Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1 : CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VÀ TƢ TƢỞNG HỒ
CHÍ MINH BÀN VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG MẶT TRẬN DÂN
TỘC THỐNG NHẤT. ................................................................................... 6
1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về xây dựng Mặt trân dân
tộc thống nhất. ................................................................................................. 6
1.2. Quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng Mặt trận dân tộc thống
nhất. ................................................................................................................. 9
CHƢƠNG 2: ĐƢỜNG LỐI XÂY DỰNG MẶT TRẬN DÂN TỘC
THỐNG NHẤT CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945. .............. 14
2.1. Đường lối xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng giai
đoạn 1930-1935. .............................................................................................. 14
2.1.1. Đảng ra đời và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. ....................... 14
2.1.2. Sự ra đời của Hội Phản Đế Đồng Minh và kế hoạch của nó. ............... 17
2.2. Đường lối xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng giai
đoạn 1936-1939. .............................................................................................. 22
2.2.1. Sự ra đời của mặt trận nhân dân chống phát xít tháng 7/1936 3/1938. ............................................................................................................. 22
2.2.2. Sự ra đời của mặt trận dân chủ Đông Dương. ...................................... 28
2.3. Đường lối xây dựng Mặt trận thống nhất của Đảng giai đoạn
1939-1945........................................................................................................ 35
2.3.1. Hoàn cảnh lịch sử. ................................................................................. 35
2.3.2. Hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất từ tháng 11/1939
đến tháng 2/1941. ............................................................................................ 37
2.3.2.1. Hội nghị lần thứ VI (tháng 11/1939). ................................................ 37
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
huy động được đông đảo quần chúng nhân dân, các đảng phái, các tổ chức
chính trị vào Mặt trận dân tộc thống nhất – mặt trận đại đoàn kết dân tộc, một
trong những động lực và nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng. Đảng
đã linh hoạt đề ra nhiều hình thức mặt trận khác nhau để phù hợp với từng
giai đoạn từng thời kỳ lịch sử.
Sự hình thành Mặt trận dân tộc thống nhất trong tiến trình lịch sử Việt
Nam do Đảng tổ chức và lãnh đạo đã diễn ra trong một quá trình từ năm 1930
ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn nữa. Ngay từ cương lĩnh chính trị đầu
tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại hội nghị
thành lập Đảng 3/2/1930. Cương lĩnh tuy vắn tắt nhưng cũng vạch ra nhưng
nguyên tắc chiến lược, sách lược xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất với
những nội dung cơ bản: “Đảng của giai cấp vô sản phải lãnh đạo quần
chúng, dựa vào dân cày nghèo, lôi kéo về phía mình các tầng lớp tiểu tư sản.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
2
Đối với phú nông, trung tiểu đại chủ và tư bản Việt Nam mà chưa rõ mặt
phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít ra làm cho họ trung lập, bộ phận nào ra
mặt phản cách mạng thì phải lật đổ”. Như vậy ngay từ khi ra đời Đảng đã có
chủ trương đoàn kết các giai cấp, tổ chức chính trị, kể cả các cá nhân nhằm
phát huy sức mạnh truyền thống của chủ nghĩa yêu nước, phát động mọi nhân
tố dân tộc, chĩa mũi nhọn vào kẻ thù, chúng chính là đế quốc và phong kiến
nhằm giành độc lập dân tộc.
thần đoàn kết. Không những thế vấn đề Mặt trận dân tộc thống nhất dân tộc
đã được nhiều nhà sử học đề cập đến như một điều tất yếu trong từng giai
đoạn lịch sử. Ngày nay, tình hình quốc tế có nhiều biến động vì thế việc xây
dựng Mặt trận dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết, cố kết dân tộc là một điều
quan trọng với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa
trong tương lai.
Từ khi hình thành và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất ngày càng
phát huy vai trò của mình, quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng Mặt trận dân tộc
thống nhất là cả một giai đọan dài và đường lối ấy được thể hiện rõ nét nhất
trong giai đoạn 1930 – 1945. Cùng với những lí do nêu trên tôi mạnh dạn
chọn đề tài “ Đường lối xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng từ
năm 1930 đến năm 1945” làm đề tài khóa luận của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề xây dựng lực lượng của Đảng trong giai đoạn 1930 -1945 trong
tiến trình lịch sử Việt Nam đã được nhiều sử gia, nhiều nhà nghiên cứu đã tìm
hiểu và đề cập trong tác phẩm: “Lịch sử Việt Nam”, “Tư tưởng Hồ Chí
Minh”, “ Mặt trận dân tộc thống nhất trong Cách mạng Việt Nam”, “Lịch sử
quân sự”….
Các tác phẩm trên đã nói đến vấn đề đường lối của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh về việc xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất trong từng giai
đoạn lịch sử. Tuy nhiên các tác phẩm trên còn viết dưới dạng sơ lược phác
thảo, hay đi xuyên suốt chiều dài lịch sử nên không đi sâu vào giai đoạn 1930
– 1945 nên không làm rõ được đường lối xây dựng Mặt trận dân tộc thống
nhất của Đảng từ năm 1930 đến năm 1945. Đồng thời cần phải làm sáng tỏ
hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề Mặt trận dân tộc thống
nhất. Cùng với đó cần phải tìm hiểu sâu về bối cảnh trong nước và khu vực
trong giai đoạn 1930 – 1945.
SV: Nguyễn Thị Lan
Nhiệm vụ
Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử trong từng thời kỳ.
Nghiên cứu đường lối xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng
từ năm 1930 đến năm 1945.
5. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào hai vấn đề:
Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh bàn về vấn đề
xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
5
Đường lối xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng từ
năm 1930 đến năm 1945.
6. Kết cấu của đề tài
- Phần mở đầu
nhấn mạnh Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người làm
nên lịch sử.
Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin nêu bật tầm quan trọng đặc biệt
vừa có tính chất chiến lược và sách lược của vấn đề lực lượng cách mạng và
các hình thức tập hợp lực lượng trong cách mạng. Cách mạng muốn thắng lợi
phải có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nhưng trước hết và chủ yếu phải
có Đảng – đội tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo theo một đường lối
đúng và phải có lực lượng cách mạng hùng hậu tập hợp trong hình thức Mặt
trận dân tộc thống nhất.
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định cách mạng là sự nghiệp của đông
đảo quần chúng được giác ngộ, có tổ chức, đấu tranh cho các mục tiêu xác
định theo đường lối đúng đắn của chính Đảng vô sản.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
7
Chủ nghĩa Mác – Lênin nêu lên một số nguyên tắc khi thực hiện liên
minh các lực lượng cách mạng có địa vị khác nhau trong Mặt trận dân tộc
thống nhất. Trong đó, nguyên tắc tối cao là phải dựa trên nền tảng liên minh
công nông mà thu hút đông đảo những lực lượng hàng triệu, hàng chục triệu
người có tác dụng lịch sử của tất cả các giai cấp, các tầng lớp trong một xã hội
nhất định hành động theo một đường lối chung của Đảng lãnh đạo
Về hình thức tập hợp lực lượng chủ nghĩa Mác – Lênin đã nói tới Mặt
trận vô sản thống nhất và Mặt trận nhân dân rộng rãi. Năm 1848 trong tuyên
khi giai cấp vô sản đã giành được chính quyền, cuộc đấu tranh đó vẫn tiếp tục
như trước.
Ngay sau khi Quốc tế Cộng sản ra đời và hoạt động dưới sự chỉ đạo của
Lênin đã không ngừng phát triển những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Về vai trò của quần chúng nhân dân trong thời kỳ mới. Nhiều tổ chức
Quốc tế khác với tư cách là quần chúng đã đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở
phương Tây với nhân dân lao động, giai cấp vô sản ở các nước thuộc địa đang
từng bước được xây dựng.
Trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản với
nhà nước trong tay, theo Lênin vấn đề liên minh để đoàn kết các tầng lớp
nhân dân lao động được đặt ra hết sức bức xúc, không được coi nhẹ, bởi vì
nếu không đoàn kết mọi lực lượng thì bất cứ hành động cách mạng nào cũng
gặp vô vàn khó khăn và khó thành công.
Qua phân tích trên thấy rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về đại
đoàn kết, bởi vì muốn thực hiện lý tưởng cách mạng của Đảng thì phải tập
hợp được lực lượng quần chúng. Chỉ có tập hợp đông đảo được lực lượng
quần chúng thì tư tưởng, lý tưởng cộng sản mới trở thành tư tưởng, lý tưởng
của quần chúng, điều đó có nghĩa là sẽ trở thành sức mạnh thông qua hoạt
động của quần chúng được Đảng lãnh đạo. Quần chúng là lực lượng sản xuất,
sáng tạo ra của cải vật chất, xét về góc độ hình thái kinh tế – xã hội lực lượng
sản xuất là yếu tố quyết định nhất cho sự phát triển của lịch sử. Như vậy, đại
đoàn kết theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin cho chúng ta một bài học
quý báu rằng liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và toàn
thể nhân dân lao động chỉ là sách lược lâu dài trong suốt quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội và chỉ làm tốt đại đoàn kết thì chính Đảng cách mạng của
giai cấp vô sản mới xứng đáng với danh hiệu đó.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất nổi lên một số quan điểm quan trọng
mà không thể xa rời hoặc xem nhẹ dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
10
Mặt trận dân tộc thống nhất phải dựa trên cơ sở hai giai cấp công
nhân và nông dân.
Mặt trận dân tộc thống nhất bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp vai trò
của các giai cấp trong kết cấu của mặt trận không thể ngang bằng hoặc đồng
nhất với nhau. Trong đó có những giai cấp tầng lớp giữ vai trò chủ yếu cơ
bản. Thiếu nó sẽ không có mặt trận, không có khối đoàn kết toàn dân. Cộng
đồng dân tộc lấy đại đoàn kết làm tiêu chuẩn xong phải dựa trên nền tảng cơ
bản của hai giai cấp công nhân và nông dân. Tác phẩm “Đường cách mệnh”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Công nông là gốc cách mệnh còn học
trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ, cũng bị tư bản áp bức, song không cực khổ
bằng công nông, ba hạng ấy chỉ là bầu bạn của cách mệnh của công nông
thôi”.[1, tr266]
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là tư tưởng lớn của Người
trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Vấn đề đại đoàn kết là chiến
lược cách mạng của Hồ Chí Minh nó mang dấu ấn giai cấp, có tính chất giai
cấp, nên bỏ qua mặt này khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh là một thiết
sót, thậm chí là một sai lầm. Tư tưởng đại đoàn kết phải dựa trên cơ sở hai
giai cấp công nhân và nông dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phản ánh, lập
kết. Ngược lại, từ bỏ đấu tranh sẽ dẫn đến làm rạn nứt khối đại đoàn kết dân
tộc. Người luôn chống tư tưởng cục bộ, bè phái gây chia rẽ trong đảng, trong
chính quyền làm tổn hại tới khối đoàn kết. Người phê phán những cán bộ lợi
dụng chức quyền để cất nhắc người thân lên một số cương vị mà không phải
xuất phát từ lợi ích cách mạng, vì nó không những làm suy yếu hoạt động của
chính quyền đoàn thể mà còn làm suy yếu sự đoàn kết của các cấp bộ Đảng,
các cấp chính quyền.
Ở Hồ Chí Minh, trong lĩnh vực đoàn kết, Người thể hiện sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt. Người mở rộng đoàn kết
nhưng kiên quyết đấu tranh chống lại các phần tử phản động, phản bội quyền
lợi dân tộc, đó là nguyên tắc nhất quán, không thay đổi. Người luôn luôn kêu
gọi các nhân sĩ yêu nước, các trí thức tiến bộ mang tài năng phục vụ Tổ quốc,
đoàn kết chân thành với họ.
Nguyên tắc mở rộng đoàn kết nhưng phải đấu tranh của Hồ Chí Minh
được thể hiện sâu sắc trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt. Người
chủ trương hợp tác với các tầng lớp, với các giai cấp nhưng phải đấu tranh để
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
12
không ngừng củng cố mặt trận vững mạnh. Người quan niệm dân tộc ta là
một khối thống nhất, bao gồm nhiều giai cấp và các tầng lớp khác nhau. Mỗi
giai cấp và tầng lớp có lợi ích khác nhau. Trong cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ, các giai cấp đều có lợi ích sống còn là đánh đổi chủ nghĩa đế quốc Pháp,
13
“Đoàn kết sức mạnh của chúng ta. Đoàn kết chặt chẽ thì chúng ta nhất
định có thể khắc phục mọi khó khăn, phát triển mọi thuận lợi mà làm tròn
nhiện vụ nhân dân giao phó cho chúng ta”[10, tr75], chúng ta có thể tin rằng:
Với sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch
Hồ Chí Minh cùng với sự cố gắng của mọi người và sự ủng hộ của toàn dân,
cách mạng nước ta nhất định thắng lợi.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
14
CHƢƠNG 2
ĐƢỜNG LỐI XÂY DỰNG MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
CỦA ĐẢNG TỪ NĂM 1930 ĐẾN NĂM 1945
2.1. Đƣờng lối xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng giai đoạn
1930-1935
2.1.1. Đảng ra đời và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Thế giới đầu những năm 30 của thế kỷ XX đã chứng kiến những biến
động to lớn, phản ánh thời kỳ có những đổi thay căn bản về chính trị, kinh tế
và xã hội ... Trên quy mô toàn cầu, lôi kéo tất cả những quốc gia, dân tộc và
các vùng lãnh thổ vào vùng ảnh hưởng của nó. Cuộc khủng hoảng kinh tế mới
toàn diện của chủ nghĩa tư bản từ năm 1929 đã chấm dứt thời kỳ tạm ổn định
của nó (1923-1928) tạo thành cuộc khủng hoảng trong hệ thống các quốc gia
giác ngộ dân tộc.
Phong trào đấu tranh yêu nước và phong trào công nhân lúc này tiếp
tục có sự phát triển. Khủng hoảng kinh tế và sự tăng cường bóc lột đã khiến
cho phong trào đấu tranh của công nhân nổ ra mạnh mẽ. Từ tháng 4 đến tháng
12 -1929 đã nổ ra 438 cuộc bãi công trên cả nước. Với tinh thần đoàn kết giai
cấp, ý thức tổ chức của công nhân qua quá trình đấu tranh được nâng lên rõ
rệt. Do ảnh hưởng của giai cấp tiểu tư sản thành thị, giai cấp công nhân đã tổ
chức được một số phong trào dân tộc dân chủ khá sôi nổi. Các phong trào đó
biểu thị thái độ cự tuyệt tư tưởng tư sản cải lương, thỏa hiệp. Mối quan hệ
đoàn kết công nhân trong đấu tranh cách mạng từng bước đã được hình thành.
Trong khi phong trào công nhân có những bước chuyển mới, thì các tổ
chức Cộng sản Đông Dương Cộng sản Đảng (17-6-1929); An Nam Cộng sản
Đảng (11-1929); Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn (1-1-1930) vẫn tồn tại sự
chia rẽ, công kích lẫn nhau, làm ảnh hưởng đến phong trào. Một yêu cầu bức
thiết của cách mạng đặt ra là cần có một Đảng cộng sản duy nhất để lãnh đạo
phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Cán bộ của Quốc tế Cộng sản, người chiến
sĩ cách mạng lỗi lạc của cách mạng Việt Nam – là người duy nhất có đủ tài
năng và uy tín để đáp ứng yêu cầu thống nhất của các tổ chức cộng sản.
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
16
Từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930, hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản
Khóa luận tốt nghiệp
17
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn
Ái Quốc soạn thảo đã nêu rõ tính chất nhiệm vụ và mục tiêu cách mạng của
cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc
đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp của thời đại, thấm
đượm tính dân tộc và tính nhân văn và tư tưởng cối lõi là độc lập – tự do cho
dân tộc.
2.1.2. Sự ra đời của Hội phản đế Đồng Minh và kế hoạch của nó
Trong điều lệ nói rõ là Đảng sẽ chỉ định một số Đại biểu đến bàn với
Đảng thanh niên Tân Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng mà tổ chức của Nguyễn
An Ninh ở Nam Kỳ để thành lập một Hội phản đế Đồng Minh bao gồm các
đảng phái và cá nhân riêng lẻ. Tuy vậy lúc ấy hai Đảng Thanh Niên và Tân
Việt thực tế không còn sau khi Đảng Cộng sản chính thức thành lập, vì những
Đảng viên tích cực đều tham gia Đảng Cộng sản, những phần tử lạc hậu
không còn hoạt động nữa. Tổ chức Nguyễn Văn Ninh cũng tan rã hồi đầu
năm 1930. Cho nên Hội phản đế Đồng Minh thực tế cũng chưa ra đời.
Qua phong trào cách mạng phát triển như vũ bão của quần chúng công
nông từ tháng 5 đến tháng 9 – 1930, thực tế đã chứng minh rằng trong nước
Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến, vấn đề lập một mặt trận dân tộc thống
nhất là hết sức cần thiết. Nếu không có mặt trận thống nhất thật rộng rãi lấy
liên minh công nông làm cơ sở tập trung mũi nhọn vào đế quốc xâm lược và
bọn tay sai, thì riêng công nông cũng khó đưa cách mạng giải phóng dân tộc
đi đến thành công. Nhận thức của Đảng ta hồi đó về mối quan hệ giữa hai
nhiệm vụ phản đế và phản phong còn chưa được đầy đủ chưa thấy nhiệm vụ
chủ yếu trước mắt lúc này là phải tập trung mũi nhọn của cách mạng vào chủ
nghĩa đế quốc và bọn phong kiến tay sai. Vì vậy trong chính sách mặt trận của
phản đế, phân tích thái độ chính trị của các giai cấp trong nhân dân và chú ý
tới tầng lớp địa chủ, tư sản và tiểu tư sản. Trong cao trào cách mạng hồi 1930,
nhất là ở những nơi đã thành lập chính quyền Xô Viết tại Nghệ Tĩnh, các tầng
lớp trên đã phân hóa. Phú nông nói chung đoàn kết với nhân dân lao động,
tham gia đấu tranh. Trong giai cấp địa chủ có một số người tham gia hoặc ủng
hộ phong trào họ thường là những người không làm việc cho chính quyền
địch, hoặc bị bọn đế quốc tay sai chèn ép, hoặc thuộc dòng dõi những nhà văn
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
19
thân chống Pháp trước kia hay con em là học sinh trí thức đã giác ngộ cách
mạng.
Bản chỉ thị phân tích rằng, một mặt cách mạng tư sản dân quyền ở
Đông Dương phải do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy công nhân, nông dân
làm hai động lực chính. Nhưng còn một mặt khác nữa là giai cấp vô sản lãnh
đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được
toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng đó
khó thành công. Từ đó Đảng chỉ thị cho các cấp bộ: Từ trước các đồng chí
chưa rõ các vấn đề ấy mà nay cũng mập mờ, nên tổ chức cách mạng vẫn đơn
thuần công nông và là một màu sắc nhất định như Công hội đỏ, Nông hội,
Thanh niên, Phụ nữ và cứu tế đỏ. Do đó thiếu một tổ chức thật quảng đại quần
chúng để hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, nó là trên hay ở vào giữa cũng
vậy, và cho tới cả những người địa chủ có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp,
công nhân.
- Liên minh công nông là cơ sở của mặt trận dân tộc thống nhất.
Sau khi có chỉ thị của Trung ương, xứ ủy Trung Kỳ trong kỳ Hội nghị
cuối tháng 12-1930 đã quyết định mở rộng Hội phản đế Đồng Minh. Nhưng
tiếc rằng Mặt trận phản đế Đồng Minh lúc bấy giờ vẫn chưa thực hiện được vì
một số cấp bộ bên dưới vẫn chưa quán triệt được chủ trương của Trung ương.
Hơn nữa bản chỉ thị ra đời trong khi phong trào nhiều chỗ đã bắt đầu bước
vào thế thoái thủ nên gặp nhiều điều kiện khó khăn thực hiện.
Mặc dù Hội phản đế đồng minh chưa hình thành liên minh giai cấp
trong cao trào 1930-1931 chủ yếu là của quần chúng công nông, nhưng liên
minh công nông đã có ảnh hưởng sâu sắc tới tất cả các tầng lớp dân tộc. Giai
cấp tư sản dân tộc và các nhân sĩ, trí thức yêu nước đã chứng kiến tinh thần
cách mạng triệt để của giai cấp công nhân sức mạnh lòng chiến đấu dũng
cảm, khối đại đoàn kết sắt đá của quần chúng công nông. Họ đã thấy đối
tượng cách mạng mà Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân lao
động đánh vào cũng là kẻ thù chung của dân tộc.
Trong suốt thời kỳ 1930-1935, từ Trung ương đến các địa phương,
không có nơi nào có tổ chức Hội phản đế Đồng Minh. Ngay đến một nơi mà
phong trào đi lên cao nhất, lan rộng nhất như Nghệ Tĩnh, thì lực lượng của
Đảng và tổ chức quần chúng trong biểu đồ tổ chức không có MTDTTN là
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
21
Lớp: K34B- CN Lịch sử
Khóa luận tốt nghiệp
22
hiệu “tăng lương, bớt giờ làm” của công nhân gắn chặt với những khẩu hiệu
“miễn sưu, giảm thuế” của nông dân. Những cuộc đấu tranh của công nhân
mỏ Hòn Gai tháng 3, tháng 4/1930 đều cùng dịp và ủng hộ cho các cuộc đấu
tranh đòi chia lúa của địa chủ cho nông dân ở Thái Bình, Hà Nam. Trong xô
viết Nghệ Tĩnh, công nhân nhà máy Diêm Bến Thủy đã kết hợp đấu tranh với
nông dân ở đền điền Ký Viễn. Rồi đến các Xô viết thôn, xã thành lập, công
nhân nhà máy Trường Thi; Bến Thủy đi làm về “cố vấn” cho các “làng đỏ” ở
nông thôn.
Có thể nói cao trào 1930-1931 là dấu hiệu quật khởi của nông dân lần
đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng công nhân, dấu hiệu quật khởi của nông
dân lần đầu tiên dưới sự lãnh đạo của Đảng công nhân, dấu hiệu của khối liên
minh công nông vừa được xây dựng xong, Đảng ta đã nhận định “thắng lợi
lớn nhất của Đảng ta trong cao trào cách mạng 1930-1931 là Đảng đã thực
hiện được mối liên minh công nông. Do đó đã giành được quyền lãnh đạo cho
giai cấp công nhân.
2.2. Đƣờng lối xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng giai đoạn
1936-1939
2.2.1. Sự ra đời của Mặt trận nhân dân chống phát xít tháng 7/1936 3/1938
Hậu quả trầm trọng của cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm
1929-1933 và tình trạng tiêu điều của các nước thuộc hệ thống các nước tư
bản chủ nghĩa đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản thêm gay
gắt và phong trào cách mạng của quần chúng ngày càng dâng cao. Một số
nước đế quốc chủ nghĩa muốn giải quyết mâu thuẫn ấy bằng cách công khai
Ở nước ta cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933 đã tác động sâu sắc đến
kinh tế và đời sống của nhân dân. Trong khi đó, bọn cầm quyền phản động ở
Đông Dương vẫn vơ vét bóc lột và khủng bố, phong trào đấu tranh của nhân
dân ta làm cho bầu không khí chính trị và kinh tế hết sức ngột ngạt. Mọi tầng
lớp mong muốn có những cải cách dân chủ Đảng Cộng sản Đông Dương đã
phục hồi sau một thời kỳ đấu tranh cực kỳ gian khó, kịp thời lãnh đạo nhân
dân ta bước vào một thời kỳ mới.
Dựa vào nghị quyết của quốc tế cộng sản và xuất phát từ tình hình cụ
thể ở Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương nhận định: Kẻ thù chính của
nhân dân Đông Dương lúc này là bọn phản động thuộc địa Pháp. Bọn này là
SV: Nguyễn Thị Lan
Lớp: K34B- CN Lịch sử