ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRẦN LÊ THANH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO XÂY
DỰNG MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
THỜI KỲ 1945-1954
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hồng Chương
Hà nội - 2005
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu.................................................................................................
1
Chương 1. Khái quát quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt
trận dân tộc thống nhất trước năm 1945..................................
5
1.1. Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất thời kỳ
1930-1940.....................................................................................
5
92
3.1. Thành tựu.......................................................................................
92
3.2. Kinh nghiệm..................................................................................
96
Kết luận...............................................................................................
111
Danh mục tài liệu tham khảo............................................................
113
Phụ lục.................................................................................................
120
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
1. Mặt trận dân tộc thống nhất:
MTDTTN
2. Mặt trận Việt Minh:
mọi mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần,
xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai” [20, tr.45].
Trước âm mưu của các thế lực thù địch và phản động tìm cách chia rẽ,
phá hoại khối đoàn kết dân tộc và trong điều kiện của nền kinh tế thị trường
đang làm nảy sinh những mâu thuẫn về mặt lợi ích giữa cá nhân với tập thể,
cộng đồng và xã hội đã và đang tác động đến tính bền vững của khối đại đoàn
1
kết dân tộc, Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã
ra Nghị quyết về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” nhằm củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. Điều đó càng chứng tỏ
tầm quan trọng của MTDTTN trong cả bảo tồn và phục hưng dân tộc theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức rõ ý nghĩa và tính cấp thiết của vấn đề, tôi chọn đề tài:
“Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất
thời kỳ 1945 - 1954” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò lãnh đạo của
Đảng trong xây dựng MTDTTN và đã được công bố như: Giáo trình Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam (sơ thảo), tập 1 (1981), NXB Sự thật, Hà Nội; Tổng
kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thắng lợi và bài học (1996), NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội... Tuy nhiên các công trình trên mới chỉ đề cập ở
trên bình diện chung nhất, chưa đi sâu vào nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây
dựng MTDTTN.
Các chuyên khảo về MTDTTN như: Lược sử Mặt trận dân tộc thống
nhất trong cách mạng Việt Nam của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với MTDTTN trong giai đoạn
1945 - 1954.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung lãnh đạo được thể hiện trong quan
điểm, chủ trương, đường lối để làm rõ sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng
MTDTTN thời kỳ 1945 - 1954.
3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, đề tài sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp lôgíc và các phương pháp liên ngành như phương
pháp lịch đại, đồng đại, so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp... để làm sáng
tỏ nội dung nghiên cứu.
4
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong
lãnh đạo xây dựng MTDTTN thời kỳ 1945 - 1954.
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở nhà trường; chỉ ra những kinh
nghiệm vận dụng vào xây dựng MTDTTN hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu thành ba chương, 6 tiết.
6
tổng kết những kinh nghiệm của phong trào cách mạng Việt Nam và phong
trào cách mạng ở nhiều nước trên thế giới, nhất là phong trào giải phóng dân
tộc ở các nước thuộc địa, từ truyền thống yêu nước, đoàn kết của dân tộc hàng
nghìn năm và những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về lực
lượng cách mạng, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, xây dựng MTDTTN của
Người đã hình thành.
Nội dung của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đã được thể hiện qua các
bài viết đăng trên các tờ báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Đời sống công
nhân”, các bài tham luận tại Hội nghị nông dân quốc tế (10-1923), Đại hội
lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (6-1924), và đặc biệt là các tác phẩm “Bản
án chế độ thực dân Pháp”, “Đường cách mệnh” của Người... Trong tác phẩm
“Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người chỉ rõ “Ở Đông Dương, chúng ta có
đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn như: hải cảng, hầm
mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng rú bao la; chúng ta có những người lao
động khéo léo và cần cù. Nhưng chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ
chức! Bởi thế công nghiệp và thương mại của chúng ta là một con số
không”[54, tr.132].
Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, tư tưởng của Người về đại đoàn
kết dân tộc và xây dựng MTDTTN được thể hiện rõ hơn: “...cách mệnh là
việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người” [55, tr.261262]. Trong “cả dân chúng” ấy thì “...công nông là gốc cách mệnh; còn học
trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ ...chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông
thôi” [55, tr.266]. Đây là những quan điểm đầu tiên của Người về xây dựng
MTDTTN bao gồm nhiều giai tầng xã hội với công nông làm nòng cốt.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Nguyễn ái Quốc đã được thể nghiệm
qua các hình thức tập hợp quần chúng, như: Hội những người Việt Nam yêu
nước, Hội Liên hiệp thuộc địa, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức, Hội Việt
bị tan rã hàng loạt. Từ đó, Chính quyền Xô Viết đã ra đời ở một số địa
phương.
8
Thành công của cao trào 30-31 về tập hợp lực lượng là đã hình thành
được khối liên minh công nông, động lực chính của cách mạng. Tuy nhiên,
qua thực tế cho thấy, nếu chỉ có công nông mà không tập hợp được một lực
lượng thật rộng rãi thì khó có thể đưa cách mạng đi tới thành công. Từ nhận
thức đúng đắn đó, Đảng chủ trương thành lập Hội phản đế đồng minh.
Tháng 10-1930, Hội nghị Trung ương đã ra “Án nghị quyết về vấn đề
phản đế”, trong đó nêu rõ: “Việc tổ chức phản đế là một trách nhiệm cần kíp
của Đảng... phải làm cho hội ấy có tánh chất quần chúng. Phải chiêu tập các
hội công nông, học sanh, binh lính, thanh niên, phụ nữ và các đảng phái cách
mạng khác (như Quốc dân Đảng, v.v.) lại mà tổ chức ra cho thành một hội
phản đế ở Đông Dương” [23, tr.195].
Sau Án nghị quyết, ngày 18-11-1930 Thường vụ Trung ương đã ra Chỉ
thị “Về vấn đề thành lập Hội phản đế đồng minh”. Quán triệt quan điểm đại
đoàn kết dân tộc trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Chỉ thị vạch rõ: công nông “là 2 động lực chính căn bản cho sự bố trí hàng ngũ cách mạng”, nhưng
trong cách mạng tư sản dân quyền, nếu giai cấp vô sản không tổ chức được
toàn dân thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó
thành công. Đảng ta chỉ rõ: “Từ trước các đồng chí chưa rõ vấn đề ấy, mà nay
cũng vẫn mập mờ, nên dù tổ chức cách mạng vẫn đơn thuần công nông và là
một màu sắc nhất định như: Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Thanh niên đỏ, Sinh
viên đỏ và Cứu tế đỏ; do đó thiếu mặt tổ chức thật quảng đại quần chúng, hấp
thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, họ là tầng lớp trên hay ở vào
lớp giữa cũng vậy, và cho tới tất cả những người địa chủ, có đầu óc oán ghét
đế quốc Pháp, mong muốn độc lập quốc gia, để đưa tất cả những tầng lớp và
cá nhân đó vào trong hàng ngũ chống đế quốc Pháp... nên tổ chức Hội phản
tháng 6-1932, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam từng bước vượt qua
thời kì thoái trào.
Trên cơ sở phong trào cách mạng và hệ thống tổ chức Đảng đã được
khôi phục, Đại hội Đảng lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 3-1935, tại Ma
Cao (Trung Quốc) đã vạch rõ nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng là:
10
tranh thủ rộng rãi quần chúng và quyết định thành lập Hội phản đế liên minh.
Đại hội đã đề ra chính sách Mặt trận của Đảng là không chỉ liên hệ với các
đoàn thể cách mạng mà còn phải liên hệ với những đảng phái quốc gia, những
phần tử cách mạng lẻ tẻ “để tăng gia lực lượng phản đế”. Đảng cũng đề ra
sách lược phân hoá, tranh thủ các tổ chức, các đảng phái quốc gia cải lương
kể cả các tổ chức, tầng lớp và tay chân của đế quốc.
Cũng như Hội phản đế đồng minh, Hội phản đế liên minh chưa hình
thành về tổ chức trong thực tế nhưng chính sách Mặt trận trên đây là sự bổ
sung và phát triển thêm một bước lý luận xây dựng MTDTTN của Đảng ta.
1.1.2. Bước phát triển mới của Mặt trận dân tộc thống nhất (1936 -1940)
Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 - 1933 và nguy cơ một
cuộc khủng hoảng kinh tế mới khiến cho mâu thuẫn xã hội trong các nước tư
bản chủ nghĩa ngày càng gay gắt hơn. Tại các nước Đức, Ý, Nhật, chủ nghĩa
phát xít ra đời và lực lượng phát xít đã lên cầm quyền, đang tích cực chuẩn bị
chiến tranh để chia lại thế giới, đe dọa trực tiếp tới nền hoà bình, an ninh quốc
tế. Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản, tại Mátxcơva, tháng 7-1935,
trên cơ sở xác định nhiệm vụ trước mắt của nhân dân thế giới là đấu tranh
chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh, giành dân chủ và hoà bình đã
chủ trương thành lập mặt trận chống phát xít, chống chiến tranh, đòi tự do
cơm áo và hoà bình. Tại Pháp, Mặt trận nhân dân chống phát xít được thành
nông, giải quyết vấn đề điền địa. Vậy nhiệm vụ lập Mặt trận nhân dân phản đế
rộng rãi chính để bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị
và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng
nhau tranh đấu để đòi những điều kiện dân chủ đơn sơ” [25, tr.144].
Văn kiện chỉ ra hình thức tổ chức bí mật của Mặt trận rất hạn chế đối
với việc gia nhập của quần chúng, do đó, muốn cho Mặt trận có cơ sở quần
chúng rộng rãi thì phải sửa đổi hình thức tổ chức quần chúng theo lối công
khai và bán công khai như Hội tương tế, Hội ái hữu, Hội đồng hương, Hội
học sinh, Hội thể thao, Hội lợp nhà, Hội đưa ma...; về phương pháp tuyên
12
truyền, cần đề ra nội dung tuyên truyền gắn với quyền lợi hàng ngày của đông
đảo quần chúng và của toàn dân tộc.
Như vậy, căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể, Đảng đã điều chỉnh chính sách
và hình thức tổ chức Mặt trận cho phù hợp nhằm mở rộng hàng ngũ Mặt trận,
cô lập kẻ thù. Theo tinh thần đó, từ năm 1936, Đảng đã chỉ đạo xây dựng và
phát triển Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.
Nắm được việc Quốc hội Pháp quyết định sẽ cử một phái đoàn sang
điều tra tình hình kinh tế, chính trị ở đông Dương, Đảng chủ trương phát động
phong trào “Đông Dương Đại hội”. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, một
phong trào quần chúng đã dấy lên sôi nổi trên cả nước. Uỷ ban trù bị Đại hội
Đông Dương được thành lập tháng 8-1936. Các Uỷ ban hành động ra đời
khắp thành thị và nông thôn để vận động quần chúng cử đại biểu tham dự Đại
hội Đông Dương, đưa “dân nguyện”... Đến đây, hình thức Mặt trận thống
nhất nhân dân phản đế Đông Dương đã hình thành bằng một phong trào của
quần chúng đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Từ kết quả này cho thấy, chính
sách và hình thức Mặt trận do Đảng đề ra là phù hợp với nguyện vọng của
đông đảo quần chúng nên đã được sự hưởng ứng tích cực của quần chúng.
ra chính sách liên hiệp với các tầng lớp khác như tiểu chủ, tư sản nhỏ...
Tháng 6-1938, Đảng gửi thư kêu gọi các đảng phái, các tầng lớp nhân
dân đoàn kết để thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương: “Hỡi các đảng
phái, không phân biệt màu da, không phân biệt giai cấp ! Hỡi quốc dân đồng
bào, hãy khăng khít đoàn kết nhau lại, trừ bọn phản động và bọn khiêu khích
Tờrốtkít ra! hãy bước tới thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương” [25,
tr.400-401].
Hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, đông đảo các tầng lớp nhân dân đã
tích cực tham gia Mặt trận. Từ hình thức phôi thai trong phong trào Đông
Dương đại hội, Mặt trận đã tham gia tích cực vào các hoạt động báo chí, tranh
cử và phong trào đấu tranh của quần chúng... Thông qua các hoạt động đó,
Mặt trận ngày càng được mở rộng, thu hút đông đảo các lực lượng tham gia
14
như công nhân, nông dân, trí thức, thợ thủ công, tiểu thương, thanh niên, phụ
nữ, các đảng phái ...
Trong tác phẩm “Tự chỉ trích”, đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ
đã rút ra những kinh nghiệm lớn về công tác Mặt trận dân chủ của Đảng
những năm 1936-1939. Đó là, muốn lập Mặt trận dân chủ, Đảng cần liên
minh với các đảng phái dân chủ và tiến bộ thuộc tầng lớp trên, nhưng trước
hết phải thực hiện được sự liên minh của quần chúng, chủ yếu là phải xây
dựng khối liên minh công nông, lấy đây làm cơ sở của Mặt trận. Đối với các
lực lượng đồng minh, nhất là đồng minh thuộc tầng lớp trên, một mặt, cần
nhân nhượng nhất định với họ, mặt khác, phải đấu tranh khắc phục những tiêu
cực của họ để tăng cường đoàn kết. Đối với các đảng phái cải lương, cần phải
tranh thủ họ đấu tranh cho dân sinh, dân chủ, nhưng Đảng phải giữ vững độc
lập về chính trị và tổ chức, phải nắm vững quyền lãnh đạo của Đảng. Muốn
mở rộng Mặt trận dân chủ, Đảng phải biết vận dụng sách lược mềm dẻo nhằm
phát triển vào những năm 1936 - 1939, đó là Mặt trận dân chủ Đông Dương.
Từ nền tảng chủ yếu là khối liên minh công nông, Mặt trận dân chủ Đông
Dương đã tập hợp được nhiều lực lượng mới như tiểu tư sản, tư sản dân tộc,
địa chủ tiến bộ... để hình thành nên một MTDTTN rộng lớn. Đồng thời từ
công tác lãnh đạo, tổ chức Mặt trận đã để lại cho Đảng ta những kinh nghiệm
về xây dựng MTDTTN như xây dựng khối liên minh công nông vững chắc
làm cơ sở của Mặt trận; liên hiệp rộng rãi với các tầng lớp, cá nhân khác; đề
ra hình thức tổ chức Mặt trận phù hợp và các mục tiêu đấu tranh, đáp ứng với
yêu cầu, nguyện vọng của nhiều tầng lớp trong xã hội..., chuẩn bị cho sự ra
đời của Mặt trận Việt Minh sau này.
Ngày 1-9-1939, phát xít Đức bất ngờ tiến đánh Ba Lan. Hai hôm sau,
ngày 3-9, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, cuộc chiến tranh thế giới II
chính thức bắt đầu. Sau khi thôn tính được Ba Lan, phát xít Đức đánh chiếm
một loạt các nước Tây Âu như Đan Mạch, Na Uy, Bỉ, Hà Lan, Lúcxămbua và
16
Pháp. Ngày 22-6-1940, Chính phủ Pháp kí hiệp ước đầu hàng. Chính phủ bù
nhìn, tay sai của phát xít Đức do Pêtanh đứng đầu đã gạt Đảng Cộng sản ra
ngoài vòng pháp luật, tiến hành khủng bố Mặt trận nhân dân Pháp, các tổ
chức và cá nhân dân chủ, tiến bộ.
Tại Đông Dương, nhân cơ hội đó, thực dân Pháp đã thi hành chính sách
cai trị thời chiến. Chúng tấn công vào phong trào cách mạng nhằm tiêu diệt
Đảng Cộng sản và các tổ chức quần chúng do Đảng lãnh đạo, thủ tiêu mọi
quyền tự do dân chủ mà nhân dân ta đã giành được trong thời kỳ 1936 - 1939,
ban bố lệnh tổng động viên và thực hiện chính sách “Kinh tế chỉ huy” nhằm
vơ vét sức người sức của để phục vụ cuộc chiến tranh đế quốc. Chính sách
phản động trên đây của Pháp làm cho tình hình chính trị Đông Dương hết sức
ngột ngạt và đời sống nhân dân ngày càng thêm điêu đứng. Tháng 9-1940,
cho quần chúng tinh thần đấu tranh đánh đổ đế quốc, giành độc lập dân tộc.
Như vậy, căn cứ vào nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng cụ thể của thời kỳ
mới, Đảng đã chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế
Đông Dương thay thế cho Mặt trận dân chủ Đông Dương trước đây. Mặt trận
mới là Mặt trận rộng lớn hơn, là sự liên hiệp các dân tộc, các giai cấp, các
đảng phái, các cá nhân có tinh thần chống đế quốc. Còn Mặt trận trước đó là
sự liên hiệp các giai cấp, các đảng phái đòi cải cách xã hội và hoà bình.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tổ chức của Mặt trận thống nhất dân tộc
phản đế Đông Dương đã dần dần hình thành ở nhiều tỉnh và phát triển nhất là
các tỉnh ở Nam kì. Số lượng hội viên của Mặt trận lên đến hàng vạn người.
Phong trào đấu tranh và cuộc vận động cách mạng phản đế phát triển rầm rộ
trên khắp ba kỳ.
Tháng 11-1940, Hội nghị Trung ương 7 của Đảng họp tại Đình Bảng
(Bắc Ninh). Hội nghị đã có phần Nghị quyết riêng về MTDTTN phản đế và
cho rằng “Chiến thuật của Đảng ta trong lúc này là tập trung hết thảy những
lực lượng phản đế, phản phong ở Đông Dương, dùng hết thảy những lực
lượng ấy, dù nhỏ, dù yếu, liên hiệp các lực lượng ấy thành một Mặt trận dân
18
tộc thống nhất phản đế, ráng sức đập thẳng vào kẻ thù chính và các hạng tay
sai của chúng” [26, tr.77].
Hội nghị đã giải quyết về cả khái niệm, tổ chức của Mặt trận, vấn đề
Đảng lãnh đạo Mặt trận và chỉ rõ rằng “Mỗi đoàn thể phản đế đều có Đảng
đoàn của Đảng ở trong đó” và “Những ý kiến của Đảng được thực hiện trong
Mặt trận bằng hai cách công tác: a) bằng cách vận động của các đảng viên ở
trong mỗi đoàn thể phản đế (công tác ở hạ tầng); b) bằng cách đề nghị của
Đảng đoàn trong các uỷ ban của Hội và của Mặt trận” [26, tr.78].
Hội nghị cũng đề ra Chương trình của Mặt trận, chỉ rõ phương pháp
cày” thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia
cho dân cày, chia lại ruộng đất công, giảm tô, giảm tức.
Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng
nước ở Đông Dương và quyết định thành lập ở mỗi nước một MTDTTN. Ở
Việt Nam, nhằm tập hợp rộng rãi mọi lực lượng dân tộc vào nhiệm vụ cứu
nước, giải phóng dân tộc, Đảng ta chủ trương phải vận dụng một phương
pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc
xưa nay trong nhân dân. Cho nên Mặt trận phải đề ra cái tên khác cho có tính
dân tộc hơn, có một mãnh lực để hiệu triệu hơn và có thể thực hiện trong tình
hình hiện tại. Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị quyết định
thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là MTVM). Phù hợp
với mục đích trên hết của cách mạng lúc này là cứu nước, các hội quần chúng
trong Mặt trận được thống nhất lấy tên là các “hội cứu quốc” như Công nhân
cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Quân
nhân cứu quốc...
Hội nghị đề ra cách thức tổ chức Mặt trận: Việt Minh lấy làng, đường
phố, nhà máy làm cơ sở tổ chức. Trong một làng có hai tổ chức cứu quốc trở
lên được thành lập Việt Minh làng. Trên cấp làng là tổng, rồi lên cấp phủ
(huyện, châu), tỉnh, xứ, toàn quốc. Đoàn thể cứu quốc ở cấp nào phải tham gia
Việt Minh cấp đó. Việt Minh chỉ có hệ thống ngang không có hệ thống dọc.
20
Khắc phục những hạn chế trong cách thức tổ chức Mặt trận trước đó,
Đảng chỉ rõ, phải hạ thấp Điều lệ của Mặt trận xuống cho dễ thu phục hội
viên và cho các đoàn thể phát triển hơn. Cần tránh bệnh cô độc, quen lối lựa
chọn quá kỹ lưỡng và đưa ra điều kiện quá cao làm cho các đoàn thể phát
triển khó khăn. Điều cốt yếu hơn hết là những người gia nhập đoàn thể phải
có tinh thần cứu nước, giải phóng dân tộc. Phương pháp tổ chức phải hết sức
Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, Hồ Chí Minh đã tổ chức lớp huấn luyện
chính trị cho 43 cán bộ ở Tĩnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc). Các học viên
được trang bị những hiểu biết về tình hình thế giới và trong nước, phương
pháp, kĩ năng tổ chức, tuyên truyền quần chúng... Phương pháp huấn luyện
đối với học viên là kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, học đi đôi với
hành nhằm giúp cho học viên dễ dàng vận dụng những điều đã học để tuyên
truyền, giác ngộ quần chúng. Những bài giảng ở lớp huấn luyện, sau đó, được
in thành sách “Con đường giải phóng” để làm tài liệu huấn luyện cho cán bộ.
Kết thúc khoá học, các học viên trở về nước.
Tại Cao Bằng, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chí Minh, các cán bộ,
sau khi được huấn luyện, đã trở thành nòng cốt để xây dựng thí điểm các đoàn
thể cứu quốc của MTVM. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, nhiều tổ chức cứu
quốc đã ra đời ở Cao Bằng như Nông dân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc,
Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc...
Căn cứ vào kết quả bước đầu đó, Hội nghị cán bộ tỉnh Cao Bằng đã họp
để rút kinh nghiệm. Hội nghị khẳng định chủ trương thành lập MTVM của
Đảng là hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng và
nguyện vọng của toàn dân. Đây là cơ sở thực tiễn hết sức quan trọng để Hội
nghị Trung ương 8 của Đảng đi đến quyết định thành lập MTVM.
Để triển khai thực hiện quyết định của Hội nghị Trung ương 8, Đảng ta
và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng nhiều hình thức kêu gọi, tuyên truyền,
vận động nhân dân gia nhập MTVM. Ngày 6-6-1941, đồng chí Nguyễn Ái
22