Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12 - Pdf 33

Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT SÔNG RAY
********
Mã số :……………..

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN
HÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12

Người thực hiện: Phạm Thị Dinh
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục:



Phương pháp dạy học bộ môn: GDCD



Phương pháp giáo dục:



Lĩnh vực khác:



Có đính kèm:
 Mô hình.


6. Fax:

E-mail:

(NR);

7. Chức vụ: Tổ trưởng Tổ GDCD
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Sông Ray
II.

TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO

-

Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Cử nhân khoa học.

-

Năm nhận bằng: 2009

-

Chuyên ngành đào tạo: Giáo dục Chính trị.

III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
-

Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Giảng dạy


1.4. Tiến trình thực hiện........................................................................Trang 10
1.5. Ưu điểm và nhược điểm của PP NCTHĐH...................................Trang 10
1.6. Cách xây dựng THĐH và yêu cầu với THĐH...............................Trang 11
2. Vận dụng PP NCTHĐH vào môn GDCD lớp 12.............................Trang 12
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI...............................................................Trang 31
1. Kết quả thực hiện ............................................................................. Trang 31
2. Một số lưu ý khi sử dụng PP NCTHĐH........................................... Trang 31
V. KẾT LUẬN, ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ......................................Trang 32
1. Kết luận............................................................................................. Trang 32
2. Đề xuất, khuyến nghị ....................................................................... Trang 32
VI. TƯ LIỆU THAM KHẢO................................................................. Trang 34

GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 3


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ

GDCD

Giáo dục công dân

PP NCTHĐH



Sở GD & ĐT

Sở Giáo dục và Đào tạo

PL

Pháp luật

CD

Công dân

NXB

Nhà xuất bản

GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 4


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN
HÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12
*****
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hiện nay nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, hội nhập kinh tế ngày
càng mở rộng đòi hỏi nền giáo dục Việt Nam không ngừng cải tiến, đổi mới phù hợp

học tích cực này, tôi mong muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp những kinh nghiệm bản
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 5


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

thân cũng như nhận được góp ý, trao đổi của quý đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện
hơn.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận.
a. Phương pháp dạy học là gì ?
Phương pháp dạy học ( PPDH) là những hình thức, cách thức hành động của
GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội
dung và những điều kiện dạy học cụ thể. PPDH cụ thể quy định những mô hình hành
động của GV và HS.
b. Đổi mới PPDH gì ?
Đổi mới phương pháp dạy học là cải tiến những hình thức và cách thức làm
việc kém hiệu quả của GV và HS, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả
hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo,
phát triển năng lực của học sinh.
* Đổi mới PPDH đối với giáo viên bao gồm:
- Đổi mới việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy;
- Đổi mới PPDH trên lớp học;
- Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
* Đổi mới PPDH đối với học sinh là đổi mới PP học tập.
* Đổi mới PPDH cần được tổ chức, lãnh đạo và hỗ trợ từ các cấp quản lý giáo dục,
đặc biệt là các trường phổ thông thông qua những biện pháp thích hợp.
c. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học

được sử dụng quá nhiều, dẫn đến tình trạng hạn chế hoạt động tích cực của HS;
• Việc sử dụng, phối hợp các PPDH cũng như sử dụng các PPDH phát huy tính tích
cực, tự lực và sáng tạo còn ở mức độ hạn chế;
• Việc gắn nội dung dạy học với các tình huống thực tiễn chưa được chú trọng;
• Dạy học thí nghiệm, thực hành, dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn ít được
thực hiện;
• Việc sử dụng phương tiện dạy học mới, công nghệ thông tin chỉ bước đầu thực hiện
ở một số trường;
• Việc rèn luyện khả năng vận dụng tri thức liên môn để giải quyết các chủ đề phức
hợp gắn với thực tiễn chưa được chú ý đúng mức;
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo trong trường phổ
thông mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri
thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống. Điều đó có nghĩa là giáo
dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính
năng động và sáng tạo…”. (Luật giáo dục, điều 27).
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc cải cách toàn diện giáo dục
THPT và đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục phổ
thông. Trong mỗi bài dạy, GV cần lựa chọn PPDH cho phù hợp để nâng cao chất
lượng dạy học. Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học
điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó HS tự lực giải quyết một tình huống
điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm. Vận dụng dạy học theo các tình
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 7


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường

phương án giải quyết vấn đề.
• HS cần xác định những phương hướng hành động có ý nghĩa quan trọng
trong việc tìm ra quyết định.
1.3. Các dạng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 8


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

Cùng với sự phát triển của PP NCTHĐH, có nhiều dạng trường hợp khác nhau
được xây dựng, chúng khác nhau ở quy mô và tính chất của vấn đề được mô tả cũng
như trọng tâm của nhiệm vụ khi nghiên cứu trường hợp. Có trường hợp trọng tâm là
việc phát hiện vấn đề, hoặc trọng tâm là việc giải quyết vấn đề, hay trọng tâm là việc
đánh giá, phê phán cách giải quyết vấn đề trong thực tiễn. Sau đây là bảng tóm tắt một
số dạng trường hợp.
Các dạng của PP NCTHĐH
Bước
Nhận biết vấn
/Dạng PP đề

Chiếm lĩnh
thông tin

Tìm các phương
án giải quyết vấn
đề quyết định

Phê phán cách

Tìm các phương
án giải quyết vấn
đề đã phát hiện,
quyết định
phương án giải
quyết.
Trọng tâm:
Tìm các phương
án giải quyết và
quyết định
phương án

So sánh
phương án giải
quyết vấn đề
với quyết định
trong thực
tế.
So sánh
phương án
giải quyết vấn
đề
với phương án
thực tế.

Trường
hợp tìm
thông tin

Thông tin

quyết cũng đã
cấp
được đưa ra.
Người
học cần tìm những
phương án thay
thế khác

Trọng tâm:
Phê phán
phương án
giải quyết đã
đưa ra trước

1.4. Tiến trình thực hiện

GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 9


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

Tiến trình các giai đoạn được trình bày sau đây là tiến trình lý tưởng của PP
NCTHĐH. Trong thực tiễn vận dụng có thể linh hoạt, chẳng hạn có những giai đoạn
được rút gọn, kéo dài hơn hoặc bỏ qua tuỳ theo các trưòng hợp cụ thể.
Các bước tiến hành PP NCTHĐH
Các giai đoạn
1.Nhận biết trường hợp:
Làm quen với trường hợp

án giải quyết khác nhau; Việc quyết định
nhóm với các quyết định trong thực tế.
luôn liên quan đến các tình huống, điều
kiện, thời gian cụ thể.
1.5. Ưu điểm và nhược điểm
* Ưu điểm
• Việc sử dụng PP NCTHĐH tạo điều kiện cho việc xây dựng các tình huống nhằm
gắn lý thuyết với thực tiễn.
• Tích cực hoá động cơ của người học.
• PP NCTHĐH yêu cầu có sự cộng tác làm việc và thảo luận trong nhóm. Trọng tâm
của làm việc nhóm là quá trình giao tiếp xã hội và quá trình cùng quyết định trong
nhóm.

GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 10


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

• PP NCTHĐH tạo điều kiện phát triển các năng lực then chốt chung, như năng lực
quyết định, năng lực giải quyết vấn đề, tư duy hệ thống, tính sáng tạo, khả năng giao
tiếp và cộng tác làm việc.
Cần phân biệt việc sử dụng các trường hợp làm ví dụ minh hoạ cho giờ học
thuyết trình không phải là PP NCTHĐH, mà chỉ là ví dụ minh hoạ. PP
NCTHĐH cần bao gồm việc tự lực giải quyết vấn đề và góp phần phát triển tư
duy tích cực - sáng tạo của học sinh.
* Nhược điểm của PP NCTHĐH
• PP NCTHĐH đòi hỏi nhiều thời gian, thích hợp cho việc vận dụng nhưng
không thích hợp với việc truyền thụ tri thức mới một cách hệ thống.


Để dạy phần 4.Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội, GV cho HS xem một
đoạn phóng sự ngắn về tình trạng bạo hành trẻ em tại một cơ sở giữ trẻ tư nhân trên
địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Câu hỏi thảo luận:
- Em có suy nghĩ gì về việc làm của người phụ nữ trong clip trên?
- Gia đình cháu bé cần phải làm gì để bảo vệ quyền lợi cho con mình?
- Pháp luật có vai trò như thế nào đối với mỗi người chúng ta?
Yêu cầu: HS thảo luận theo nhóm nhỏ, đưa ra được quan điểm, thái độ của bản thân
về hành vi của người giữ trẻ. Khẳng định vai trò quan trọng của pháp luật trong đời
sống xã hội. Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý xã hội và là phương tiện để
công dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
GV nhận xét: Vào năm 2008, trong các đoạn clip được đăng tải, bà Quảng Thị Kim
Hoa đã liên tục có các hành vi túm tóc, giật ngửa mặt lên rồi trút cơm vào miệng,
dùng thước, tay liên tục đánh tới tấp các cháu đang được trông giữ ở nhà của mình.
Khi đó, các cháu từ 1 đến 3 tuổi này liên tục phải ăn trong nỗi đau đớn, sợ hãi và
nhiều giọt nước mắt. Bà Hoa đã từng bị tòa án nhân dân 2 cấp sơ thẩm (TP Biên
Hòa), phúc thẩm (tỉnh Đồng Nai) tuyên phạt giảm từ 18 tháng xuống 12 tháng tù giam
về tội ‘cố ý gây thương tích’. Lí do giảm án: chị Nguyễn Thị Vân cũng đã gửi đơn lên
tòa án TP Biên Hòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bà Hoa, gia cảnh của bị cáo Hoa rất
khó khăn (2 con bị bệnh).
Theo Bộ luật Hình sự quy định:
Điều 104 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các
trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu
tháng đến ba năm:
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác
không có khả năng tự vệ;

- Em hãy nêu một số ví dụ về việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước?
Yêu cầu: HS thảo luận trong thời gian quy định, lên án và đấu tranh với những hành
vi gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở trên. Cơ quan nhà nước đã xử lý cơ sở trên
vì hành vi vi phạm pháp luật.AĐây là hình thức áp dụng pháp luật của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. HS đọc tài liệu và đưa thêm một số ví dụ về việc áp dụng pháp
luật.
GV nhận xét: Cơ sở này đã vi phạm Luật bảo vệ môi trường. Như vậy đối với các cơ
sở trên, cơ quan nhà nước đã tạm đình chỉ hoạt động và tiếp tục xử phạt theo quy định
của pháp luật.Đây là hình thức áp dụng pháp luật.
Điều 7. Những hành vi bị nghiêm cấm
5. Thải chất thải chưa được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc,
chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí.
6. Đưa vào nguồn nước hóa chất độc hại, chất thải, vi sinh vật chưa được kiểm định
và tác nhân độc hại khác đối với con người và sinh vật.
Điều 68. Bảo vệ môi trường cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
1. Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường
sau:
a) Thu gom, xử lý nước thải bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 13


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

b) Thu gom, phân loại, lưu giữ, xử lý, thải bỏ chất thải rắn theo quy định của pháp
luật;
c) Giảm thiểu, thu gom, xử lý bụi, khí thải theo quy định của pháp luật; bảo đảm
không để rò rỉ, phát tán khí độc hại ra môi trường; hạn chế tiếng ồn, độ rung, phát
sáng, phát nhiệt gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường xung quanh và người lao


Trang 14


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

Nội dung bài học:
Áp dụng PL: Cơ quan, công chức nhà nước có thẩm quyền căn cứ PL ra quyết định
làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ cụ thể của cá nhân, tổ chức, xử lý
người vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp giữa cá nhân, tổ chức.
- Các quyền nghĩa vụ công dân không tự phát sinh, thay đổi hay chấm dứt nếu không
có một văn bản, quyết định áp dụng PL của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
VD: Quyền kinh doanh của công dân được thực hiện khi cơ quan nhà nước cấp giấy
phép kinh doanh.
- Cơ quan nhà nước ra quyết định xử lí người vi phạm PL hoặc giải quyết tranh chấp.
VD: Cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm Luật An toàn giao thông, công ty
trốn thuế phải nộp phạt…
• Làm rõ các dấu hiệu của một hành vi vi phạm pháp luật, GV cho HS xem
đoạn phóng sự về một thanh niên sử dụng bồ đề gây án ở Nhơn Trạch, Đồng
Nai.
Câu hỏi thảo luận:
- Em có suy nghĩ gì về hành vi của đối tượng thanh niên trên? Tác hại của ma túy như
thế nào đối với mỗi chúng ta?
- Hành vi của anh ta có vi phạm pháp luật không? Vì sao?
- Vi phạm pháp luật có những dấu hiệu cơ bản nào?
Yêu cầu: HS thảo luận và nghiên cứu tài liệu, xác định hành vi của thanh niên trên là
hành vi vi phạm pháp luật. Phân biệt được hành vi trái pháp luật và hành vi vi phạm
pháp luật. Biết được các dấu hiệu cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật.
GV nhận xét: Căn cứ vào Điều 13 và 14 của Bộ Luật hình
sự thì hành vi của anh này là vi phạm pháp luật.

định theo quy định của pháp luật, có thể nhận thức, điều khiển được hành vi và tự
chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
- Thứ 3: Người vi phạm PL phải có lỗi.
Lỗi thể hiện thái độ của một người biết hành vi của mình là sai, trái PL, có thể gây
hậu quả không tốt nhưng vẫn cố ý làm hoặc vô tình để mặc cho sự việc xảy ra.
Vi phạm pháp luật là hành vi trái PL, có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm pháp
lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được PL bảo vệ.
*Để làm rõ độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý của vi phạm hình sự và vi
phạm hành chính, GV đưa ra 2 tình huống sau:
Tình huống 1: Do nghiện nặng không có tiền mua ma túy hút, P đã giả làm người
thuê xe ôm lợi dụng thời cơ thuận tiện hành hung lái xe và cướp xe. Người lái xe ôm
bị thương nặng nên đã tử vong. P bị bắt và bị truy tố tội cướp tài sản. Theo quy định
tại khoản 4 Điều 133 Bộ luật Hình sự về tội cướp tài sản, khung hình phạt áp dụng
đối với hành vi phạm tội của P là chung thân. Khi đưa ra xét xử Tòa nhận thấy, vào
thời điểm phạm tội P mới 17 tuổi 10 tháng. Tòa ra quyết định P phải chịu mức án là
18 năm tù.
Câu hỏi thảo luận:
Em hãy cho biết mức án Tòa áp dụng đối với hành vi phạm tội của P có đúng không ?
Pháp luật quy định thế nào về vấn đề này ?
Yêu cầu: HS thảo luận và đưa ra nhận định của mình về việc xử lý người phạm tội
chưa thành niên. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 16


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung 2009) người chưa

Yêu cầu: HS thảo luận và đưa ra nhận định của mình, tìm kiếm thông tin từ SGK để
biết độ tuổi chịu trách nhiệm hành chính.
Theo Điểm a Khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy
định độ tuổi xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên như sau :
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 17


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm
hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi
vi phạm hành chính.
Ý kiến cho rằng T chưa đủ tuổi sử dụng xe máy nên không thể xử phạt hành
chính là không đúng. T đã 14 tuổi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hành chính theo quy định
của pháp luật xử lý vi phạm hành chính. T có thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối
với hai hành vi sau:
- Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm (Điểm i khoản 3
Điều 9 Nghị định số 34/2010/NĐ- CP ngày 2/4/2010 của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã sửa đổi bổ sung theo
Nghị định số 71/2012/NĐ-CP)
- Vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới (khoản 1 Điều
24 Nghị định số 34/2010/NĐ- CP ngày 02/04/2010 của Chính phủ quy định xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đã sửa đổi bổ sung theo Nghị
định số 71/2012/NĐ-CP) theo đó, Khoản 1 Điều 24 quy định xử phạt các hành vi vi
phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới như sau:
Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn
máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy
kéo và các loại xe tương tự ô tô.

Dương Chí Dũng (áo trắng) tại phiên tòa phúc
thẩm. Ảnh: Việt Dũng.

Ông Mai Văn Phúc, nguyên tổng giám đốc Vinalines, nguyên vụ phó vụ Vận tải cũng nhận
hình thức kỷ luật như trên với cùng lý do. Đầu tháng 5/2014, Tòa phúc thẩm TAND Tối
cao tại Hà Nội đã tuyên án tử hình hai ông này về tội Cố ý làm trái quy định nhà nước và
Tham ô tài sản trong thương vụ Vinalines mua ụ nổi 83M. Bản án xác định ông Dũng và
Phúc đã chỉ đạo cấp dưới xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển phía Nam trái với chỉ đạo
của Thủ tướng. Hai ông này còn chỉ đạo mua ụ nổi 83M cũ nát gây thiệt hại gần 367 tỷ
đồng của nhà nước. Từ khi mang từ Nga về, ụ chưa từng được sử dụng do hư hỏng, hiện
mỗi ngày mất khoảng một tỷ đồng chi phí bến bãi, sửa chữa. Theo lời khai của bị cáo Trần
Hải Sơn (nguyên tổng giám đốc công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines), phía bên bán
đã "lại quả" hơn 28 tỷ đồng. Trong số này, ông Dũng và Phúc mỗi người nhận 10 tỷ đồng.
Liên quan vụ án, ông Sơn và 6 người khác, đa phần là cán bộ đăng kiểm và hải quan, bị
phạt từ 6 đến 14 năm tù.
Câu hỏi thảo luận:
- Em có nhận xét gì về hành vi của ông Dương Chí Dũng và đồng phạm?
- Việc cơ quan nhà nước xử lý cán bộ cấp cao đã minh chứng cho điều gì?
- Thế nào là công dân bình đẳng về trách nhiệm pháp lý?
Yêu cầu: HS thảo luận và đưa ra quan điểm của mình về hành vi của các đối tượng trên.
Xác định đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm về việc cố ý làm trái quy định nhà
nước và tham ô tài sản của nhà nước. Những đối tượng trên phải bị xử lý nghiêm theo quy
định của pháp luật dù cho ở bất cứ vị trí nào trong xã hội. HS cần lên án, đấu tranh với các
biểu hiện, hành vi tham nhũng.
GV nhận xét và cung cấp thêm một số văn bản luật.
Theo Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi, bổ sung năm 2001)
Điều 2. Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,
quyền hạn đó vì vụ lợi.
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray


truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội,
đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội
đồng nhân dân.
Theo Bộ luật hình sự, Điều 165. Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về
quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới
một trăm triệu đồng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả
nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến
năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến
mười hai năm:
a) Vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác;
b) Có tổ chức;
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 20


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
d) Gây thiệt hại từ ba trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng hoặc gây hậu quả rất
nghiêm trọng khác.
3. Phạm tội gây thiệt hại từ một tỷ đồng trở lên hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm
trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm
nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Điều 278. Tội tham ô tài sản


GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 21


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

- Mọi vi phạm PL đều xâm hại đến đến quyền và lợi ích của người khác, làm rối loạn trật
tự PL ở mức độ nhất định. Trong thực tế một só người do thiếu hiểu biết về PL, không tôn
trọng, không thực hiện PL hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm PL, gây hậu quả
nghiêm trọng cho người khác, cho xã hội. Những hành vi đó cần phải đấu tranh, ngăn
chặn, xử lí nghiêm.
* Trách nhiệm pháp lí là do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng với các chủ thể vi
phạm PL. Do đó, công dân dù ở địa vị nào, làm bất cứ nghề gì khi vi phạm PL đều phải
chịu trách nhiệm pháp lí theo qui định của PL, không phân biệt đối xử. (trách nhiệm hành
chính, dân sự, hình sự, kỉ luật).
 Bài 4 Công dân bình đẳng trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội.
• Để làm rõ nội dung Bình đẳng giữa vợ và chồng, GV cho HS tìm hiểu một câu
chuyện về tình trạng bạo lực gia đình.
Ngày 02/9/2014 vừa qua, chồng chị Mai muốn đánh vợ nên đã dàn cảnh đánh con trai,
anh ta rút dây thắt lưng quất vào người cháu. Chỉ chờ chị Mai lên tiếng, anh ta quay lại
quật tới tấp vào người chị (anh ta không muốn chị đến nhà ngoại). Anh ta đánh vợ trước
mặt con trai và trước mặt mẹ chồng, người ngoài không ai dám làm chứng. Anh ta thường
xuyên chửi bới, nhục mạ danh dự, nhân phẩm chị bằng những lời khiếm nhã (thậm chí khi
chị gửi Đơn ly hôn ra tòa, anh ta lại càng nhục mạ chị và chửi bới cha mẹ vợ). Những lời
chửi bới đó là anh ta nhắn tin cho chị.
Câu hỏi thảo luận:
- Em có nhận xét gì về hành vi của chồng chị Mai trong tình huống trên? Anh ta có quyền
làm như vậy không?

Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng
Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho
nhau.
Nội dung bài học:
* Bình đẳng giữa vợ và chồng. Luật qui định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ
và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. Thể hiện trong quan hệ nhân thân và
quan hệ tài sản.
- Trong quan hệ nhân thân: Có quyền ngang nhau lựa chọn nơi cư trú; tôn trọng, giữ gìn
nhân phẩm, danh dự, uy tín của nhau; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; giúp đỡ,
tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, KHHGĐ, chăm sóc con...
- Trong quan hệ tài sản: Có quyền ngang nhau về sở hữu tài sản chung (quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt); Vợ chồng có quyền có tài sản chung và tài sản riêng.
Tạo cơ sở củng cố tình yêu vợ chồng, sự bền vững hạnh phúc gia đình, phát huy truyền
thống dân tộc; khắc phục tư tưởng trọng nam khinh nữ.
Quan hệ vợ chồng trong thời kì hôn nhân

Vợ chồng bình đẳng
nnhaunhaynhau
QH nhân thân

QH tài sản
Có nghĩa vụ và quyền ngang nhau

• Đối với nội dung Bình đẳng giữa cha mẹ và con, GV cho HS xem đoạn phóng sự
về bé gái 4 tuổi bị cha mẹ bạo hành dã man ở tỉnh Bình Dương.
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 23



hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Nội dung bài học:
Bình đẳng giữa cha mẹ và con:
- Cha mẹ (cả bố dượng, mẹ kế) có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với các con,
thương yêu, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, tôn
GVTH: Phạm Thị Dinh - THPT Sông Ray

Trang 24


Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12

trọng ý kiến của con, chăm lo việc học tập và phát triển lành mạnh của con cả về vật
chất, trí tuệ, đạo đức...
- Không được phân biệt, đối xử, ngược đãi, hành hạ con (kể cả con nuôi), không lạm
dụng sức lao động của con chưa thành niên không xúi giục, ép buộc con làm những
việc trái đạo đức và pháp luật.
- Con trai, con gái phải chăm sóc, giáo dục, tạo điều kiện như nhau...Con phải yêu
quí, kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, không được có hành vi ngược đãi,
xúc phạm, hành hạ cha mẹ.
 Bài 5 Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo.

Đối với mục 1b. Nội dung bình đẳng giữa các dân tộc ở phương diện kinh tế. GV cho
HS xem đoạn phim về chính sách 135 của Chính phủ.
Câu hỏi thảo luận:
- Ở địa phương em có được hỗ trợ từ chính sách 135 của nhà nước không? Mục tiêu của
chính sách này là gì?
- Chính sách này có mâu thuẫn với nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc không? Tại sao?
- Em hãy kể một số ví dụ chứng tỏ Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện thực hiện quyền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status