I. MỞ ĐẦU.
Tổ chức xã hội là hình thức tổ chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam có chung
mục đích tập hợp, hoạt động theo pháp luật và điều lệ, không vì lợi nhuận nhằm đáp ứng những
lợi ích chính đáng của các thành viên và tham gia vào quản lí nhà nước, quản lí xã hội. Trong
giai đoạn hiện nay, khi quyền tự do, dân chủ của công dân ngày càng được chú trọng mở rộng
và bảo vệ thì các tổ chức xã hội ra đời ngày càng nhiều, có ý nghĩa quan trọng đối với chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội. Các tổ chức xã hội có những đặc điểm chung nhất định để phân biệt
với các cơ quan nhà nước và với tổ chức khác, trong đó có tính chất tự nguyện và tự quản trong
tổ chức và hoạt động là những đặc điểm quan trọng. Để hiểu hơn về vấn đề này, nhóm em xin
chọn đề tài “Phân tích tính chất tự nguyện, tự quản trong tổ chức và hoạt động của các tổ
chức xã hội được thành lập theo sáng kiến của Nhà nước”.
II. NỘI DUNG.
1. Khái quát các tổ chức xã hội được thành lập theo sáng kiến của Nhà nước.
1.1. Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Để đáp ứng nhu cầu xã hội về việc làm, hỗ trợ lẫn nhau về chuyên môn nghiệp vụ, mở
rộng dân chủ… nhà nước ta cho phép hình thức tổ chức xã hội nghề nghiệp được thành lập và
hoạt động. Hoạt động nghề nghiệp của các tổ chức này đặt dưới sự quản lí của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
Là 1 loại tổ chức xã hội nên tổ chức xã hội nghề nghiệp cũng mang những đặc điểm
chung của tổ chức xã hội. Đó là: được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện của các thành viên
cùng chung 1 lợi ích hay cùng 1 giai cấp, cùng nghề nghiệp, sở thích; hoạt động tự quản theo
pháp luật của nhà nước và điều lệ do các thành viên của tổ chức xây dựng; hoạt động không
nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên; nhân
danh chính tổ chức mình để tham gia hoạt động quản lí nhà nước, chỉ trong trường hợp đặc biệt
do pháp luật quy định thì mới được nhân danh nhà nước.
Ngoài các đặc điểm chung của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp còn có 1 số
đặc điểm riêng, đó là:
+ đây là loại hình tổ chức xã hội do sáng kiến của nhà nước, nó được hình thành theo quy định
của Nhà nước. Điều này thể hiện: điều kiện thống nhất về thành viên do Nhà nước quy định
(thành viên của Đoàn luật sư trước hết phải là luật sư…), tổ chức và hoạt động đặt dưới sự quản
lí của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
quản lí hành chính ở địa phương. Ví dụ, tổ chức thanh tra nhân dân, tổ dân phố, tổ dân phòng…
2. Tính chất tự nguyện, tự quản của các tổ chức xã hội được thành lập theo sáng kiến của
Nhà nước.
2.1. Tính chất tự nguyện của các tổ chức xã hội được thành lập theo sáng kiến của Nhà
nước.
Các tổ chức xã hội được thành lập theo sáng kiến của Nhà nước cũng được hình
thành trên nguyên tắc tự nguyện của các thành viên cùng chung một lợi ích hay cùng giai cấp,
nghề nghiệp, cùng giới tính, sở thích... Với những điểm chung đó, họ liên kết nhau lại, tìm
tiếng nói chung trong 1 hình thức tổ chức nhất định nhằm đáp ứng và bảo vệ những lợi ích
chính đáng của các thành viên. Do đó đây là dấu hiệu đặc trưng thể hiện quyền tự do của công
dân trong việc tham gia hoặc không tham gia vào một tổ chức nhất định. Các tổ chức xã hội
được thành lập theo sáng kiến của Nhà nước đều xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của mỗi cá
nhân, không ai có quyền ép buộc người khác phải tham gia hoặc không tham gia, trên cơ sở tự
nguyện của các thành viên có chung một đặc điểm nào đó, ví du Đoàn Luật sư là tổ chức của
những người có cùng nghề nghiệp. Yếu tố tự nguyện còn được thể hiện ở việc kết nạp hay khai
trừ các thành viên hoàn toàn do tổ chức và các thành viên quyết định, Nhà nước không can
2
2
thiệp và cũng không sử dụng quyền lực Nhà nước để chi phối việc gia nhập, kết nạp thành viên
hay lựa chọn người đầu tổ chức các này mà vấn đề này do điều lệ quy định phù hợp với tôn chỉ,
mục đích hoạt động và dấu hiệu tập hợp thành viên của chính các tổ chức xã hội được thành lập
theo sáng kiến của Nhà nước.
* Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
Trong phạm vi bài viết, nhóm em xin phân tích tính chất tự nguyện trong tổ chức và hoạt
động của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp với 1 số tổ chức tiêu biểu: Trung tâm trọng tài,
Đoàn luật sư.
3
giám sát việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, thực hiện
quản lí hành nghề luật sư theo quy định của luật này.
Tổ chức xã hội nghề nghiệp của luật sư là Đoàn luật sư ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương và tổ chức luật sư toàn quốc”.
Cũng như trung tâm trọng tài, Đoàn luật sư có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con
dấu riêng và hoạt động bằng kinh phí do các luật sư đóng góp và các nguồn thu nhập khác. Tại
mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi có từ ba người có Chứng chỉ hành nghề luật sư
trở lên thì được thành lập Đoàn luật sư và việc thành lập này dựa trên sự tự nguyện của họ. Uỷ
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phép thành lập Đoàn luật sư sau khi
thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Công dân Việt Nam có đủ điều kiện gia nhập đoàn luật
sư, tự nguyện xin gia nhập thì đều có thể trở thành thành viên của Đoàn. Tiêu chuẩn thành viên
được quy định cụ thể trong Luật luật sư và Điều lệ Đoàn, đó là: Là công dân Việt Nam thường
trú tại Việt Nam; là luật sư (khoản 4 Điều 60); có phẩm chất đạo đức tốt; không phải là cán bộ,
công chức theo quy định của Luật cán bộ, công chức.
Những người không được gia nhập Đoàn luật sư là: Người đang bị truy cứu trách nhiệm
hình sự; người đang bị quản chế hành chính; người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân
sự; là cán bộ, công chức bị buộc thôi việc mà chưa hết thời hiệu 3 năm kể từ ngày quyết định
buộc thôi việc có hiệu lực.
Các thành viên của Đoàn luật sư tự giác chấp hành Điều lệ và thủ tục gia nhập của Đoàn,
tự nguyện đóng phí gia nhập Đoàn luật sư, phí thành viên của Đoàn. Ví du, theo Điều 28 Điều
lệ Đoàn luật sư thành phố Hà Nội, mỗi luật sư thành viên đóng 80.000đ/1 tháng. Trong đó:
Phí thành viên của Đoàn luật sư 50.000 đồng ; Phí thành viên của Liên đoàn luật sư 30.000
đồng; Mỗi luật sư khi gia nhập Đoàn luật sư thành phố Hà Nội góp quỹ 10.000.000đ/người.
* Các tổ chức tự quản.
Điều 3, Hiến pháp 1992 khẳng định “nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền
làm chủ về mọi mặt của nhân dân”. Quyền được tham gia vào quản lý các công việc của nhà
nước và xã hội là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận và trên thực tế nó đã
Điều lệ hoạt động của các tổ chức xã hội nghề nghiệp không quy định quyền và nghĩa vụ
pháp lí của các tổ chức xã hội, không xác định năng lực chủ thể của các tổ chức xã hội trong
quản lí nhà nước và chỉ có hiệu lực đối với các thành viên của tổ chức, mà vấn đề này do Nhà
nước quy định trong các văn bản pháp luật về hội như Hiến pháp, Luật luật sư, pháp lệnh trọng
tài thương mại… Trong khi đó, các tổ chức tự quản không có điều lệ hoạt động mà hoạt động
tự quản theo pháp luật. Trong quá trình hoạt động, các tổ chức xã hội này tự xử lí và giải quyết
các công việc nội bộ của mình, Nhà nước không can thiệp nếu hoạt động của các tổ chức xã hội
được thành lập theo sáng kiến của Nhà nước không trái pháp luật.
* Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp.
• Trung tâm trọng tài.
Trung tâm trọng tài hoạt động tự quản theo quy định của pháp luật và điều lệ của mình. Nhà
nước không trực tiếp can thiệp vào công việc nội bộ của trung tâm trọng tài, không sử dụng
quyền lực nhà nước để sắp xếp người lãnh đạo hay cơ cấu tổ chức của trung tâm trọng tài.
Trung tâm trọng tài được lập chi nhánh, văn phòng đại diện ở trong nước, nước ngoài theo quy
định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chúng. Cơ cấu, bộ máy của Trung
tâm trọng tài do điều lệ của Trung tâm quy định theo đó, Trung tâm trọng tài có Ban điều hành
và Ban thư ký. Ban điều hành Trung tâm trọng tài gồm có Chủ tịch, một hoặc các Phó Chủ tịch,
có thể có Tổng thư ký do Chủ tịch Trung tâm trọng tài cử, Chủ tịch Trung tâm trọng tài phải là
Trọng tài viên. Nghị định 63/CP ngày 28 tháng 07 năm 2011 hướng dẫn luật trọng tài thương
mại 2010 quy định về điều lệ của trung tâm trọng tài đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
5
5
phê chuẩn tại Điều 7. Điều lệ của trung tâm trọng tài chỉ điều chỉnh các quan hệ trong nội bộ
của tổ chức và chỉ có hiệu lực với các thành viên của tổ chức. Trong quá trình hoạt động, trung
tâm trọng tài tự xử lí các công việc nội bộ của mình, Nhà nước chỉ can thiệp khi hoạt động của
trung tâm trọng tài trái với quy định của pháp luật. Ví dụ, Theo Điều lệ, trung tâm trọng tài
1. Bồi dưỡng các luật sư trong các tổ chức hành nghề về chính trị, nghiệp vu, đạo đức luật sư;
6
6
2. Giám sát hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư; giải quyết các khiếu nại, tố cáo đối
với luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư, yêu cầu luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư
chấm dứt việc làm trái pháp luật; Đưa ra Hội đồng khen thưởng kỷ luật xem xét những trường
hợp luật sư vi phạm kỷ luật;
3. Hoà giải những tranh chấp giữa luật sư với khách hàng, giữa các luật sư hoặc tổ chức hành
nghề luật sư.
4. Tổ chức tổng kết hoạt động của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư;
5. Phản ảnh, báo cáo với các cơ quan có thẩm quyền giải quyết các khó khăn của các luật sư
và tổ chức hành nghề luật sư; bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư và tổ chức
hành nghề luật sư”.
Trong quá trình hoạt động, Đoàn luật sư tự xử lí và giải quyết các công việc nội bộ của
mình, Nhà nước sẽ không can thiệp nếu hoạt động của Đoàn luật sư không trái pháp luật. Ví du,
Điều 36 Điều lệ Đoàn luật sư thành phố Hà Nội quy định:
“1. Ban Chủ nhiệm tiếp nhận đơn thư, chuyển đến Hội đồng khen thưởng, kỷ luật thu lý
thực hiện nhiệm vu, quyền hạn theo khoản 4 Điều 25 Điều lệ này. Quyết định của Ban chủ
nhiệm xét kỷ luật được thông qua khi được ít nhất 2/3 số thành viên Ban chủ nhiệm biểu quyết
tán thành.
2. Khi Ban chủ nhiệm xét, xử lý kỷ luật, luật sư bị xét kỷ luật được tham dự để tự bảo vệ
quyền lợi của mình hoặc nhờ luật sư khác bênh vực cho mình. Đại diện tổ chức hành nghề luật
sư nơi luật sư công tác có thể tham gia và phát biểu ý kiến.
3. Trường hợp luật sư bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách luật sư,
Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi Chứng chỉ hành nghề, đề nghị Liên
đoàn luật sư thu thồi Thẻ luật sư và thông báo bằng văn bản cho Sở Tư pháp”.