Trên cơ sở lý luận văn hoá chính trị, hãy phân tích các nội dung giải pháp để nâng cao văn hoá chính trị của tổ chức Đảng - Pdf 33

Vấn đề 5: Trên cơ sở lý luận văn hoá chính trị, hãy phân tích các nội dung giải pháp
để nâng cao văn hoá chính trị của tổ chức Đảng ?
Chính trị là một trong những lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, trong xã hội có giai cấp
và nhà nước. Là một sản phẩm tất yếu của chế độ xã hội có giai cấp và nhà nước, chính trị có
quan hệ mật thiết với kinh tế, là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại. Chính trị
còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá, của môi trường xã hội và những điều kiện hoàn cảnh
lịch sử cụ thể xác định khác. Văn hoá nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và quan hệ
của con người văn hoá nhập vào kinh tế và chính trị. Hoạt động chính trị, nhất là trong chính trị
xã hội liên hệ mật thiết với văn hoá và càng phải đạt tới một trình độ văn hoá chính trị. Văn hoá
là toàn bộ hoạt động của con người mang lại các giá trị vật chất lẫn tinh thần hướng tới Chân Thiện - Mỹ. Văn hoá chính trị là văn hoá trong lĩnh vực chính trị của xã hội có giai cấp với
nhiều quan hệ chính trị khác nhau. Văn hoá chính trị chính là sự thẩm thấu của văn hoá vào
chính trị để nâng chính trị lên tầm văn hoá. Có văn hoá là có chính trị nhân văn, chính trị không
có văn hoá là chính trị trị tàn bạo, thô thiển. Chính trị định hướng cho văn hoá phát triển hạn
chế những sản phẩm không phục vụ cho con người, phát huy những mặt tích cực để xây dựng
xã hội ngày càng tốt đẹp hơn. Văn hoá chính trị là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần
được hình thành trong thực tiễn chính trị, là một trong những cơ sở quan trọng chi phối định
hướng hoạt động của các chủ thể chính trị, các phong trào chính trị, từng nền chính trị khác
nhau trong lịch sử chính trị.
Nội dung của văn hoá chính trị thể hiện ở các phương diện khác nhau. Đó là tổng hoà của
những giá trị do chủ thể chính trị sáng tạo ra. Trong đó tri thức chính trị là những hiểu biết một
cách có hệ thống về lĩnh vực chính trị, biểu hiện của nó bằng trình độ học vấn về chính trị, trình
độ kinh nghiệm trong hoạt động chính trị thực tiễn, là sự thống nhất hữu cơ giữa tri thức lý luận
chính trị và tri thức kinh nghiệm chính trị. Để có văn hoá chính trị, tri thức không chỉ trở thành
phương pháp mà còn phải chuyển hoá thành xúc cảm, tình cảm nữa. Đó phải là trạng thái tích
cực, là tình cảm cách mạng mà người hoạt động chính trị cần phải có. Đó là những văn hoá
chính trị truyền thống được đúc kết từ trong lịch sử chính trị của dân tộc và nhân loại, làm nên
nét đặc sắc riêng cho văn hoá chính trị cho dân tộc và thời đại ấy. Đó là hệ tư tưởng - đường lối
chính sách, đây là bộ phận cốt lõi nhất của văn hoá chính trị, phản ánh khái quát lợi ích giai
cấp, phương thức và con đường để thực hiện được lợi ích của giai cấp, mục tiêu của chủ thể
chính trị. Tính chất, trạng thái của chủ thể chính trị là sự ngày càng hoàn thiện thể chế chính trị,
biểu hiện ở sức mạnh, tính hiện thực của thiết chế - pháp chế, là sự kiện toàn của hệ thống tổ

lượng lãnh đạo và quản lý của chủ thể quyền lực. Với những ảnh hưởng của văn hoá chính trị,
giới cầm quyền kịp thời phát hiện ra những mâu thuẫn trong các quan hệ chính trị - xã hội và từ
đó đưa ra các giải pháp; biện pháp để tháo các ngòi nổ đó làm dịu bớt những xung đột xã hội.
Và ngược lại nếu thiếu văn hoá chính trị người ta có thể làm cho những quan hệ xã hội – chính
trị vốn bình thường trở nên căng thẳng, phức tạp thậm chí trong cách thức giải quyết cũng mắc
phải sai lầm như chủ quan nóng vội, thiếu tinh tế nhiều lúc dẫn tới đối đầu ảnh hưởng rất xấu
tới ổn định xã hội.
+ Văn hoá chính trị hướng năng lực và phẩm chất con người vào những hoạt động tích
cực, sáng tạo để thực hiện các giá trị lý tưởng đã lựa chọn. Sự phát triển văn hoá chính trị ở
một trình độ cao, với niềm tin sâu sắc dựa trên cơ sở khoa lý vào lý tưởng chính trị đã lựa chọn,
có thể giúp con người vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thậm chí có thể hy sinh để thực hiện
lý tưởng chính trị cao đẹp.
+ Văn hoá chính trị thông qua sự giáo dục, tuyên truyền, quảng bá trong xã hội, thông qua
rèn luyện và thực hành của cá nhân, tập thể, cộng đồng góp phần thúc đẩy tính tích cực chính
trị của công dân, thái độ quan tâm tới đời sống chính trị, nâng cao trách nhiệm của từng người,
từng tổ chức trong hệ thống chính trị.
+ Văn hoá chính trị góp phần bảo đảm thực hiện phát huy dân chủ, đấu tranh chống quan
liêu tham nhũng và mọi biểu hiện của thoái hoá chính trị; góp phần giáo dục ý thức chính trị
cho quần chúng, đào tạo và rèn luyện những nhân cách chính trị, những tài năng chính trị xuất
hiện và trưởng thành trong phong trào quần chúng và trong thực tiễn chính trị.
Đất nước ta đang trên con đường đổi mới, đây là một thời cơ lớn nhưng cũng gặp phải
những thách thức lớn. Thời cơ biểu hiện ở chổ, đổi mới là thời cơ chúng ta thay đổi cách nghỉ
cách làm, tầm nhìn cách ứng xử, đánh gía trước tình hình thời cuộc đang biến chuyển sôi động.
Đổi mới mang tầm vóc của một cuộc cách mạng sâu xa và trên quy mô xã hội. Đổi mới còn là
một thời cơ lớn để đào tạo và rèn luyện cán bộ để thực hiện những cuộc cải cách trước hết là
hai lĩnh vực quan trọng đó là kinh tế và chính trị. Thách thức lớn đồng thời những nguy cơ
cũng dần dần xuất hiện và lộ rõ trong đà phát triển của KT thị trường, trong mở cửa hội nhập.
Đó là nguy cơ về chệch hướng XHCN, về tụt hậu và lạc hậu ngày một xa hơn; quan liêu tham
nhũng đã trở thành “quốc nạn”, là âm mưu “diễn biến hoà bình”, bạo lực lật đổ của các thế lực
thù địch. Với những thời cơ và thách thức như trên tác động, chi phối sự hình thành văn hoá

đoàn thể.
Tuy vậy Đảng ta còn vấp phải một số khuyết điểm, hạn chế. Đảng ta đã nhìn nhận và
dũng cảm chỉ ra các tồn tại, khuyết điểm của mình, đó là: Tình trạng chủ quan duy ý chí, quan
liêu tham nhũng, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vừa không giữ
đúng kỷ cương phép nước; chức năng của các bộ phận trong hệ thống chính trị vẫn chưa được
làm rõ đặc biệt là ở các cấp cơ sở; nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới; chính
sách đào tạo bồi dưỡng chắp vá thiếu đồng bộ nhất là ở cơ sở. Tình trạng đó xảy ra dẫn đến
một bộ phận nhân dân mất niềm tin vào Đảng.
Bên cạnh đó chúng ta còn đứng trước một số mâu thuẫn cần được giải quyết. Đó là mâu
thuẫn giữa yêu cầu cao về mọi mặt của sự đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH với trình độ năng lực
của nhiều cán bộ còn hạn chế, khả năng đào tạo có hạn, bằng cấp không xứng với thực tài; tình
trạng trì trệ kéo dài; đội ngũ cán bộ ngày một già đi, chậm bổ sung sức trẻ; tỷ lệ cán bộ nữ, cán
bộ xuất thân công nông và các gia đình có công với cách mạng còn thấp, sự phân bố cán bộ
trong các cấp, các ngành các lĩnh vực còn bất hợp lý. Công tác tổ chức cán bộ chưa góp phần
đẩy lùi tiêu cực, tham nhũng, chính sách cán bộ còn nhiều thiếu sót, bất hợp lý.
Tất cả những gì làm được và chưa làm được chứng tỏ rằng sự lãnh đạo của Đảng chưa
ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạn mới. Đảng chưa đáp ứng được yêu cầu trong việc
giải quyết nhiều vấn đề kinh tế - xã hội, trong phong cách lãnh đạo và cả trong việc rèn luyện
phẩm chất cán bộ, đảng viên.
Từ những bài học rút ra trong công cuộc phát triển đất nước theo con đường XHCN, ý
thức được vai trò lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo toàn xã hội, Đảng CSVN hiểu rằng, từ
đây Đảng phải là người trước hết chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với vận mệnh của dân tộc, sự
phồn vinh của đất nước, sự tự do hạnh phúc của nhân dân. Để xứng đáng với vai trò đó, bằng
những nỗ lực phấn đấu mang tính cách mạng trong thời kỳ đổi mới, một lần nữa, trình độ nhận
thức lý luận – tư duy, năng lực, phẩm chất, bản lĩnh của Đảng CSVN được nâng lên một tầm
mới.

3



lợi ích của nhân dân lao động và lợi ích của cả dân tộc.
+ Đảng phải thường xuyên tổng kết kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn của Đảng,
của đất nước và của các nước trên thế giới, đặc biệt là kinh nghiệm của các nước có điều kiện
phát triển tương tự như đất nước ta. Từ những bài học kinh nghiệm đó, tìm cách vận dụng sáng
tạo phù hợp với điều kiện đặc thù của hoàn cảnh xã hội Việt Nam, con người Việt Nam trong
từng giai đoạn phát triển.
+ Bằng nhiều phương thức để đánh giá đúng tiềm năng, thế mạnh quốc gia – dân tộc,
trong đó đặc biệt là nguồn lực lao động, nguồn lực trí tuệ. Tìm kiếm những hình thức, cách
thức để khơi dậy, phát huy sức mạnh của các nguồn lực đó phục vụ mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh”.
+ Mềm dẻo, linh hoạt và tinh tế trong việc tìm kiếm, thực hành các biện pháp khơi dậy và
phát huy tiềm năng của mọi chủ thể kinh tế trên tinh thần các nguyên tắc: tôn trọng tính độc lập
sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể; cùng có lợi trong chiến lược làm
giàu cho Tổ quốc, quê hương và mỗi gia đình, mỗi người. Phải thổi bùng lên trong mỗi con
người và toàn xã hội Việt Nam ý thức về nỗi nhục “đói nghèo”, “tụt hậu” cũng giống như nỗi
nhục mất nước, để mỗi người và cả nước lập nên những “Điện Biên Phủ” trong công cuộc xây
dựng, phát triển đất nước phồn thịnh, văn minh.

4


+ Tính toán đầy đủ tương quan lợi ích giữa các lực lượng (giai cấp, dân tộc, tầng lớp) để
hoạch định các quyết sách công sao cho những quyết sách đó thực sự trở thành lợi ích-chất keo
kết dính mọi người dân, mọi nhóm xã hội với Đảng, với Nhà nước. Đó cũng chính là phương
thức, điều kiện tạo nên sự đồng thuận xã hội, là động lực kích thích, định hướng tính tích cực
chính trị-xã hội của mọi công dân, mọi nhóm lợi ích.
+ Mỗi Đảng viên Đảng CSVN phải là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai
cấp công nhân, mẫu mực trong tư tưởng, đạo đức, lối sống, luôn luôn hăng hái đi đầu thực hiện
đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, biết đặt lợi ích của Tổ
quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân, từ đó có sức cổ vũ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status