ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH
TRỊ
======================
Nguyễn Thị Chinh
PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TƯ NHÂN Ở TỈNH THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ: 5.02.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. TRỊNH THỊ HOA MAI
HÀ NỘI, 2004
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Bộ
phận này, trong thời kỳ nước ta tồn tại nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã
không được đánh giá đúng vị trí, vai trò của nó. Đảng và Nhà nước ta xem đấy là
bộ phận kinh tế gồm các thành phần kinh tế phi XHCN, gắn liền với bản chất
của CNTB. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước đã xoá bỏ các thành phần kinh
tế thuộc bộ phận kinh tế tư nhân và chỉ còn lại hai thành phần kinh tế XHCN đó
là: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) - Đại hội đổi mới toàn diện nền kinh
tế đất nước. Đảng ta xác định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần...
đã khôi phục lại những thành phần kinh tế mà trước kia bị xoá bỏ. Nhưng mãi
đến Đại hội VII của Đảng (năm 1991) thì vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong
lượng thì sức cạnh tranh của các doanh nghiệp ở Thanh Hoá chưa mạnh... điều
đó chứng tỏ trong thực tế kinh tế tư nhân ở địa bàn này còn nhiều vướng mắc
chưa được tháo gỡ, chưa có những giải pháp tối ưu.
Tuy vậy, đối với Thanh Hoá kinh tế tư nhân vẫn đóng một vai trò hết sức
quan trọng. Nó vừa giải quyết vấn đề kinh tế: Là khu vực khai thác, sử dụng
được nhiều nguồn lực xã hội như: Lao động, vốn, tài nguyên... thúc đẩy sản xuất
phát triển, tăng quy mô sản xuất, tăng trưởng kinh tế... nó vừa giải quyết vấn đề
xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, tăng mức sống người dân...
đó là cơ sở góp phần ổn định và phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội, ổn định
chính trị xã hội. Vậy cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh
Thanh Hoá.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh
Thanh Hoá” để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thực tế đã có nhiều công trình khoa học lớn, nhỏ nghiên cứu về kinh
tế tư nhân mà đặc biệt là khi Nhà nước có những văn bản pháp lý cho khu vực
kinh tế này, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu.
- “Quản lý kinh tế ngoài quốc doanh” của Linh Lan - Uỷ ban Kế hoạch
Nhà nước - Trung tâm Thông tin, Hà Nội 1994.
2
- “Phát triển kinh tế tư nhân ở Thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn Thạc sĩ
kinh tế của Nguyễn Quốc Đạt, Hà Nội, 1999.
- “Kinh tế tư nhân và xu hướng phát triển của nó trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam”. PGS.TS Nguyễn Đình Kháng - Tạp chí
Lý luận Chính trị số 4-2002.
- “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân” Hà Huy Thành NXB Chính trị quốc gia 2002.
- “Phát triển kinh tế tư nhân định hướng XHCN” TS. Trần Ngọc Bút NXB Chính trị quốc gia 2002.
tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước;
những văn bản pháp lý đã được phát hành về kinh tế tư nhân.
5.2. Nguồn tài liệu
- Sách báo nghiên cứu về kinh tế tư nhân.
- Số liệu của: Cục Thống kê tỉnh Thanh Hoá; Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh
Thanh Hoá; Ban Kinh tế Tỉnh uỷ Thanh Hoá; Cục Quản lý vốn và tài sản thuộc
Sở Tài chính... và một số tài liệu khác.
5.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa MácLênin. Đồng thời sử dụng nhiều phương pháp khác kết hợp, phương pháp thống
kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khảo
sát thực tế để nghiên cứu đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của kinh tế tư nhân trong quá trình xây dựng
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
- Đề tài hoàn thành có thể là tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên
khi dạy và học những phần kiến thức có liên quan.
- Đề tài góp phần giải quyết được những vướng mắc mà kinh tế tư nhân
Thanh Hoá chưa tháo gỡ được.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, 8 tiết.
Chương 1: Cơ sở lý luận chung và thực tiễn KTTN Việt Nam.
4
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Thanh Hoá.
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế tư
nhân ở Thanh Hoá.
6
(3) Khu vực tư nhân: Bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà
nước nhưng loại trừ doanh nghiệp tập thể.
(4) Khu vực tư nhân trong nước: Bao gồm các đối tượng không thuộc sở
hữu Nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(5) Doanh nghiệp tư nhân: Bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu
Nhà nước nhưng loại trừ các hộ cá thể (doanh nghiệp có ít hơn 8 công nhân) hay
còn gọi là hệ công thương cá thể [10, tr.61].
Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đã có những ý kiến khác nhau về
khái niệm KTTN.
Ý kiến thứ nhất cho rằng: KTTN là hình thức kinh tế dựa trên sở hữu toàn
bộ hay đại bộ phận TLSX thuộc sở hữu tư nhân và thuê lao động, người chủ
chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra [28, tr.16]. Về hình thức
kinh doanh, KTTN gồm doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty Cổ
phần (do tư nhân nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế [28, tr.17]. Quan niệm KTTN
như vậy là không bao gồm các cơ sở kinh tế cá thể.
Ý kiến thứ hai cho rằng: KTTN là khái niệm chỉ khu vực kinh tế bao gồm:
Các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc nhóm các thành phần KTTN.
Tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh nào đó có thuộc kinh tế tư nhân hay không là quan hệ sản xuất,
trước hết là quan hệ sở hữu. Theo đó, KTTN là một khu vực kinh tế dựa trên sở
hữu tư nhân về TLSX (hoặc vốn) với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh,
các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ và bộ phận các doanh nghiệp của nước ngoài
đầu tư vào Việt Nam [23, tr.9].
Ý kiến này đối tượng của KTTN rộng hơn, bao gồm các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân, các cơ sở kinh tế cá thể và cả bộ phận các doanh nghiệp của
nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
lao động và nhiều chỉ tiêu khác, dẫn tới việc đánh giá về KTTN khó chính xác và
sẽ không thể có giải pháp tối ưu cho KTTN khi gặp khó khăn.
8
Quan điểm của Đảng ta có tính nhất quán hơn và ngày càng rõ ràng khi
nói về kinh tế tư nhân. Quan điểm đó được thể hiện qua một số văn bản:
Một là: tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khoá VI đã khẳng định: Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn
XHCN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế. Theo tinh thần này, tư nhân
được phép kinh doanh không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong
những ngành nghề mà pháp luật cho phép. Như vậy, Đảng đã mở đường cho
KTTN hoạt động trở lại và bình đẳng với khu vực kinh tế khác.
Hai là: hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, được thông
qua tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá VIII đã ghi rõ: “Kinh tế cá thể, kinh tế
tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được thành lập
doanh nghiệp không bị hạn chế quy mô hoạt động trong những ngành nghề có
lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển” [24,
tr.6].
Ba là: trong văn kiện Đại hội VII của Đảng, kinh tế tư nhân được hiểu bao
gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Trong văn kiện có đoạn
viết: “KTTN được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý
hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể tiểu chủ có phạm vi hoạt động
tương đối rộng lớn, ở những đơn vị chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể,
hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản Nhà nước dưới
nhiều hình thức”.
Bốn là: gần đây nhất trong các Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp
hành TW Đảng khoá IX đã ghi rõ: “kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ
trên sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tự tổ chức, điều hành hay tổ chức
điều hành, phân công việc trong nội bộ gia đình, giữa các thành viên gia đình với
nhau. Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn là quan hệ quản lý giữa chủ
thể quản lý đối với đối tượng quản lý và khách thể quản lý, giữa người quản lý
với người bị quản lý.
10
Xét về quan hệ phân phối: Trong kinh tế tư nhân, quan hệ phân phối dựa
trên cơ sở các loại hình sở hữu tư nhân khác nhau. Đối với cơ sở sản xuất kinh
doanh mà người sở hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê mướn
nhân công, thì phân phối kết quả sản xuất là tự phân phối trong nội bộ chủ thể
kinh tế đó. Nói cách khác là họ được hưởng trọn vẹn kết quả sản xuất. Còn đối
với các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, chủ sở hữu TLSX ( hoặc vốn) sử dụng lao
động của lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn cứ vào sở hữu giá
trị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và sở hữu tư bản. Tất nhiên
trong các chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì quan hệ phân phối của KTTN có
sự khác biệt nhất định.
1.1.2. Hình thức tồn tại của kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về TLSX (hoặc
vốn) được biểu hiện ở hai mức độ. Sở hữu tư nhân nhỏ và sở hữu tư nhân lớn.
Theo đó, KTTN tồn tại dưới hai hình thức.
- Một là: Hộ kinh doanh cá thể.
- Hai là: Các loại hình doanh nghiệp của tư nhân.
Nghiên cứu hình thức tồn tại của kinh tế tư nhân cho chúng ta thấy đặc
điểm của từng hình thức, qua đó tìm ra ưu, nhược điểm của nó. Chính điều này
giúp cho các nhà kinh doanh lựa chọn hình thức thích hợp với mình, đồng thời
Nhà nước cũng có những chính sách phù hợp để khai thác thế mạnh của từng
hình thức hoạt động của KTTN.
khỏi môi trường kinh doanh cũng nhanh bấy nhiêu khi tham gia kinh doanh ở
hình thức này. Vì bản thân các hộ kinh doanh cá thể thường có lượng vốn nhỏ
nên mỗi khi gặp rủi ro trong gia đình (tai nạn, mất cắp, thiên tai ...) hoặc rủi ro
trong sản xuất kinh doanh thì các hộ này có thể không còn đồng vốn nào (trắng
tay) và ít có cơ hội làm lại. Ngoài ra, hộ KDCT còn có nhược điểm nữa là: Các
chủ hộ, các cá thể kinh doanh thường chưa có kinh nghiệm hoặc trình độ kinh
doanh thấp kém. Vì vậy mà thị trường sản phẩm của họ thường rất hẹp chỉ ở một
địa phương, một vùng. Ít có hộ KDCT đưa sản phẩm của mình ra được thị
12
trường khu vực và thế giới. Đây cũng là lý do khiến hình thức kinh doanh này có
quy mô rất nhỏ...
Như vậy, hộ KDCT là hình thức kinh doanh có nhiều ưu điểm, nhưng
cũng không ít nhược điểm nhưng nó vẫn là hình thức kinh doanh có số lượng lớn
nhất hiện nay ở Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục thống kê tháng 11 năm
2001. Năm 2000 cả nước có 9.793.878 hộ KDCT với 20.122.442 lao động.
Trong đó, có 2.137.713 hộ kinh doanh phi nông nghiệp (xây dựng, giao thông,
thương mại, dịch vụ...) với 3.802.057 lao động, chiếm 18,9% tổng lao động của
các hộ KDCT. Có 7.656.165 hộ nông nghiệp ngoài hợp tác xã, chiếm 78,17%
tổng số hộ KDCT với 16.320.385 lao động, chiếm 81,1% tổng số lao động của
các hộ kinh doanh cá thể.
1.1.2.2. Các loại hình doanh nghiệp của tư nhân
Các loại hình doanh nghiệp của tư nhân là hình thức tồn tại của thành
phần kinh tế tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân lớn về TLSX. Nó bao gồm:
Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
Đây là những loại hình doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật
Doanh nghiệp ban hành tháng 6/1999.
Hình thức kinh doanh này khác hộ KDCT: Các hình thức doanh nghiệp
phiếu một cách tự do, thường có đông thành viên, số thành viên ít nhất là 3 trong
suốt quá trình hoạt động, không hạn chế tối đa.
- Cơ chế quản lý: Có đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng
Giám đốc), nếu trên 11 thành viên có thêm ban kiểm soát.
Công ty trách nhiệm hữu hạn: Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai loại:
Công ty TNHH có 2 thành viên trở lên và Công ty TNHH có một thành viên.
Đặc điểm của Công ty TNHH có hai thành viên trở lên:
- Thành viên là cá nhân hoặc tổ chức, số thành viên không quá 50.
- Các thành viên phải góp vốn đầy đủ đúng như đã cam kết, phần vốn góp
của các thành viên không được thể hiện dưới hình thức chứng khoán mà được
14
ghi rõ trong điều lệ công ty. Không được phát hành cổ phiếu để huy động vốn,
việc chuyển đổi nhượng phần vốn góp cho người ngoài công ty bị hạn chế:
Thành viên công ty muốn chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn góp phải
chào bán phần vốn đó cho tất cả các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với
phần vốn của họ trong công ty cùng với điều kiện: Chỉ được chuyển nhượng cho
người phải là thành viên công ty khi các thành viên còn lại của công ty không
mua hoặc mua không hết.
- Cơ cấu tổ chức thường gọn nhẹ, phụ thuộc vào số lượng thành viên nếu
từ 2 đến 11 thành viên, chỉ cần Hội đồng thành viên, chủ tịch Hội đồng thành
viên và Giám đốc (Tổng Giám đốc). Từ 12 thành viên có thêm Ban kiểm soát, số
thành viên ít nhất là 2.
Đặc điểm của Công ty TNHH có một thành viên: Là doanh nghiệp do một
tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.
- Chủ sở hữu Công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hay một phần vốn
điều lệ của Công ty cho một cá nhân, tổ chức khác. Không được trực tiếp rút một
Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân:
Là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ. Cá nhân
này vừa là chủ sở hữu, vừa là người sử dụng tài sản, quản lý hoạt động của
doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có thể là Giám đốc hoặc thuê người làm Giám
đốc nhưng vẫn chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp, không có
sự phân chia rủi ro cho ai. Chủ doanh nghiệp là nguyên đơn hoặc bị đơn trong
các quan hệ tố tụng.
- Vốn của doanh nghiệp có thể bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, tài sản
bằng hiện vật và phải thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp.
- Chủ doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong
kinh doanh của doanh nghiệp, Chủ DNTN cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của
mình, có quyền bán hoặc sát nhập doanh nghiệp của mình vào doanh nghiệp
khác.
Từ đặc điểm của từng doanh nghiệp cho chúng ta thấy sự khác nhau và
ưu, nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp thông qua các khía cạnh cơ bản
sau:
Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp:
Có thể nói trách nhiệm là vấn đề được các nhà đầu tư quan tâm nhất khi
họ quyết định lựa chọn loại hình doanh nghiệp . Dưới khía cạnh về chế độ trách
nhiệm có thể chia các doanh nghiệp thành 2 loại: doanh nghiệp trách nhiệm vô
hạn và doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật thì
doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh là loại hình doanh nghiệp có trách
nhiệm vô hạn, còn thành viên góp vốn của Công ty hợp danh, Công ty TNHH và
Công ty cổ phần có trách nhiệm hữu hạn.
17
- Trách nhiệm vô hạn của chủ DNTN và thành viên hợp danh đối với
Công ty hợp danh:
cả trong trường hợp nghĩa vụ này phát sinh do hành vi của thành viên hợp danh
kia nhân danh Công ty thực hiện. Thứ hai: Trách nhiệm liên đới này chỉ giới hạn
trong phạm vi nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động của Công ty. Nếu nghĩa vụ phát
sinh do hoạt động của một cá nhân thành viên hợp danh nào đó không nhân danh
Công ty thì ở đây sẽ không phát sinh trách nhiệm liên đới, mà đó chỉ trách nhiệm
riêng của cá nhân thành viên đó.
Cũng một phần do chế độ liên đới chịu trách nhiệm mà những người kinh
doanh dưới hình thức Công ty này thường trước hết và chủ yếu dựa trên nền tảng
hiểu biết, tin cậy lẫn nhau. Chính chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đã làm
các thành viên phải chịu rủi ro cao hơn, ngay cả so với DNTN, đặt thành viên
vào nguy cơ có thể bị tịch thu, tịch biên lai tài sản cá nhân để trả nợ cho Công ty.
Nguy cơ này đặc biệt lớn hơn và có thể không kiểm soát được. Nếu việc lựa
chọn thành viên không được cân nhắc một cách cẩn thận, dẫn đến việc chấp
nhận những người kém năng lực trở thành thành viên của Công ty. Như vậy,
không có sự tin cậy, hiểu biết đầy đủ giữa các thành viên thì Công ty hợp danh
có thể không thành lập được hoặc có thành lập được thì cũng đứng trước nguy
cơ sẽ bị giải thể hoặc phá sản.
- Trách nhiệm hữu hạn của thành viên góp vốn trong Công ty hợp danh,
Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần:
Những thành viên góp vốn trong Công ty hợp danh, chủ sở hữu Công ty
TNHH một thành viên, thành viên của Công ty TNHH hai thành viên trở lên và
các cổ đông trong Công ty cổ phần chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
Công ty trong phạm vi số vốn góp vào Công ty. Nói chính xác hơn là sự thiệt hại
của nhà đầu tư này chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn góp vào Công ty. Chủ nợ
hay bên thứ ba không thể yêu cầu đối tượng này phải đem tài sản riêng của họ ra
trả nợ thay Công ty, trừ trường hợp sự thoả thuận giữa Công ty và đối tượng đầu
tư này.
19
20
hình này, việc huy động vốn có thể được thực hiện thông qua ba kênh nữa, đó là:
Việc góp thêm vốn của thành viên hợp danh và thành viên góp vốn của Công ty
hợp danh hay thành viên Công ty đối với Công ty TNHH, kết nạp thêm thành
viên mới, phát hành trái phiếu đối với Công ty TNHH.
- Huy động thêm vốn đối với Công ty cổ phần: Rất nhiều quan điểm cho
rằng, ưu thế lớn nhất của Công ty cổ phần là Công ty có một loạt công cụ đa
dạng để huy động thêm vốn mà các loại hình doanh nghiệp khác không có được.
Ngoài bốn kênh đã nêu ở trên, Công ty cổ phần còn có thể huy động thêm bằng
cách phát hành, chào bán cổ phần, phát hành trái phiếu.
Như vậy, trong số các loại hình doanh nghiệp, thì Công ty cổ phần có thể
chế kinh doanh huy động vốn với cơ chế mở và linh hoạt nhất, có khả năng huy
động vốn một cách rộng rãi nhất. Công ty cổ phần xuất hiện và phát triển đã tạo
điều kiện và môi trường thúc đẩy vốn luân chuyển linh hoạt trong nền kinh tế,
làm cho nguồn lực được phân bổ, sử dụng hợp lý và hiệu quả. Nếu như Công ty
cổ phần là loại hình linh hoạt nhất trong việc huy động thêm vốn thì việc huy
động thêm vốn đối với DNTN vẫn còn là một vấn đề, thậm chí các nhà cho vay
cũng thận trọng hơn khi cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này. Đối với
trường hợp của Công ty cổ phần việc đi vay dường như khả thi hơn do tính
trường tồn của loại hình doanh nghiệp này, việc thay đổi chủ sở hữu không phải
là nguy cơ chấm dứt hoạt động của Công ty. Trong trường hợp các cổ đông dùng
cổ phần của mình để thế chấp thì khoản vay sẽ có cơ hội nắm giữ cổ phần và bán
chuyển nhượng cho người khác, trong khi hoạt động kinh doanh của Công ty vẫn
tiếp tục. Như vậy vẫn tốt hơn là phải phá sản doanh nghiệp và thanh toán nợ.
Hơn thế nữa, chúng ta có thể so sánh và biết hiệu quả kinh tế giữa việc kinh
doanh bằng vốn vay và kinh doanh bằng vốn sở hữu.
Tổ chức quản lý:
- Quản lý DNTN, Công ty hợp danh: Theo quy định của Luật doanh
vào tỷ lệ vốn góp vào Công ty, vốn càng nhiều quyền biểu quyết càng lớn.
Đối với cổ đông của Công ty Cổ phần về cơ bản việc tham gia của cổ
đông vào quá trình ra quyết định của Công ty giống như trong trường hợp của
22
Công ty TNHH, đó là thực hiện thông qua Đại hội đồng cổ đông và bầu Hội
đồng quản trị. Tuy nhiên, điểm khác so với trường hợp Công ty TNHH là trong
Công ty cổ phần có rất nhiều loại cổ phần, do vậy mức độ và thẩm quyền tham
gia vào quá trình ra quyết định của Công ty hoàn toàn phụ thuộc vào loại cổ
phần mà cổ đông nắm giữ.
Cổ đông nắm giữ cổ phần phổ thông có quyền quyết định các vấn đề
thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông theo số lượng cổ phần mà họ nắm
giữ. Trong trường hợp này, so sánh với cổ đông phổ thông thì cổ phần ưu đãi
biểu quyết có ưu thế hơn. Bởi vì, tuỳ thuộc vào Điều lệ Công ty quy định, một cổ
phần ưu đãi biểu quyết có nhiều phiếu bầu hơn so với với một cổ phần phổ
thông. Tuy nhiên, đối với công ty cổ phần được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà
nước thì loại cổ phần này chỉ được sử dụng đối với doanh nghiệp hoạt động
trong một số lĩnh vực như: Tiền tệ, tín dụng, bưu chính viễn thông, vận tải hàng
không... Cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cho người khác.
Công ty cổ phần cũng có thể quy định loại cổ phần cho cổ đông “nhát gan”, đó là
cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cổ đông nắm vững hai loại cổ
phần này không có quyền tham gia vào quá trình ra quyết định của công ty,
nhưng đổi lại họ lại được ưu đãi hơn cả về cổ tức hay ưu tiên thanh toán trước
khi hoạt động kinh doanh của Công ty bị thua lỗ, phá sản.
Tất cả những điều trên thể hiện sự đa dạng và mềm dẻo cơ cấu tổ chức
quản lý của Công ty cổ phần. Tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của nhà đầu tư mà họ
có thể mua loại cổ phần để trở thành nhà đầu tư gắn liền với những quyền hạn
nhất định trong việc ra quyết định của Công ty hoặc là nhà đầu tư chỉ quan tâm
Nhìn chung, trong giai đoạn này kinh tế tư nhân không thể hiện được sức
mạnh của mình trong nền kinh tế. Vì chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà
nước ta không mở đường cho KTTN hoạt động mà ngược lại còn kìm hãm, là
đối tượng phải cải tạo nên đã có những thời kỳ khu vực KTTN gần như bị xoá
bỏ trong khi nó đang hoạt động có hiệu quả.
1.2.1.1. Kinh tế tư nhân những năm phục hồi kinh tế 1955-1957
24