mặt trận dân tộc thống nhất trong cách mạng việt nam thời kỳ 1945 – 1975 - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Hồng

MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
THỜI KỲ 1945 – 1975

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Lê Thị Hồng

MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT
TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM
THỜI KỲ 1945 – 1975
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ VĂN ĐẠT

Thành phố Hồ Chí Minh – 2014


Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ CÁC HÌNH THỨC MẶT TRẬN
DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG CÁCH MẠNG VIỆT
NAM........................................................................................................ 7
1.1. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 7
1.2. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những
tiền đề, điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt
Nam ................................................................................................................ 18
1.3. Các hình thức tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng
Việt Nam ........................................................................................................ 21
Tiểu kết chương 1...................................................................................................... 28
Chương 2. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG KHÁNG
CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 1954) ...................................................................................................... 30
2.1. Mặt trận Dân tộc thống nhất trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chính
quyền nhân dân (9/1945 – 12/1946)............................................................... 30
2.1.1. Hoàn cảnh lịch sử và nhu cầu, chủ trương mở rộng Mặt trận đoàn
kết dân tộc ................................................................................................ 30
2.1.2. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam góp phần
xây dựng và bảo vệ chính quyền ............................................................. 36
2.2. Mặt trận Dân tộc thống nhất thực hiện nhiệm vụ của cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược (12-1946 đến 7-1954) .................................. 49
2.2.1. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp và yêu cầu mở rộng


Mặt trận Dân tộc Thống nhất ................................................................... 49
2.2.2. Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt góp phần giành thắng lợi bước
đầu của cuộc kháng chiến (1946 - 1950) ................................................. 52
2.2.3. Mặt trận Liên Việt góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi
hoàn toàn (1951 - 1954)........................................................................... 59
Tiếu kết chương 2...................................................................................................... 69
Chương 3. MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT TRONG KHÁNG

- MTDTGPMNVN

: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt
Nam

- CPCMLTCHMNVN

: Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam

- VNDCCH

: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

- LMCLLDTDC&HBVN

: Liên minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và
Hòa bình Việt Nam

- Nxb

: Nhà xuất bản


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam đã đúc
kết được nhiều truyền thống quý báu. Trong đó, đoàn kết đã trở thành một trong

sử mà còn đối với lĩnh vực chính trị. Những bài học về tập hợp lực lượng quần
chúng, về cách phối hợp hoạt động để phát huy sức mạnh của toàn thể dân tộc mãi
mãi là những bài học quý giá và luôn mang tính thời sự nóng bỏng. Nghiên cứu về
MTDTTN, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm để phục vụ cho công tác xây dựng
và bảo vệ đất nước trong giai đoạn hiện nay là việc làm cần thiết.
Hơn thế nữa, MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ này, tự nó cũng
là một đối tượng nghiên cứu rất quan trọng trong mảng đề tài nghiên cứu về lịch sử
Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975 nói chung. Bản thân việc nghiên cứu đề tài này cũng
không nằm ngoài mục đích hiểu rõ, hiểu sâu thêm về vấn đề MTDTTN trong lịch sử
Việt Nam, để từ đó có thể hoàn thiện thêm về tri thức lịch sử Việt Nam 1945 1975.
Riêng đối với công tác giảng dạy, hiện nay quá trình dạy học bộ môn Lịch sử
Việt Nam ở các trường phổ thông nói chung và môn Đường lối cách mạng của
Đảng Cộng sản Việt Nam ở các trường Cao đẳng và Đại học nói riêng còn thiếu sự
toàn diện. Đó là, thường xem nhẹ các lĩnh vực kinh tế - xã hội, các tổ chức chính trị
- xã hội trong đó có vấn đề MTDTTN, mà chủ yếu chú trọng lĩnh vực chính trị quân sự. Vì vậy, nắm vững và truyền đạt được những kiến thức về MTDTTN cho
người học sẽ góp phần giúp giáo viên giảng dạy đạt kết quả tốt hơn. Do đó, khi
nghiên cứu về MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975, tôi cũng
mong muốn góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn Lịch
sử Việt Nam cũng như môn Đường lối cách mạng Việt Nam hiện nay theo hướng
toàn diện hơn.
Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Mặt trận Dân tộc thống
nhất trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975” làm đề tài luận văn thạc sỹ
lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu về vấn đề MTDTTN trong lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975
không phải là một đề tài nghiên cứu mới, các nhà nghiên cứu lịch sử đã đề cập khá
nhiều đến mảng đề tài này, trực tiếp cũng như gián tiếp. Tuy nhiên, một công trình


3

Các công trình này đã thể hiện một cách chi tiết về quan điểm xây dựng MTDTTN


4

dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự hình thành và hoạt động của
MTDTTN trong các giai đoạn cụ thể mà chưa nghiên cứu sâu, chi tiết về MTDTTN
trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975. Hơn nữa, bản thân các bài viết trên
các báo và tạp chí chủ yếu là các công trình nghiên cứu tương đối nhỏ, chưa thể
trình này vấn đề này một cách khái quát và hệ thống.
Các công trình như: Sự thành lập và phát triển của Mặt trận Việt Minh của
Ban tuyên huấn Việt Minh - Liên Việt chiến khu VI, Tổng bộ Việt Minh xuất bản
năm 1949; Mặt trận Việt Minh của tác giả Nguyễn Thành, Nxb Sự thật, Hà Nội,
xuất bản năm 1991; Chung một bóng cờ (Về Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam) của tác giả Trần Bạch Đằng (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
xuất bản năm 1993; Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1960-1977),
của các tác giả Hà Minh Hồng, Trần Nam Tiến, Nxb Tổng hợp, Tp HCM, xuất bản
năm 2010; Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong sự nghiệp cách mạng Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2010…lại là những công trình
nghiên cứu về Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, MTDTGPMNVN, do vậy
không thể bao quát hết được vấn đề MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ
1945 - 1975.
Nhìn chung, tất cả các công trình nêu trên đã quan tâm nghiên cứu đến
MTDTTN nói chung cũng như MTDTTN trong thời kỳ 1945 - 1975. Tuy nhiên, các
công trình chỉ nghiên cứu một khía cạnh của toàn bộ mảng đề tài này. Do đó, thực
hiện đề tài, tôi hy vọng có thể kế thừa những thành quả của các công trình nghiên
cứu đi trước để có thể tổng hợp, khái quát lại một cách toàn diện và hệ thống hơn
vấn đề này.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

đối với cách mạng Việt Nam trong trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ xâm lược.
- Bước đầu rút ra đặc điểm, tính chất và những bài học kinh nghiệm về
MTDTTN Việt Nam trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
- Luận văn tập hợp nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng
dạy và học tập vấn đề MTDTTN trong cách mạng Việt Nam thời kỳ 1945 - 1975.
5. Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã cố gắng tìm kiếm, tập hợp, khai
thác tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, kế thừa nghiêm túc các nguồn tài liệu có liên


6

quan. Nguồn tài liệu này gồm:
- Tài liệu của Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng.
- Văn kiện Đảng toàn tập; Văn kiện các Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất
thời kỳ 1945 - 1975; Hồ Chí Minh Toàn tập.
- Các công trình nghiên cứu chuyên đề về MTDTTN tại Thư viện Tổng hợp;
Thư viện Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh; Thư viện Khoa học xã hội…
- Các sách, hồi ký của các vị lãnh đạo Đảng, chính quyền, Mặt trận trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
- Đề tài còn sử dụng khá nhiều các nguồn tư liệu từ các báo và tạp chí khoa
học có viết về MTDTTN.
- Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng một số tư liệu từ sách điện tử và internet. Đây
là một nguồn tài liệu vô cùng phong phú. Tuy vậy, chúng tôi rất cẩn thận trong quá
trình khai thác nguồn tư liệu này.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận của việc nghiên cứu là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh
- Phương pháp nghiên cứu: trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử

Một trong những đặc điểm nổi bật của lịch sử dân tộc Việt Nam là truyền
thống dựng nước gắn chặt với truyền thống giữ nước, đấu tranh xã hội - giai cấp
không tách rời đấu tranh dân tộc. Quá trình lịch sử đó đã hun đúc nên những giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: truyền thống yêu nước, tinh thần tự lực tự
cường, cần cù, sáng tạo trong lao động, anh dũng trong đấu tranh…và một trong
những truyền thống nổi bật nhất, một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của
cách mạng Việt Nam đó là tinh thần đoàn kết cộng đồng, dân tộc. Trải qua hàng
nghìn năm lịch sử, truyền thống đó đã trở thành lẽ sống của mỗi người Việt Nam,
gắn chặt vận mệnh của mỗi cá nhân vào vận mệnh của cộng đồng, quốc gia, dân tộc
và hình thành nên sự cố kết cộng đồng một cách tự nhiên.
Tuy nhiên, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc không phải ngẫu
nhiên mà có. Đó là kết quả hợp thành của nhiều nhân tố về điều kiện địa lý, tự nhiên
và vị trí quan trọng của dân tộc mà những cư dân người Việt từ thuở xa xưa vừa
được thừa hưởng sự ưu đãi của đất trời, vừa phải đối mặt với những thử thách khắc


8

nghiệt của thiên tai, địch họa. Trước sự đe dọa của thiên tai, nhân dân ta phải đoàn
kết hợp quần nhau lại mới đủ sức mạnh để khai phá đất hoang thành đồng ruộng,
lập xóm làng, đắp đê chống lũ lụt, khơi kênh ngòi chống úng hạn… công cuộc lao
động gian khổ và yêu cầu hợp quần đó tạo nên sự gắn bó mật thiết giữa con người
với thiên nhiên, giữa người với người ở cùng một làng, một nước.
Đặc biệt, nước ta ở vào vị trí địa lý quan trọng của vùng Đông Nam Á, là địa
bàn chiến lược quan trọng cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Cho nên, từ thời cổ
đại đến cận đại và hiện đại, Việt Nam là mảnh đất mà các thế lực bành trướng, xâm
lăng luôn luôn thèm khát và tìm mọi cách để chiếm đoạt. Trong lịch sử tồn tại và
phát triển của mình, dân tộc ta phải chống ngoại xâm rất nhiều lần với tần suất rất
cao: đã phải tiến hành gần 20 cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc cùng với hàng trăm
cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng. Họa mất nước có khi kéo dài hàng chục,

duy chính trị: Nhà - Làng - Nước thống nhất; “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền
cũng là dân” và được đúc kết, nâng lên thành kinh nghiệm, thành phép trị nước và
đánh giặc: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”,
“Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, nước nhà chung sức”...
Cũng chính trong quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta còn tích lũy
được không ít những kiến thức, kinh nghiệm phong phú, đa dạng, thích hợp với
mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau về xây dựng, thực hiện khối đại đoàn kết dân tộc với
nhiều hình thức như: Hội nghị Diên Hồng (1284); Hội thề Lũng Nhai (1416); Hội
Duy Tân (1905); Việt Nam Quang phục Hội (1912)…Đây là một trong những nhân
tố góp phần đem đến thắng lợi cho dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ
đất nước, giành lại độc lập dân tộc.
Nhằm kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết của dân tộc, Nguyễn Ái
Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên được
thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930) đã vạch ra sự
cần thiết phải xây dựng một MTDTTN để đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ
chức chính trị, các cá nhân phấn đấu cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
Thứ hai, chủ trương xây dựng MTDTTN của Đảng Cộng sản Việt Nam còn
xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề đoàn kết dân tộc với
tư tưởng cốt lõi: Cách mạng bao giờ cũng là sự nghiệp của đông đảo quần chúng
nhân dân.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác - Ph.Ăngghen
sau khi phân tích quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa tư bản, các ông đã


10

chứng minh sự ra đời, phát sinh, phát triển của chủ nghĩa tư bản là một tất yếu lịch
sử; đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa,
sự mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản trong phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa. Từ đó, C.Mác - Ph.Ăngghen đã chỉ ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp

cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai
cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với
sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân
nền đại công nghiệp” [18; tr.610-611].
Như vậy, những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen trên cả phương diện lý
luận và thực tiễn của vấn đề đoàn kết dân tộc là rất quan trọng. Các ông đã đặt nền
tảng để xây dựng khối liên minh công nông, đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các
dân tộc bị áp bức, tập hợp lực lượng, đưa cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới
thắng lợi.
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của C.Mác và Ăngghen, V.I. Lênin đã
nhấn mạnh tầm quan trọng và sự cần thiết phải đoàn kết các giai cấp và tầng lớp
trong xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản. Trong quá trình lãnh đạo
cách mạng tháng Mười Nga, V.I. Lênin cho rằng: trong cách mạng việc liên minh
giai cấp là một vấn đề to lớn. “Nếu chỉ một mình giai cấp vô sản tiến hành cuộc đấu
tranh một cách đơn độc thì đó không những là một điều dại dột mà còn là một tội ác
nữa”[21, tr.29]. Đặc biệt, V.I. Lênin còn nêu vấn đề đoàn kết những người vô sản
với nhân dân các nước bị áp bức, bóc lột nhằm chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế
quốc thành một khẩu hiệu chiến lược: “Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên
toàn thế giới đoàn kết lại”. Đến đây, vấn đề đoàn kết đã được phát triển và mở rộng,
không những đoàn kết nhân dân trong nước mà còn phải đoàn kết với nhân dân thế
giới, nhất là các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng
của từng nước nói riêng và cho phong trào, mục tiêu cách mạng thế giới nói chung.
Tiếp thu những quan điểm đó, Quốc tế Cộng sản trong quá trình hoạt động của
mình, đã tiến hành nhiều hoạt động dù ở cấp độ “thấp” hay “hẹp” hơn Mặt trận
nhưng vẫn có ý nghĩa như là sự tập hợp lực lượng quần chúng, liên kết phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế như: “Quốc tế thanh niên”, “Quốc tế nông dân”,
“Công hội đỏ”, “Quốc tế phụ nữ”… Mô hình này của Quốc tế Cộng sản về sau đã
được lặp lại trong cấu trúc hệ thống chính trị cách mạng các nước do giai cấp vô sản
lãnh đạo. Đặc biệt là ở các nước thuộc địa và phụ thuộc - nơi mà yếu tố dân tộc còn
chiếm ưu thế, cho nên còn có điều kiện tập hợp trong Mặt trận thống nhất tất cả

Công xã Pari 1871) trong đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa. Đến V.I.Lênin,
trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, ách
áp bức giai cấp và dân tộc đã diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, tư tưởng liên minh
công nông của C.Mác được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản mở rộng ra trên quy mô


13

toàn thế giới với khẩu hiệu nổi tiếng: “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp
bức đoàn kết lại”. Song, do chưa đánh giá đầy đủ về vấn đề dân tộc, nhất là vấn đề
dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, tư tưởng về đoàn kết dân tộc trong
MTDTTN vẫn chưa được V.I.Lênin và Quốc tế Cộng sản đặt ra một cách hệ thống,
cụ thể và đầy đủ.
Nhưng những đóng góp của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Quốc tế Cộng
sản về vấn đề đoàn kết dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về phương diện lý
luận và thực tiễn. Các ông đã đặt nền tảng để xây dựng khối liên minh công nông,
đoàn kết giai cấp vô sản, đoàn kết các dân tộc bị áp bức; tập hợp lực lượng, đưa
cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản đi tới thắng lợi. Đó là những cơ sở lý luận quan
trọng để Nguyễn Ái Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành và xây dựng nên
chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng MTDTTN nhằm đáp ứng yêu cầu,
nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, việc xây dựng MTDTTN ở nước ta còn dựa trên những quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết trong MTDTTN.
Trên cơ sở kết hợp tài tình và khéo léo chủ nghĩa Mác - Lênin với tinh hoa
truyền thống văn hoá dân tộc, nhất là truyền thống đoàn kết; chắt lọc tinh hoa văn
hoá nhân loại; trải qua thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú và sinh động,
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận thức được sự cần thiết phải thực hiện đoàn
kết dân tộc; đã nhìn thấy sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, nguồn động lực to lớn
của nhân dân Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhưng với Người,

yếu và sự ra đời của MTDTTN cũng là một tất yếu lịch sử. Toàn dân tộc chỉ trở
thành lực lượng to lớn, có sức mạnh vô địch trong đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ
quốc khi được tập hợp, tổ chức lại thành một khối vững chắc, được giác ngộ về mục
tiêu chiến đấu chung và hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn. Nếu
không được như vậy thì quần chúng nhân dân dù có đông tới hàng triệu, hàng trăm
triệu con người thì cũng chỉ là một số đông không có sức mạnh. Về tầm quan trọng
của tổ chức nói chung, các hội, đoàn nói riêng trong việc tập hợp, huy động sức
mạnh dân tộc, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Người không có tổ chức thì cũng như chiếc
đũa lẻ loi, ai bẻ cũng gãy. Người có đoàn thể thì cũng như chiếc đũa cột thành một
bó, không ai bẻ gãy được.
Nhờ tư tưởng nhất quán và chính sách Mặt trận đúng đắn, Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc trong MTDTTN


15

rộng rãi, đưa cách mạng Việt Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn. Hồ Chí Minh
viết: “Đoàn kết trong Mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm cách mạng tháng Tám
thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Đoàn kết trong Mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập
lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc.
Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta giành được thắng lợi
trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc”[59, tr.604].
Hai là, theo Hồ Chí Minh, MTDTTN là một hình thức tập hợp quần chúng
rộng rãi, đại diện cho đại đa số quần chúng, đại diện cho quyền lợi dân tộc.
Hồ Chí Minh cho rằng: “Từ Nam đến Bắc, ai là người tán thành hòa bình,
thống nhất, độc lập, dân chủ thì chúng ta sẵn sàng đoàn kết với họ, thật thà hợp tác
với họ, dù từ trước tới nay họ đã thuộc phe phái nào”[57, tr.49]. Mặt trận là nơi tập
hợp mọi lực lượng có thể tập hợp được, thực hiện thêm bạn, bớt thù, tập trung mũi

khối liên minh công - nông - trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đây là nguyên tắc
cốt lõi trong chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, nó hoàn toàn khác với tư
tưởng đoàn kết, tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam trước đó.
Người chỉ rõ, sở dĩ phải lấy liên minh công - nông làm nền tảng “vì họ là
người trực tiếp sản xuất tất cả mọi tài phú làm cho xã hội sống. Vì họ đông hơn hết,
mà cũng bị áp bức bóc lột nặng nề hơn hết. Vì chí khí cách mạng của họ chắc chắn,
bền bỉ hơn của mọi tầng lớp khác”[57, tr.214]. Nhưng Người cũng lưu ý, trong khi
nhấn mạnh vai trò nòng cốt của liên minh công nông, cần chống lại khuynh hướng
chỉ coi trọng củng cố khối liên minh công nông mà không thấy vai trò và sự cần
thiết phải mở rộng đoàn kết với các tầng lớp khác, nhất là với tầng lớp trí thức. Làm
cách mạng phải có trí thức và tầng lớp trí thức rất quan trọng đối với cách mạng.
Cho nên công, nông, trí cần đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất.
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là công việc của toàn dân tộc, song nó chỉ có
thể được củng cố và phát triển vững chắc khi được Đảng lãnh đạo. Sự lãnh đạo của
Đảng đối với Mặt trận vừa là vấn đề mang tính nguyên tắc, vừa là một tất yếu bảo
đảm cho Mặt trận tồn tại, phát triển và có hiệu lực trong thực tiễn. Bởi vì chỉ có
chính Đảng của giai cấp công nhân được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác - Lênin mới
đánh giá đúng được vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, mới vạch ra
được đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn để lôi kéo, tập hợp quần chúng


17

vào khối đại đoàn kết trong Mặt trận, biến tiến trình cách mạng thành ngày hội thật
sự của quần chúng. Chính vì vậy, Người luôn xác định, mối quan hệ giữa Đảng và
Mặt trận là mối quan hệ máu thịt. Không có Mặt trận, Đảng không có lực lượng,
không thể thực hiện được những nhiệm vụ cách mạng; không có sự lãnh đạo của
Đảng, Mặt trận không thể hình thành, phát triển và không có phương hướng hoạt
động đúng đắn.
Để lãnh đạo Mặt trận, Đảng phải có chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp

Những tư tưởng của Người về xây dựng MTDTTN là tài sản vô cùng quý
báu của dân tộc ta, là cơ sở tư tưởng, lý luận cho việc xây dựng và phát triển
MTDTTN Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh của dân tộc cho độc lập,
thống nhất của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân.
1.2. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và những tiền
đề, điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, ở Việt Nam triều đình nhà Nguyễn bước vào giai đoạn
khủng hoảng sâu sắc. Đấu tranh giai cấp trong nước phát triển giữa hai lực lượng cơ
bản của xã hội: nông dân và phong kiến. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân
nổi lên từ Bắc chí Nam, từ đồng bằng đến miền núi, làm cho chế độ phong kiến thối
nát bị lay chuyển đến tận gốc rễ. Nông dân đã tỏ rõ là một động lực cơ bản thúc đẩy
xã hội phát triển.
Trước âm mưu và hành động xâm lược của thực dân Pháp, triều đình nhà
Nguyễn đã không có những biện pháp cứng rắn để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Nước Việt Nam trở thành thuộc địa của đế quốc Pháp. Mâu thuẫn xã hội chủ yếu
nhất là giữa đế quốc Pháp với toàn thể dân tộc Việt Nam, nhưng mâu thuẫn sâu sắc
vốn có giữa nông dân với phong kiến vẫn tồn tại. Trải qua hai chương trình khai
thác thuộc địa do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương đã làm cho tính chất xã
hội nước ta thay đổi - một xã hội thuộc địa đang hình thành với một cơ cấu xã hội
mới đan xen, chồng chéo với những tôn giáo, đẳng cấp, những tập tục, lề thói đa
dạng…trên nền tảng một xã hội truyền thống đang tan rã. Lúc này, muốn giải phóng
được dân tộc thì điều kiện quyết định chính là sự đồng tâm hiệp lực, đoàn kết hết
thảy mọi người Việt Nam yêu nước không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân
tộc…cùng nhau đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc.
Chính vì vậy, ngay từ khi thực dân Pháp mới đặt chân lên xâm lược nước ta, phong
trào yêu nước đã diễn ra mạnh mẽ khắp mọi miền đất nước, thu hút đông đảo các
tầng lớp nhân dân, các bậc sĩ phu, kể cả một bộ phận quan lại phong kiến với tinh




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status