Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế ở Việt nam trong điều kiện hiện nay - Pdf 33

LỜI MỞ ĐẦU

T

rong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhân tố con người được coi là nhân tố

quan trọng, có vai trò quyết định đối với sự thành công của các chính sách,
các mục tiêu phát triển và sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của Quốc gia.
Sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đaị hóa đặt ra những yêu cầu, thách thức lớn đối với chiến lược con người
trong đó có nhiệm vụ quan trọng là việc xác định mục tiêu, chiến lược đào tạo và sử
dụng cán bộ, đặc biệt là đối với cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô - Chính họ là những
“Người cầm lái cho con thuyền kinh tế ” của đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, trong bối cảnh kinh tế thế giới và khu vực phát triển theo xu hướng
hội nhập mạnh mẽ, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước mới chuyển sang nền kinh tế
thị trường, cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô của chúng ta đã bộc lộ những bất cập về
trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn.
Để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp phát triển trong bối cảnh đó, chính
sách cán bộ cần phải trở nên linh hoạt, quan hệ hữu cơ với chính sách kinh tế - Xã
hội, phải gắn liền với những mục tiêu của sự nghiệp phát triển đặc biệt là chính sách
đào tạo và sử dụng cán bộ - Đào tạo nhằm mục tiêu tạo ra những “sản phẩm” phù
hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng.
Chính từ nhận thức về tầm quan trọng của cán bộ công chức quản lý kinh tế
của nước ta nên khi thực hiện đề án chuyên ngành, được sự giúp đỡ của các cô, các
thầy hướng dẫn em xin thực hiện đề tài "Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản
lý kinh tế ở Việt nam trong điều kiện hiện nay". Trong quá trình thực hiện do còn
nhiều vấn đề chưa còn được nhận thức đầy đủ nên bài viêt còn nhiều hạn chế, bản
thân em rất mong nhận được sự thông cảm và giúp đỡ của các cô, các thầy để ngày
càng được tiến bộ hơn.


Quản lý kinh tế vĩ mô thực chất là nói đến vai trò, chức năng quản lý của Nhà
nước đối với các hoạt động kinh tế. Mô hình kinh tế phổ biến trên thế giới hiện là
kinh tế hỗn hợp trong đó Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết, quản
lý các hoạt động của nền kinh tế quốc dân thông qua hệ thống các chính sách và
công cụ quản lý kinh tế vĩ mô.
- Nhà nước thiết lập khung khuôn khổ luật pháp thống nhất để tạo môi trường
chung cho các thị trường hoạt động.
- Khắc phục các khuyết tật của thị trường để tạo cho cơ chế thị trường hoạt
động có hiệu quả thông qua chính sách kinh tế vĩ mô, xây dựng các chương trình, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Đảm bảo công bằng xã hội thông qua việc phân bổ các nguồn lực, phân phối
thu nhập giữa các tầng lớp, các nhóm dân cư trong xã hội.
- Ổn định kinh tế vĩ mô, ngăn chặn và kiềm chế lạm phát, thất nghiệp, thực
hiện các biện pháp kiểm soát, giám sát, sử dụng các công cụ thuế để điều tiết các
hoạt động kinh tế.
Trong điều kiện ở nước ta, để đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra, quản lý
kinh tế vĩ mô càng có vị trí quan trọng hơn bao giờ hết và vai trò quản lý vĩ mô nền kinh
tế của Nhà nước ta trong cơ chế mới thể hiện ở những điểm sau:
- Nhà nước xây dựng các chương trình, kế hoạch phát triển phù hợp với điều
kiện KT-XH nước ta theo các mục tiêu đề ra và mong đạt được.
+ Nhà nước chủ động điều tiết các doanh nghiệp nhằm tạo ra sự thống nhất
giữa các lợi ích của quốc gia.
+ Nhà nước hoạch định các chương trình phát triển KT-XH, thông qua đó thực
hiện chiến lược phát triển KT-XH, dẫn dắt các doanh nghiệp và các thành phần kinh
tế đi đúng hướng đã chọn, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế để nhanh chóng hội
nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới.
- Tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh
+ Xây dựng kết cấu hạ tầng thuận lợi, có chính sách để thu hút vốn đầu tư
trong và ngoài nước.
+ Quyết định và bảo đảm các quyền tạo điều kiện cho các hoạt động sản xuất

đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH.
- Cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô có vai trò quyết định trong việc chỉ huy và điều
hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ các hoạt động trong quá trình phát triển kinh
tế và quản lý kinh tế ở phạm vi cả nước, từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa
phương.
- Cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô có vai trò quyết định trong việc thường xuyên
phối kết hợp các quá trình quản lý kinh tế để điều chỉnh kịp thời những mặt cân đối,
những mâu thuẫn phát sinh.
- Cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô có vai trò quyết định trong việc kiểm tra và
kiểm soát quá trình phát triển kinh tế và quản lý kinh tế. Trong đổi mới kinh tế và cơ
chế quản lý kinh tế, công tác kiểm tra, kiểm soát đặc biệt là kiểm tra, kiểm soát
trong lĩnh vực kinh tế tài chính có vị trí rất quan trọng, không có kiểm tra, kiểm soát
thì không có quản lý kinh tế vĩ mô.
Trong đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô thì những người đứng đầu các cấp
và những chuyên gia đầu ngành luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

4


III. YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ
TRONG GIAI ĐOẠN MỚI:
1. PHẨM CHẤT CHÍNH TRỊ:

- Phải có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, có bản lĩnh và kiên định
trong công việc được giao.
- Có ý chí và có khả năng làm giàu cho tập thể, cho xã hội và cho bản thân.
- Có khả năng tự hoàn thiện, tự quản lý, tự đánh giá kết quả công việc của bản
thân, đánh giá con người mà mình quản lý theo tiêu chuẩn chính trị.
- Biết biến nhận thức chính trị của mình thành nhận thức của mọi người, tạo được
lòng tin và lôi cuốn mọi người tham gia.



- Là người bình tĩnh, tự chủ nhưng quyết đoán dứt khoát trong công việc, kcó
kế hoạch làm việc rõ ràng và tiến hành công việc nhất quán theo kế hoạch.
- Là người năng động, sáng kiến, tháo vát, phản ứng nhanh nhạy, dám nghĩ,
dám làm, dám mạo hiểm, dám chịu trách nhiệm, luôn biết lường trước mọi tình
huống có thể xảy ra, biết dồn đúng tiềm lực vào các khâu yếu, biết tận dụng thời cơ
có lợi cho hệ thống.
- Là người có tác phong đúng mức, thông cảm và hiểu cấp dưới, có thái độ
chân thành, đồng thời hướng cho cấp dưới có tác phong cộng tác, giúp đỡ lẫn nhau.
- Biết sử dụng đúng tài năng từng người, đánh giá đúng con người, biết xử lý
tốt các mối quan hệ trong và ngoài hệ thống, quan hệ với người dưới quyền; quan hệ
với cấp trên,....
3. YÊU CẦU VỀ PHÂM CHẤT ĐẠO ĐỨC:

- Trước hết, cán bộ quản lý nói chung, cán bộ quản lý kinh tế nói riêng, với tư
cách là một công dân, phải sống và làm việc theo tiêu chuẩn đạo đức một công dân.
Hiện nay, phải lấy việc gương mẫu sống và làm việc theo pháp luật là tiêu chuẩn
đạo đức cơ bản.
- Yêu cầu đặc thù của chức nghiệp làm nghề quản lý là phải chăm lo việc
công của đơn vị, của Nhà nước, phải quản lý một tập thể nhiều người, do đó đòi hỏi
mỗi cán bộ quản lý phải biết chăm lo đến mọi người; tập thể, cộng đồng; biểu hiện
qua việc làm phải công bằng, công tâm, khách quan, có văn hoá, tôn trọng con
người,....
- Là tấm gương cho người dưới quyền và người lao động trực tiếp noi theo, do
đó đòi hỏi mỗi cán bộ quản lý phải là người liêm khiết, khiêm tốn, trung thực, thẳng
thắn, không vụ lợi, thực hiện bình đẳng giữa cống hiến và hưởng thụ, giữa quyền lợi
và trách nhiệm.
Trong các yêu cầu nói trên thì mức độ quan trọng của từng yêu cầu đối với
từng loại cán bộ quản lý kinh tế là có khác nhau. Đối với cán bộ quản lý kinh tế vĩ

Bên cạnh những mặt mạnh và ưu điểm cơ bản nêu trên, đội ngũ cán bộ quản lí
kinh tế vĩ mô ở nước ta còn đang bộc lộ một số hạn chế sau:
Thứ nhất: Tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu” đang diễn ra khá phổ biến nhất là cán
bộ quản lý nhà nước ở các bộ, ban, ngành trung ương và địa phương. Thừa cán bộ chưa
được đào tạo về quản lý kinh tế thích ứng với kinh tế thị trường và thiếu cán bộ có đủ
phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu quản lý kinh tế của nền kinh tế đang
chuyển đổi. Theo kết quả điều tra năm 1997 của Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển
- Đại học KTQD trong số 200 cán bộ quản lý kinh tế thuộc10 bộ và cơ quan ngang bộ
được hỏi có 60% ý kiến cho rằng cán bộ quản lý kinh tế của ta hiện đang trong tình
trạng thiếu, 20% ý kiến cho rằng đội ngũ này đang trong tình trạng thừa và 20% cho
rằng vừa thiếu vừa thừa.
Thứ hai: Một số lượng khá lớn cán bộ đang làm nhiệm vụ quản lý kinh tế chưa
được đào tạo một cách cơ bản và có hệ thống về quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị
trường. Kết quả điều tra chi tiết về đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở 10 bộ, cơ
quan ngang bộ và 10 tỉnh thành trong cả nước cho thấy có 65% số cán bộ quản lý
kinh tế ở cấp bộ được đào tạo trước năm 1989 trong đó có khoảng 30% chưa được
đào tạo lại, khoảng 60% số cán bộ quản lý kinh tế ở cấp bộ có trình độ lý luận sơ
cấp và chỉ có gần 5% có trình độ lý luận cao cấp. 89% cán bộ quản lý kinh tế >45
tuổi không biết sử dụng máy vi tính và chỉ có 9,5% biết tiếng Anh có trình độ trên
C. Ở các sở, ban, ngành cấp tỉnh có 52,8% số cán bộ quản lý kinh tế được đào tạo từ
trước năm 1989 và có một bộ phận khá lớn chưa qua đaò tạo, bồi dưỡng kiến thức
kinh tế thị trường, chỉ có 54% số cán bộ quản lý kinh tế các sở, ban, ngành thuộc 10
tỉnh, thành phố đã được đào tạo từ các trường kinh tế. Số cán bộ được đào tạo ở các
7


lĩnh vực khác (khoa học kỹ thuật, khoa học cơ bản...) chiếm 46% và đang cần tiếp
tục bồi dưỡng kiến thức về quản lý kinh tế.
Thứ ba: Cơ cấu cán bộ quản lý kinh tế đang có sự mất cân đối lớn xét cả về độ
tuổi và giới tính, lẫn sự phân bổ theo ngành nghề, theo vùng, giữa cấp chiến lược


CHƯƠNG III
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ
QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM:

Nghị quyết hội nghị Trung Ương lần thứ 3 (Khoá VIII) đã chỉ rõ: “Phải xuất phát
từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý hiện
có, dự kiến nhu cầu và khả năng phát triển của đội ngũ cán bộ, công chức để chủ động
có phương hướng đào tạo, bồi dưỡng đặc biệt chú trọng đào tạo được nguồn cán bộ dồi
dào, đủ tiêu chuẩn để kịp thời đáp ứng yêu cầu...”
I - CĂN CỨ ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO VÀ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ:

Để có được căn cứ phát triển đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý kinh tế vĩ mô trước tiên ta phải xem xét đến mục tiêu chiến lược trong việc
đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô và những quan điểm cơ bản trong việc
đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
1 - MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC TRONG VIỆC ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH
TẾ VĨ MÔ:

- Mục tiêu chung là tạo ra một đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô đủ về số
lượng và có chất lượng cao, có khả năng tiếp thu những kiến thức quản lý kinh tế
mới nhất của thế giới ứng dụng vào Việt Nam cũng như giải quyết được một cách
hiệu quả những vấn đề lý luận và thực tiễn do sự phát triển của nền kinh tế Việt
Nam đặt ra.
- Tích cực đào tạo, bồi dưỡng trong hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ
quản lý kinh tế nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt hiện có. Những người đứng đầu của
hệ thống chính trị các cấp, nhằm bảo đảm sự chuyển biến liên tục và kế tục vững
vàng sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước giữa các thế hệ trong những năm đầu
của thế kỷ XXI.

việc đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
- Thực hiện đầy đủ quan điểm giai cấp công nhân trong xây dựng quy hoạch và
đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
- Thực hiện đầy đủ quan điểm đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loại cán bộ trong
xây dựng quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
- Thực hiện đầy đủ quan điểm trọng dụng nhân tài về quản lý kinh tế của đất
nước trong xây dựng, quy hoạch và đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
Để thực hiện được quan điểm này, chúng ta phải có chính sách đúng đắn để phát
hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài về kinh tế và quản lý kinh tế cho đất nước.
- Thực hiện đúng đắn quan điểm đồng bộ trong xây dựng, quy hoạch và đào
tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
- Thực hiện đầy đủ quan điểm bảo đảm tính kế thừa và liên tục trong xây dựng
quy hoạch và đội ngũ đào tạo cán bộ và công tác cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô trong
hệ thống chính trị.
- Thực hiện đầy đủ quan điểm toàn diện và có trọng điểm trong xây dựng quy
hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô.
- Việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ và công tác quản lý cán bộ trong hệ
thống chính trị phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thống nhất của các tổ chức
Đảng.

10


3- CĂN CỨ CỤ THỂ VÀ CÁC YÊU CẦU ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO VÀ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ:

3.1 Căn cứ cụ thể:
- Căn cứ vào hệ thống tổ chức của các cơ quan cấp Bộ, tổng cục ở Trung ương,
của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng như chức năng nhiệm vụ của
các cơ quan trong hệ thống tổ chức đó.

- Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô phải đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
CNH-HĐH nền kinh tế.
- Đáp ứng yêu cầu mở cửa và hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế.
11


Trong những năm thực hiện đổi mới kinh tế, việc thực hiện mở cửa nền kinh tế
dã đạt được những kết quả quan trọng. Tuy vậy, khi ta tiến hành hợp tác kinh tế với
nước ngoài do mới tiếp cận chưa hiểu biết “luật chơi” của kinh tế thị trường, cùng
những thông lệ quốc tế trong hợp tác kinh tế với nước ngoài nên đã dẫn đến những
hạn chế và không ít va vấp, thua thiệt.
Từ những vấn đề trình bày trên cho thấy, trước tình hình và nhiệm vụ mới của
đất nước công tác đào tạo đội ngũ cán bộ ở cấp quản lý kinh tế vĩ mô đang là vấn đề
cấp bách đặt ra.

12


KẾT LUẬN:
Trong những năm gần đây, công tác đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô đã có
những chuyển biến mạnh mẽ cả về chất và lượng, phù hợp với mục tiêu, chính sách
của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trước bối cảnh và thách thức của sự nghiệp phát
triển, đối với công tác đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô, chúng ta cần bám sát
các định hướng lớn, triển khai đồng bộ các giải pháp, gắn kết giữa đào tạo và sử
dụng, giữa đào tạo sử dụng và nghiên cứu khoa học, giữa lý luận và thực tiễn.
Đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý - Đặc biệt là đối với cán bộ quản lý kinh tế vĩ
mô - Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới, là yếu tố có ý nghĩa quyết định
đối với sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Thực
hiện nhiệm vụ này không chỉ dựa vào các trường kinh tế, các cơ sở nghiên cứu khoa
học kinh tế của hệ thống giáo dục đào tạo mà đòi hỏi phải có sự quan tâm, sự hưởng

LÝ LUẬN, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

1
2

CHƯƠNG I:
SỰ CẦN THIẾT ĐỐI VỚI CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ ĐÀO TẠONÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ VĨ MÔ Ở NƯỚC TA
2

I. cơ sở lý luận:

2

1. Cán bộ quản lý kinh tế
2. Cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô có thể cụ thể hoá thành 2 loại là các chính khách kinh tế
và các nhà điều hành quản lý cấp cao

2

II. Vai trò của cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô đối với CNH-HĐH ở nước ta

4

1. Vai trò của quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
2. Vai trò của cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở nước ta

III. yêu cầu đối với cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô trong giai đoạn mới
1. Phẩm chất chính trị
2. yêu cầu về Năng lực chuyên môn - tổ chức


11
12

1- Chúng ta đã xây dựng được 1 hệ thống các cơ sở đào tạo đại học và trên đại học về kinh tế
trên phạm vi cả nước với số lượng ngày càng tăng
2 - Cơ sở vật chất kỹ thuật của các trường đại học kinh tế
3 - Thực trạng đội ngũ giáo viên của các trường ĐHKT hiện nay
4 - Nội dung chương trình đào tạo
5 - Các hình thức đào tạo
6 - Trình độ đào tạo

13
14
14
16
17
18

CHƯƠNG III
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐÀO TẠO VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ QUẢN LÝ
KINH TẾ VĨ MÔ Ở VIỆT NAM

20

I - Căn cứ để phát triển đào tạo và nângcao chất lượng đội ngũ cán bộ
quản lý kinh tế vĩ mô

20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status