền kinh tế rất dễ bị
tổn thương do những tác động từ bên ngoài. Và càng mở cửa, càng hội nhập thì nền
kinh tế Việt Nam chịu tác động bên ngoài rất lớn, nên buộc chúng ta phải “gia cố” bên
trong. Do đó gia cố cơ cấu kinh tế là giải pháp cấp thiết nhất hiện nay.
 Ví dụ: Cơ cấu kt: ở các nước phát triển và ở VN hiện nay
 Phấn đấu đến năm 2020: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, đô thị hóa, cụ thể:
 Năng lực nội sinh của nền kinh tế ngày càng được gia tăng
 Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực hiện nay, nguồn lực nước ngoài
đóng vai trò quan trọng, bao gồm nguồn lực vật chất và kinh nghiệm quản lý. Nhưng
nguồn lực đóng vai trò là yếu tố quyết định chính là năng lực nội sinh. Có phát huy
được nội lực thì chúng ta mới thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn lực nước ngoài; mới
đảm bảo được độc lập, tự chủ về kinh tế, chủ động hội nhập. Ngược lại nếu như nội
lực bị lấn áp, chèn ép, kìm hãm thì nguy cơ bị lệ thuộc, phá sản, ảnh hưởng đến độc
lập tự chủ, thậm chí dẫn đến khủng hoảng.
 Ví dụ: Cơ cấu vốn
 Năng lực nội sinh ngày càng được gia tăng, đặc biệt là tính tích cực, năng động sáng
tạo của con người, năng lực khoa học, công nghệ quốc gia và sức cạnh tranh của nền
kinh tế.

cao, mà chỉ cần cao ở mức hợp lý nhưng bền vững.
 Phải cân nhắc đến hiệu quả sử sụng các nguồn lực phát triển kinh tế. Điều đó cũng chỉ
ra rằng, để tăng trưởng có hiệu quả kinh tế cao trong điều kiện hiện nay, cần đầu tư
nâng cao chất lượng ngành giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, nghiên cứu và triển
khai.
- Phát triển bền vững về xã hội: gắn TTKT với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội,
bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
 Một số quốc gia thực hiện chính sách xã hội đi sau chính sách kinh tế (các nước
tư bản phát triển trước đây), họ làm mọi cách để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế và hy
sinh các vấn đề xã hội. Hậu quả là xung đột xã hội, bất công, sự chênh lệch giàu nghèo,
giữa thành thị và nông thôn. Sau đó họ đã phải chi ra số tiền khổng lồ để giải quyết các
vấn đề xã hội đó.
 Hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây thì ngược lại: gắn với thể chế kinh tế kế hoạch hóa
tập trung bao cấp, thực hiện chính sách xã hội đi trước chính sách kinh tế. Nhà nước tổ
chức sản xuất, phân phối, cung ứng các dịch vụ xã hội. Khi nền kinh tế rơi vào suy thoái
khủng hoảng thì chính nhà nước không đủ năng lực cung ứng các dịch vụ xã hội thiết
yếu, vì vậy xã hội cũng rơi vào khủng hoảng.
 Như vậy, nếu quá quan tâm đến tăng trưởng mà ít chú ý đến công bằng xã hội sẽ dẫn
đến bất ổn xã hội và tăng trưởng không thể bền vững, ngược lại, nếu quá đề cao công
bằng xã hội thì sẽ không có động lực để thúc đẩy tăng trưởng. Sự kết hợp hài hoà giữa
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế là nguồn gốc tạo thêm của cải cho xã hội. Tăng trưởng gắn liền với
việc sử dụng của cải cho phúc lợi xã hội như thế nào. Phúc lợi không chỉ thể hiện ở thu
nhập bình quân đầu người mà còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi
trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sức khoẻ,v.v… Mỗi thành quả của kinh tế
phải được cân nhắc tính toán hợp lý để vừa đầu tư vào tái sản xuất, vừa đầu tư cho phát
triển xã hội.
- Phát triển bền vững về môi trường
Các nghiên cứu của WB về chất lượng tăng trưởng cho thấy trên thế giới đã hình thành
những chiến lược phát triển như sau:

không chỉ sự tiến bộ về mặt kinh tế, mà còn phản ánh cả sự thay đổi về xã hội trong quá
trình phát triển của một quốc gia.
Song cũng vì thế chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:
- Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế. Tiến bộ kinh tế là cơ sở, là điều
kiện cơ bản để đạt được những tiến bộ về xã hội. Sự tích lũy về lượng của nền kinh tế là
điều kiện để tạo ra sự nhảy vọt về chất của nền kinh tế và cũng là điều kiện cơ bản giúp cho
cải thiện cuộc sống của con người.Tăng trưởng kinh tế cao và dài hạn là cơ sở để nâng cao
năng lực nội sinh của nền kinh tế và mở ra cơ hội cho việc thu hút các nguồn lực vào hoạt
động kinh tế, nhờ đó tạo điều kiện cho mọi người tham gia hoạt động kinh tế, tạo thu nhập
và cải thiện đời sống. Tăng trưởng kinh tế cũng tạo điều kiện để tăng thu ngân sách nhà
nước. Nhờ đó, Nhà nước có thể tăng đầu tư công và chi tiêu công vừa đảm bảo phát triển
kinh tế, vừa có điều kiện để thực hiện xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội. Ở
những nước đang phát triển, đặc biệt là những nước có thu nhập bình quân đầu người thấp,
nếu không đạt được tăng trưởng cao và liên tục trong nhiều năm, thì khó có điều kiện để
nâng cao trình độ phát triển của đất nước và cải thiện mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội của
người dân.
- Ngược lại, phát triển kinh tế bao hàm cả sự tiến bộ về chất của nền kinh tế và sự tiến bộ
xã hội tạo cơ sở kinh tế xã hội vững chắc để đạt được những thành tựu tăng trưởng kinh tế
trong tương lai.
- Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế không phải là điều kiện đủ để phát triển kinh tế. Tăng
trưởng chỉ mới là biểu hiện của sự gia tăng về lượng, tự nó chưa phản ánh sự biến đổi về
chất của nền kinh tế. Hơn nữa, tăng trưởng kinh tế có thể được thực hiện bởi những phương
thức khác nhau và dẫn đến những kết quả khác nhau. Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế
không gắn với sự thúc đẩy cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, không làm gia
tăng, mà thậm chí lại làm xói mòn năng lực nội sinh của nền kinh tế, thì tăng trưởng kinh tế
như vậy không tạo ra phát triển kinh tế. Nếu phương thức tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại
lợi ích kinh tế cho nhóm dân cư này, vùng này, mà không hoặc đem lại lợi ích không đáng
kể cho nhóm dân cư khác, vùng khác thì tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ khoét sâu bất bình
đẳng xã hội. Những phương thức tăng trưởng kinh tế như vậy, rốt cục, cũng chỉ đem lại kết
qủa ngắn hạn, không thúc đẩy được phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế như vậy sẽ

giá trị sản xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kì nhất định, không
kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia.
-

Để phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế giữa năm thứ n với năm
thứ n-1 thông qua chỉ tiêu GDP1 được tính như sau:
Qui mô tăng trưởng kinh tế của năm thứ n so với năm thứ n-1:
∆GDPn = GDPn – GDPn-1
Trong đó, ∆GDPn: Qui mô tăng trưởng GDP của nền kinh tế năm thứ n so với năm thứ n-1
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm thứ n so với năm thứ n-1:

g (GDPn) =

GDPn − GDPn −1
GDPn −1

=

∆GDPn

x100 %

GDPn −1

Trong đó, g(GDPn): Tốc độ tăng trưởng tính theo GDP của nền kinh tế năm thứ n so với năm
thứ n-1. GDP được tính theo giá so sánh (GDP thực).
Trong trường hợp sử dụng để so sánh quốc tế, GDP được tính theo sức mua tương
đương (PPP).

Qui mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cũng có thể tính theo tổng thu nhập quốc dân

mở ngày càng đa dạng, mức độ thâm hụt thương mại quốc tế ngày càng giảm, cơ cấu mặt
hàng xuất khẩu ngày càng giảm dần tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm thô và hàng hóa có dung
lượng lao động nhiều, tăng dần tỷ trọng hàng hóa có giá trị kinh tế cao.

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi cơ cấu dân cư.

Gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá là quá trình biến đổi


cơ cấu dân cư theo vùng. Trong các chỉ tiêu này, chỉ tiêu cơ
cấu dân số nông thôn - đô thị có ý nghĩa quan trọng phản ánh quá trình đô thị hoá gắn với quá
trình công nghiệp hoá đất nước. Sự biến đổi cơ cấu dân cư còn thể hiện ở các chỉ tiêu như: cơ
cấu giới tính, cơ cấu theo độ tuổi, cơ cấu theo trình độ đào tạo...
Các chỉ tiêu phản ánh năng lực nội sinh của nền kinh tế

Gồm các chỉ tiêu như: tỷ lệ tiết kiệm (đầu tư) trên GDP; các chỉ tiêu phản ánh trình độ năng
lực công nghệ quốc gia; các chỉ tiêu phản ánh chất lượng của nguồn lao động…
Các chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển xã hội.
Để đánh giá trình độ phát triển của xã hội - mục tiêu cuối cùng của phát triển, người ta thường
xem xét trên hai phương diện cơ bản : sự phát triển con người và tình trạng nghèo đói, bất bình
đẳng xã hội.
a) Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển con người:

- Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức sống:

+ Chỉ tiêu GNI/người và tốc độ tăng trưởng GNI/người phản ánh khả

năng và tốc độ gia tăng của việc nâng cao mức sống trung bình của người dân

+ Khả năng thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng tính theo calo bình quân đầu người/ngày...

Các nhóm chỉ tiêu nói trên phản ánh từng lĩnh vực khác nhau của phát triển xã hội. Để đánh
giá tổng hợp và xếp loại trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các quốc gia hay vùng khác
nhau Liên hợp quốc đã đa ra một chỉ số tổng hợp, được gọi là chỉ số phát triển con người
(HDI). HDI chứa đựng 3 yếu tố cơ bản, phản ánh 3 phương diện: thu nhập (GNI/người), trình
độ học vấn (thông qua chỉ số học vấn) và sức khoẻ (thể hiện qua tuổi thọ bình quân kỳ vọng
tính từ thời điểm mới sinh).

HDI nhận
giá trị từ 0
đến 1.
HDI càng
gần 1 có
nghĩa là
trình độ
phát triển


con người càng cao, trái lại càng gần 0 có nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp.

b) Các chỉ tiêu phản ánh nghèo đói và bất bình đẳng:

Ngoài các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển con người, để đánh giá sự phát triển xã hội còn
phải quan tâm đến các chỉ tiêu phản ánh tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng. Đây là vấn
đề không chỉ phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế, mà còn phụ thuộc vào phân phối kết quả
tăng trưởng đó như thế nào. Có nhiều chỉ tiêu để phản ánh tình trạng nghèo đói và bất bình
đẳng về kinh tế với các nội dung và ý nghĩa khác nhau. Sau đây là một số chỉ tiêu thường
được sử dụng:
- Các chỉ tiêu phản ánh nghèo đói:

+ Chỉ tiêu tỷ lệ hộ nghèo (phân theo vùng, giới tính và dân tộc) dựa trên tiêu chuẩn quốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status