tài liệu bồi dưỡng cho giáo viên trung học phổ thông môn lý - Pdf 33

Lời nói đầu
Chúng ta đang sống trong thế kỉ XXI, thế kỉ của hội nhập toàn cầu, với sự bùng
nổ của khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin. Điều đó đã làm cho tri thức nhân
loại tăng lên nhanh chóng từng ngày. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi người lao động
không những phải có trình độ học vấn cao và năng lực chuyên môn giỏi mà còn phải
thực sự năng động, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh, phải có năng lực tự học và tự rèn
luyện kĩ năng thực hành nhằm đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời. Để đáp ứng yêu cầu
đó, dạy học hiện nay không chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức mà phải quan tâm
nhiều hơn đến việc bồi dưỡng và phát triển năng lực tự học, năng lực nhận thức và kĩ
năng thực hành cho học sinh. Để thực hiện nhiệm vụ “trồng người” cao cả mà toàn
xã hội giao cho, người thầy giáo phải thường xuyên rèn luyện phẩm chất đạo đức,
nâng cao năng lực chuyên môn, trau dồi kỹ năng nghề nghiệp.
Trong những năm qua, thực hiện các chủ trương, đường lối về đổi mới giáo dục
của Đảng và Nhà nước, ngành Giáo dục đã thực hiện tốt công việc đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ giáo viên. Một trong những công việc mà ngành Giáo dục đã làm trong những
năm qua là bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên, nhiều hoạt động tập huấn đã được
tổ chức và triển khai, nhiều tài liệu được ban hành nhằm mục tiêu không ngừng nâng
cao chất lượng đội ngũ nhà giáo.
Trong tiến trình hội nhập với các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến trên thế
giới, thì nhiều phương pháp, kỹ thuật, xu hướng dạy học hiện đại được ngành giáo
dục tiếp nhận và triển khai ở nhiều tỉnh, thành, trên cả nước với tất cả các cấp học từ
phổ thông đến đại học.
Trong cuốn tài liệu này, ban biên soạn giới thiệu một số các phương pháp, kỹ
thuật hiện đại trong dạy học môn Vật lý nhằm mục tiêu làm cho đội ngũ giáo viên Vật
lý toàn tỉnh có cái nhìn chi tiết, cụ thể hơn về các phương pháp, kỹ thuật dạy học này.
Vì thời gian có hạn mà năng lực của ban biên soạn còn hạn chế nên chắc chắn tài liệu
này sẽ không tránh khỏi nhiều sai sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các đồng chí
đồng nghiệp để nội dung của tài liệu ngày càng hoàn chỉnh hơn.
Nhóm biên soạn xin chân thành gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp trong
và ngoài tỉnh trong thời gian qua đã giúp đỡ, góp ý tận tình để chúng tôi kịp thời hoàn
thành bộ tài liệu này.

KÉM THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU BÀI
HỌC .........................................................33
1. Khái niệm Nghiên cứu bài học....................................................................................33
2. Những mục đích và ý nghĩa của giờ học theo hướng NCBH......................................33
3. Tiến trình của quá trình NCBH....................................................................................35
4. Vận dụng NCBH trong việc dạy học với học sinh yếu kém.......................................38
2


BÀI TẬP.....................................................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................40
Phần 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT
DẠY HỌC TRONG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC MÔN VẬT LÍ
1. Khái niệm kĩ thuật dạy học
Những năm gần đây, ngoài khái niệm phương pháp dạy học các nhà khoa học còn
đề cập đến khái niệm KTDH. Theo Từ điển Giáo dục học, “KTDH là tổng thể các
phương pháp sư phạm của nhà giáo dục dùng để truyền thụ những kiến thức và giúp cho
phát triển nhân cách học sinh”. Theo cuốn “ Phương pháp, phương tiện, kĩ thuật và hình
thức tổ chức dạy học trong nhà trường”: “KTDH là cách thức giáo viên xử lí các khía
cạnh hoặc tổ chức các bước khác nhau trong phương pháp hoặc quy trình hướng dẫn của
mình”. Theo Bernd Meier “KTDH là những biện pháp, cách thức, hành động nhỏ của
giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động của hoạt động dạy học nhằm thực
hiện và điều khiển quá trình dạy học”.
Trên cơ sở phân tích những quan niêm trên, có thể hiểu: KTDH là những thao thác,
hành động cụ thể của giáo viên và học sinh trong các tình huống hoạt động nhận thức
(HĐNT) nhằm thực hiện mục tiêu dạy học.
Mặt khác, mỗi PPDH luôn cấu
thành từ 3 thành phần:
Thứ nhất: Quan điểm dạy học là
những định hướng tổng thể cho các

cho QTDH sẽ giúp hình thành nhân cách, thế giới quan, nhân sinh quan, rèn luyện tác
phong làm việc có khoa học của cả GV lẫn HS. Tuy nhiên, có nhiều loại KTDH khác
nhau, để phát huy vai trò của KTDH thì GV phải vận dụng KTDH trong dạy học phù hợp
với từng đơn vị kiến thức, từng loại bài dạy, từng đối tượng và năng lực tổ chức của GV;
Đồng thời, GV cần phải kết hợp một cách hợp lí các KTDH khác nhau để nâng cao hiệu
quả việc dạy học. Nếu trong QTDH, biết phối hợp tốt các loại KTDH thì sẽ tạo niềm tin
cho HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức đồng thời bồi dưỡng cho HS những kỹ năng
học tập.
3. Một số các kỹ thuật dạy học
Dựa vào mục tiêu chính của bài có thể phân các bài dạy học môn Vật lí: Bài nghiên
cứu kiến thức mới; Bài luyện tập, củng cố kiến thức; Bài thực hành thí nghiệm. Qua đó
có thể phân loại các KTDH theo các nhóm sau:
3.1. Nhóm kỹ thuật dạy bài nghiên cứu kiến thức mới
Mục đích chính bài nghiên cứu kiến thức mới là xây dựng kiến thức mới, xác định
đặc tính mới của đối tượng hoặc các mối quan hệ trong đối tượng đó và hiểu nội dung cơ
bản của kiến thức mới. Để đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tạo động cơ hứng thú,
nhu cầu tìm tòi kiến thức mới GV cần vận dụng một số KTDH như: KT động não, KT
động não viết, KT động não công khai, KT khăn phủ bàn, KT bể cá, KT mảnh ghép...
Kĩ thuật động não

Khái niệm: Kĩ thuật động não là một kĩ thuật nhằm huy động những tư
tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề của các thành viên trong thảo luận. Các thành viên
được cổ vũ tham gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng. Không đánh giá và
phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên, khuyến khích số lượng các
ý tưởng và cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng.

Cách thực hiện
4



- GV tổ chức cho HS trả lời

Yêu cầu HS đưa ra những ý kiến
của mình; lưu ý không trùng lặp các ý kiến đã có. - Suy nghĩ đưa ra ý kiến của mình

Kết thúc việc đưa ra ý kiến;
và ghi lại ý kiến của các bạn.

Đánh giá:
+ YK 1: p tỉ lệ nghịch với V
• Lựa chọn sơ bộ các suy nghĩ
+ YK 2: p tỉ lệ thuận với V
Theo kết quả của giai đoạn điều kiện khởi + YK 3: p tỉ lệ nghịch với V2
đầu thì ý kiến nào bị loại bỏ?
+ YK 4: p tỉ lệ thuận với V2
• Đánh giá những ý kiến đó lựa chọn
- Suy nghĩ trả lời
Như vậy, V giảm thì p tăng và ngược lại nên p
Ta đã biết khi V giảm thì p
i
có thể tỉ lệ nghịch với V hoặc V (với i=2, 3, 4, ...)
tăng và ngược lại nên YK2, YK4
• Rút ra kết luận hành động.
không phù hợp.
Để biết chính xác mối liên hệ giữa p và V
khi nhiệt độ không đổi của một lượng khí chúng
Theo dõi và ghi chép
5



bài mới hay ôn tập củng cố bài học. Thường kĩ thuật này được sử dụng trong PP nhóm
để huy động tất cả tư duy của các thành viên trong nhóm.

Ví dụ minh họa: Tổ chức tìm hiểu khái niệm trạng thái của một lượng khí,
GV có thể vận dụng KT để tổ chức thảo luận nhóm
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
- GV đặt câu hỏi
- HS nghe câu hỏi
Trạng thái của một lượng khí được xác
định bằng những thông số trạng thái nào?
- HS Làm theo yêu cầu của giáo viên
- GV tổ chức trả lời câu hỏi trên:
+ Phân nhóm
 Mỗi bàn một nhóm
 Phân nhóm trưởng
 Phân thư kí của nhóm
+ Gv phát cho mỗi nhóm một tờ giấy và yêu
cầu:

Mỗi thành viên trong nhóm
6


viết ra ý kiến của mình trên tờ giấy đó(có
thể tham khảo các ý kiến trước);

Sau khi các thành viên viết
xong thì nhóm trưởng điều khiển: Dựa
vào các ý kiến đó, các thành viên suy

 Sau khi thu thập xong ý tưởng thì đánh giá các ý tưởng trong nhóm và đưa ra kết luận
chung của nhóm.

Phạm vi vận dụng: Kĩ thuật động não không công khai được vận dụng khi
nghiên cứu một vấn đề nào đó, hoặc trong ôn tập củng cố bài để huy động tư duy của
từng HS không lệ thuộc vào HS bên cạnh.

Ví dụ minh họa: Khi tổ chức dạy học: Định luật Sác-lơ (Vật lí 10 NC) GV
thường lựa chọn PP thực nghiệm để tổ chức hoạt động nhận thức cho HS. Trong giai
đoạn xây dựng giả thuyết, GV có thể dùng KT động não không công khai để tổ chức
hoạt động nhận thức cho HS
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
- GV đặt câu hỏi: Hãy dự đoán mối liên hệ giữa - HS nghe câu hỏi.
áp suất p với nhiệt độ khi thể tích không đổi của
7


một lượng khí nhất định?
- GV tổ chức cho HS trả lời
- Nhận giấy

Phát cho mỗi HS một tờ giấy - Suy nghĩ viết ý kiến của mình vào

Yêu cầu HS viết những ý giấy.
kiến của mình; lưu ý không tham khảo các ý - Suy nghĩ, tích cực đưa ra ý kiến và
kiến của người khác.
ghi lại kết quả:

Thu 5 đến 6 kết quả của HS Đối với một lượng khí, khi thể tích

Phạm vi vận dụng: Kĩ thuật khăn phủ bàn có tư tưởng như kĩ thuật động
não viết, chỉ khác các thành viên trong nhóm đồng thời suy nghĩ và viết ra ý kiến của
mình mà không lệ thuộc vào ý kiến người khác; và được dùng để nghiên cứu một vấn đề
nào đó hay dùng trong ôn tập và củng cố bài.

Ví dụ: Khi tìm hiểu công dụng của tia X (Bài “ Tia Rơnghen” Vật lí 12
NC)
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
- GV đặt câu hỏi: Hãy nêu công dụng - HS nghe câu hỏi
của tia X?
- HS làm theo yêu cầu của GV
- GV tổ chức trả lời câu hỏi

Phân nhóm
8


hoạt động 4 HS (phân nhóm
trưởng và thư kí)

Phát cho mỗi
nhóm một tờ giấy
 Mỗi người ngồi vào vị trí như
hình vẽ minh họa
 Tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ
đề,…)
 Viết vào ô mang số của bạn câu
trả lời hoặc ý kiến của bạn (về
một chủ đề...). Mỗi cá nhân làm

+ Ngoài ra, tia X dùng để kiểm tra hành lí của
hành khách đi máy bay...
Kĩ thuật các mảnh ghép

Khái niệm: Kĩ thuật các mảnh ghép là KTDH được thực hiện theo hai vòng
Vòng 1: Hoạt động theo nhóm 3 người. Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ :
nhóm 1 : nhiệm vụ A; nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C).
- Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ
được giao.
- Mỗi thành viên đều trình bày được nhóm đã tìm ra câu trả lời như thế nào.

9


Vòng 2: Hình thành nhóm 3 người mới (1người từ nhóm 1, 1 người từ nhóm 2 và 1
người từ nhóm 3).
- Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ
với nhau.
- Nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa thành lập để giải quyết.
- Lời giải được ghi rõ trên bảng.

Cách thực hiện

Lựa chọn một chủ đề thực tiễn.

Phân nhóm hoạt động ( mỗi nhóm gồm 3 HS).

Giao nhiệm vụ cho từng nhóm để thực hiện vòng 1 (mỗi
nhóm 1 nhiệm vụ).


Giao nhiệm vụ cho
các nhóm
+ Nhiệm vụ 1: Làm thí nghiệm 1 (thả 1 tờ giấy và 1
hòn bi ở cùng một độ cao) gồm các nhóm 1, 2, 3, 4, 5.
+ Nhiệm vụ 2: Làm thí nghiệm 2 (thả 2 tờ giấy trong
10


đó một tờ bị vò lại ở cùng một độ cao) gồm các nhóm 6, - HS làm thí nghiệm
7, 8, 9, 10.
+ Nhiệm vụ 3: Làm thí nghiệm 3 (thả viên bi và tờ
giấy bị vò lại ở cùng một độ cao) gồm các nhóm 11, 12,
13, 14, 15.

Các nhóm tiến hành thí nghiệm.

Sau 5 phút GV phân lại nhóm hoạt động mới - HS trình bày kết quả
theo nguyên tắc sau: Nhóm gồm 3 HS (1 HS đã làm của mình
nhiệm vụ 1, 1 HS đã làm nhiệm vụ 2, 1 HS đã làm - Thảo luận và đưa ra kết
nhiệm vụ 3).
luận

Các thành viên trong nhóm trình bày kết quả
thu được ở nhóm cũ và thảo luận đưa ra kết luận.
- GV thu kết quả của 3 đến 5 nhóm, tổ chức cho HS thảo
luận và đưa ra ý kiến chung.
Kĩ thuật làm thí nghiệm

Khái niệm: Kĩ thuật làm thí nghiệm là KTDH trong đó, HS sử dụng những
thiết bị với phương pháp thực nghiệm để làm sáng tỏ, khẳng định những luận điểm lý

11


như sau:
Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Thí nghiệm kiểm chứng
- GV tổ chức làm thí nghiệm

GV nói rõ mục đích: Kiểm chứng lại các giả - Hs nắm mục đích làm thí
thuyết đã nêu ở giai đoạn 2.
nghiệm

GV giới thiệu qua thí nghiệm.
- Nắm vững nguyên tắc sử

GV chỉ dẫn nội dung thí nghiệm và các giai đoạn dụng các thiết bị và cách tiến
thí nghiệm với các thiết bị cần thiết;
hành thí nghiệm

GV lưu ý HS cách sử dụng các thiết bị, các
nguyên vật liệu thí nghiệm...

Nếu có đủ thí nghiệm cho các nhóm thì cho HS - Tập trung làm thí nghiệm và
độc lập tiến hành thí nghiệm, ghi chép và viết bản tường ghi chép kết quả
trình thí nghiệm, còn không đủ thí nghiệm thì vận dụng
KT bể cá (được tổ chức ở KT bể cá), trong khi đó GV chỉ
giám sát để uốn nắn kịp thời.

GV chỉ định một vài HS trình bày thí nghiệm của - Trình bày kết quả thí nghiệm

Hoạt động của GV
Hoạt động của HS

GV phân nhóm hoạt động và giao - HS ngồi theo vị trí của nhóm và ghi
nhiệm vụ:
nghiệm vụ của nhóm
+ Nhóm 1: khoảng 4 đến 6 HS gọi
“nhóm bể cá” ngồi ở giữa làm thí
nghiệm và đọc các kết quả đo được. - HS làm theo yêu cầu của GV và ghi kết
+ Nhóm 2: số HS còn lại gọi “nhóm qua đo được vào bảng sau
quan sát” ngồi xung quanh “nhóm
bể cá” quan sát “nhóm bể cá” làm
Lầ V(cm3 P(pa p. p2. p.V
2
thí nghiệm và ghi lại số liệu.
n
)
)
V
V
1

Nhóm 1 làm thí nghiệm, nhóm 2
2
quan sát và GV chỉ giám sát để uốn nắn
3
kịp thời.

Nhóm 1 báo cáo kết quả, nhóm 2 - HS thảo luận và đưa ra kết quả
p.V = const, nghĩa là đối với một lượng

Bằng CHỮ IN HOA. Nhánh và chữ viết trên đó được vẽ và viết cùng
một màu. Nhánh chính đó được nối với chủ đề trung tâm. Chỉ sử dụng các thuật ngữ
quan trọng để viết trên các nhánh.

Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội
dung thuộc nhánh chính đó. Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường.

Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

Phạm vi vận dụng: Kĩ thuật sơ đồ tư duy thường được vận dụng khi tổ
chức ôn tập hoặc củng cố bài hoặc trong dạy bài tập.

Ví dụ minh họa: Khi củng cố bài Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt (Vật lí 10
nâng cao), GV có thể vận dụng KT sơ đồ tư duy để tổ chức hoạt động dạy học
- GV phân nhóm hoạt động (mỗi bàn là một nhóm, người ở mép bàn bên trái làm nhóm
trưởng), phát cho mỗi nhóm một tờ giấy (ở giữa có ghi tên bài học), sau đó yêu cầu HS
+ Gấp toàn bộ sách vở và các tài liệu liên quan
+ Giới thiệu KT sơ đồ tư duy
+ Vận dụng KT sơ đồ tư duy để tóm tắt kiến thức của bài vừa học.
- HS làm theo yêu cầu của GV dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng.
- GV thu 2 đến 3 kết quả của các nhóm và tổ chức cho toàn lớp thảo luận.
- HS tập trung thảo luận và ghi chép kết luận.

Kĩ thuật ổ bi

Khái niệm: Kĩ thuật "ổ bi" là một kĩ thuật dùng trong thảo luận nhóm, trong
đó HS chia thành hai nhóm ngồi theo hai vòng tròn đồng tâm như hai vòng của một ổ bi
và đối diện nhau để tạo điều kiện cho mỗi HS có
thể nói chuyện với lần lượt các HS ở nhóm khác.



Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; đề nghị cải tiến.

Sau khi thu thập ý kiến thì GV phân nhóm dựa vào các điều tốt (những HS có
cùng một điều tốt thành một nhóm)

Tổ chức cho lớp thảo luận về các ý kiến phản hồi:
+ Đại diện các nhóm giải thích những vấn đề chưa tốt và cần cải tiến
+ GV quan sát điều khiển quá trình thảo luận.

Phạm vi vận dụng: Kĩ thuật “3 lần 3” được dùng để tổ chức cho HS ôn tập
chương hoặc củng cố bài sau mỗi tiết dạy. Tuy nhiên, trong thực tế số lượng điều tốt
hay điều chưa tố hay đề nghị cải tiến không phải lúc nào là 3, có thể nhiều hơn hoặc ít
hơn.

Ví dụ minh họa: Khi củng cố bài “Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt” (Vật lí 10
NC). Sau khi GV yêu cầu HS viết ra giấy: Các kiến thức của bài mà em nắm được tốt
nhất, kiến thức của bài mà em nắm còn mơ màng, kiến thức của bài mà em chưa nắm
được. Ví dụ GV thu được ý kiến phản hồi như bảng sau:
Tên
Kiến thức
Kiến thức
Kiến thức
HS
nắm được tốt nhất
Nắm còn mơ màng
chưa nắm được
Anh
- Quá trình đẳng nhiệt
- Đường đẳng nhiệt - Giải thích vì sao đường

nhiệt
- Giải thích vì sao
đường đẳng nhiệt
trong hệ OPV càng
xa O thì có nhiệt độ
càng lớn?

- GV Phân nhóm hoạt động
+ Nhóm 1 là những HS nắm tốt kiến thức quá trình đẳng nhiệt: Anh, Bông và Nam.
+ Nhóm 2 là những HS nắm tốt kiến thức định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt: Anh, Hồng và
Nam.
+ Nhóm 3 là những HS nắm tốt kiến thức đường đẳng nhiệt: Bông và Hồng.
- GV phân công nhiệm vụ thảo luận
+ Nhóm 1: Giải thích những ý kiến của các bạn còn mơ màng hay chưa nắm về kiến
thức quá trình đẳng nhiệt, cụ thể của bạn Hồng.
+ Nhóm 2: Giải thích những ý kiến của các bạn còn mơ màng hay chưa nắm về kiến
thức định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt, cụ thể của bạn Bông.
+ Nhóm 3: Giải thích những ý kiến của các bạn còn mơ màng hay chưa nắm về kiến
thức đường đẳng nhiệt, cụ thể của bạn Anh và bạn Nam.
- GV điều khiển thảo luận.
Ngoài ra, khi tổ chức ôn tập, củng cố và luyên tập GV có thể vận dụng một số
KTDH khác như: KT tranh luận ủng hộ - phản đối, KT XYZ, KT thu thông tin phản hồi
trong quá trình dạy học, KT đống vai,… ở phần phụ lục.
3.3. Nhóm kĩ thuật dạy bài thực hành thí nghiệm
Mục đích chính của bài thực hành thí nghiệm rèn luyện kỹ năng sử dụng một số thiết
bị cơ bản, thực hiện các phép đo cơ bản. Rèn luyện kỹ năng sử dụng thí nghiệm để
nghiên cứu những tính chất hay những mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng. Vì vậy,
GV khi tổ chức dạy bài thực hành cần vận dụng các KTDH: KT động não, KT làm thí
nghiệm, KT bể cá, KT lược đồ tư duy, KT khăn phủ bàn.
BÀI TẬP

cụ thể được sử dụng như phương pháp học hợp tác nhóm, PPDH nêu vấn đề, phương
pháp đóng vai,... Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH, người ta cũng
gọi là phương pháp dự án, khi đó cần hiểu đó là PPDH theo nghĩa rộng, một PPDH phức
hợp.
Tóm lại, DHDA là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm
vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có
thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ
quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế hoạch, đến việc thực hiện dự án,
kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức
cơ bản của DHDA. Bản chất của DHDA chính là việc HS lĩnh hội kiến thức và kĩ năng
thông qua quá trình giải quyết một bài tập tình huống gắn với thực tiễn – dự án. Kết thúc
dự án sẽ cho ra sản phẩm cụ thể.

17


2. Phân loại dự án học tập
DHDA có thể được phân loại dựa trên nhiều phương diện khác nhau. Sau đây là một
số cách phân loại dạy học theo dự án:
* Phân loại theo nội dung
• Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học.
• Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau.
• Dự án ngoài môn học: là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví
dụ dự án tổ chức kỉ niệm 50 năm thành lập trường, dự án thiết kế sân thể thao của
trường…
* Phân loại theo hình thức tham gia của người học
• Dự án cá nhân
• Dự án nhóm
• Dự án toàn lớp
• Dự án toàn trường

của DHDA đó là: định hướng HS, định hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm. Theo
tài liệu của PGS. TS Đỗ Hương Trà (ĐHSP Hà Nội), các đặc điểm đó như sau:
Định hướng vào người học
- Định hướng hứng thú của người học: HS được trực tiếp tham gia chọn đề tài, nội
dung học tập phù hợp khả năng và hứng thú của cá nhân, khuyến khích tính tích cực, tự
lực, tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Tuy nhiên mức độ tự lực, sáng tạo cần
phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của HS và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. HS kiểm
soát được việc học của mình, từ đó chủ động, hăng hái tham gia giải quyết nhiệm vụ
được giao. Việc đặt HS vào tình huống khám phá thế giới, chia sẻ tiến trình khai thác
kiến thức, tiến trình giải quyết vấn đề và cơ hội cộng tác làm việc trong DHDA là một
trong những biện pháp tốt nhất để duy trì động cơ học tập.
- Tính tự lực cao của người học: HS chủ động, tích cực tham gia vào các giai đoạn
khác nhau của quá trình học, từ việc đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết, giải quyết
vấn đề cũng như trình bày, báo cáo sản phẩm.
- Định hướng hành động: trong tiến trình thực hiện dự án, HS có sự kết hợp giữa lí
thuyết và thực hành, huy động mọi giác quan, củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức,
tăng cường kĩ năng hành động thực tiễn, kinh nghiệm sống. Từ đó, con người trở nên
năng động, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
- Cộng tác làm việc: Các dự án được thực hiện theo nhóm, có sự cộng tác, giúp đỡ và
phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm, có sự phối hợp giữa HS, GV và các
lực lượng xã hội tham gia vào dự án. Qua đó rèn luyện cho người học tính sẵn sàng và kĩ
năng cộng tác làm việc, kĩ năng giao tiếp, ý thức kỉ luật… đồng thời mở rộng tầm hiểu
biết về những điều đang học. Việc học mang tính chất xã hội.
- Mang tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều môn học hay
lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề mang tính phức hợp.
19


Định hướng vào thực tiễn
- Gắn liền với thực tiễn: Chủ đề dự án xuất phát từ tình huống thực tiễn của đời sống

thực hành. Kiến thức lí thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua
thực tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra.
Giới thiệu sản phẩm
Các kết quả thực hiện dự án được công bố dưới nhiều hình thức như viết thu hoạch,
báo cáo, luận văn... Sản phẩm của dự án có thể là các sản phẩm vật chất cũng có thể là
20


những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức tuyên
truyền về một vấn đề mang tính chất thời sự… Trình bày sản phẩm có thể giới hạn giữa
các nhóm HS trong lớp, trong trường, hay rộng hơn là ngoài xã hội.
Đánh giá dự án
GV và HS cùng tham gia đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh
nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo.
Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài.
Việc phân chia các giai đoạn chỉ mang tính chất tương đối. Trong thực tế chúng có
thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau. Các giai đoạn của dự án, GV cần nhắc nhở HS tự kiểm
tra nội dung cũng như phương thức hoạt động để kịp thời điều chỉnh cho chính xác. Với
những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm
vụ dự án. Có thể mô tả các giai đoạn của DHDA (đối với HS) bằng sơ đồ sau:

Hình 2. Các giai đoạn của dạy học dự án
5. Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học dự án
Khi GV và HS cùng nhau thực hiện dự án và kết hợp công nghệ vào dự án, vai trò
của họ sẽ thay đổi.
5.1. Vai trò của giáo viên
Các hoạt động dự án trong lớp học đòi hỏi vai trò của GV phải được thay đổi. GV
không còn là người thuyết giảng, diễn giải mà đóng vai trò là người hướng dẫn, tham vấn
cho HS. Bản thân GV không chỉ là những chuyên gia mà còn cùng tham gia tìm kiếm, xử
21

học tập.
Trong quá trình HS thực hiện dự án, GV phải theo dõi, đôn đốc thường xuyên để kịp
thời phát hiện khó khăn, tháo gỡ những vướng mắc, giúp cho tiến độ thực hiện được đảm
bảo, động viên, khích lệ kịp thời giúp họ hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng tốt nhất có
thể.
Khi HS trình bày sản phẩm, GV tổ chức cho các HS khác lắng nghe, tham gia chất
vấn, thảo luận để tất cả HS trong lớp đều được tham gia vào hoạt động nhận thức.
• Tổ chức cho HS tự đánh giá và tham gia đánh giá quá trình học tập của HS
22


Trong DHDA, việc đánh giá sẽ thúc đẩy việc học và cải tiến việc dạy. Đánh giá liên
tục và định kì là khâu tất yếu của hình thức dạy học này. Nó có ý nghĩa quan trọng trong
việc giúp HS thể hiện được những gì đã học bằng nhiều cách khác nhau. Thông qua đó,
GV biết nhiều hơn về nhu cầu của HS và từ đó điều chỉnh kịp thời việc giảng dạy.
GV tổ chức cho HS đánh giá quá trình học tập theo nhóm của từng cá nhân và kết
quả học tập, giúp họ tự nêu ra những khó khăn trong quá trình thực hiện, thấy được
những hạn chế, cách khắc phục…
Dựa trên sự tổng kết đánh giá về sản phẩm học tập, GV cần khuyến khích HS mở
rộng chủ đề, triển khai tiếp công việc mà họ mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt lợi ích cho
việc học của họ. Sự đánh giá phải đảm bảo công bằng, hợp lí để có thể động viên, khích
lệ thái độ học tập tốt ở HS. Để giúp HS có thể thành công trong quá trình đánh giá và tự
đánh giá thì GV cần cung cấp:
- Các tiêu chuẩn rõ ràng;
- Những cơ hội để HS theo dõi sự tiến bộ của bản thân và của nhóm;
- Thời gian đủ để hoàn thành công việc;
- Những phương pháp thu thập phản hồi chính xác để chia sẻ với bạn học, kết hợp
những phản hồi từ bạn học để tăng hiệu quả công việc. GV nên tổ chức cho HS tự trao
đổi thông tin và đánh giá thông qua việc lập các trang web.
5.2. Vai trò của học sinh

- Phát triển khả năng sáng tạo;
- Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp;
- Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn;
- Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc thông qua quá trình làm việc nhóm;
- Phát triển năng lực đánh giá.
* Hạn chế:
Mặc dù DHDA có rất nhiều ưu điểm nhưng nó cũng tồn tại những hạn chế như sau:
- Không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lí thuyết mang tính trừu tượng, hệ
thống; không khuyến khích thực hiện vào phần kiến thức then chốt cần phải truyền đạt
chính xác và đầy đủ cho người học;
- Đòi hỏi nhiều thời gian. Một dự án có thể kéo dài trong vài ngày, thậm chí vài
tuần. Vì vậy DHDA không thay thế cho phương pháp thuyết trình và luyện tập, mà là
hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống;
- Hoạt động học tập gắn liền thực hành, thực tiễn, do đó khi thực hiện DHDA đòi
hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp;
- Dự án cần sự tích hợp công nghệ thông tin đòi hỏi người học và người dạy phải có
những kiến thức cơ bản về tin học.
Do vậy, để DHDA đạt hiệu quả, GV phải chọn lọc những kiến thức có tính thực tiễn
cao. Trong dạy học Vật lý, có nhiều kiến thức ứng dụng kỹ thuật gắn liền với thực tiễn,
phù hợp để triển khai dự án. Vận dụng dự án trong dạy học ứng dụng kỹ thuật sẽ giúp HS
chủ động, hứng thú trong học tập, kết quả của quá trình học giúp HS lĩnh hội vững chắc
các kiến thức và ý nghĩa của những kiến thức đó trong thực tiễn.
7. Tiến trình tổ chức dạy học dự án
Bước 1: GV xác định nội dung bài học có nội dung phù hợp để triển khai dự án. Tiến
hành ôn tập những kiến thức Vật lý liên quan. HS phân chia nhóm, thảo luận, lựa chọn
chủ đề dự án.
Bước 2: GV hướng dẫn HS xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện
dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự
kiến, phương tiện, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm.
Bước 3: Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch và nhiệm vụ đã đề ra cho

 Giới thiệu khái quát, đầy đủ những ý tưởng xuyên suốt các môn học. Câu hỏi khái
quát chính là cầu nối giữa các bài học, giữa bài học và môn học, giữa các môn học và
thậm chí cả khóa học trong một năm;
 Chúng thường là những CHKQ về thực tế. Đối với các câu hỏi loại này thường
không chỉ có một câu trả lời đúng. Chúng xuất hiện nhiều lần và theo thời gian, trình độ
người học ngày càng tăng thì các câu trả lời cũng ngày càng đa dạng, phức tạp và mang
nhiều sắc thái hơn;
 Thu hút được sự quan tâm, khơi dậy hứng thú nhận thức của người học với yêu
cầu tư duy bậc cao. Để trả lời được CHKQ, HS cần có thời gian nghiên cứu vấn đề một
cách nghiêm túc, khoa học;
25


Trích đoạn Tiến trình của quá trình NCBH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status