ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ MINH NGUYỆT
ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135
TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ MINH NGUYỆT
ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135
TỪ NĂM 1999 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60.22.03.15
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Hồ Khang
Hà Nội - 2015
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề ..................................................................... 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 5
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu ................................................ 6
6. Đóng góp của luận văn .............................................................................. 6
7. Kết cấu của luận văn .................................................................................. 7
Chƣơng 1. CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH
HÒA BÌNH ĐỐI VỚI THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN I
(1999 - 2005) ..................................................................................................... 8
1.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình ..... 8
1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình .......................... 8
1.1.2. Chương trình 135 giai đoạn I ........................................................ 15
1.1.3.Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn của
tỉnh Hòa Bình ........................................................................................... 27
1.2. Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lãnh đạo thực hiện Chƣơng trình 135 giai đoạn I........ 28
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh ........................................................ 28
1.2.2. Chỉ đạo thực hiện ........................................................................... 34
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 52
Chƣơng 2. SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH ĐỐI VỚI
THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH 135 GIAI ĐOẠN II (2006 - 2010) .......... 54
2.1. Chủ trƣơng của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình .......................................... 54
2.1.1. Chương trình 135 giai đoạn II ....................................................... 54
2.1.2. Tình hình các xã ở tỉnh Hòa Bình thuộc Chương trình 135 giai
đoạn II và chủ trương của Đảng bộ tỉnh .................................................. 61
2.2. Chỉ đạo thực hiện ................................................................................ 65
2.2.1. Công tác tổ chức............................................................................. 65
2.2.2. Triển khai thực hiện Chương trình và kiểm tra, giám sát thực hiện
Chương trình ............................................................................................ 74
2
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3
CT
Chỉ thị
4
ĐBKK
Đặc biệt khó khăn
5
NQ
Nghị quyết
6
NXB
Nhà xuất bản
12
UBND
Ủy ban nhân dân
STT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghèo đói là vấn đề được quan tâm ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Xóa đói giảm nghèo và tiến tới đẩy lùi nghèo đói là mục tiêu chung của cả
nhân loại. Việt Nam là một trong những quốc gia thành công trên thế giới
trong công cuộc giảm nghèo và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy
tốc độ giảm nghèo đang chậm lại, xuất hiện sự bất bình đẳng và chênh lệch
giàu - nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng nhóm dân cư ngày
càng tăng. Phần lớn người nghèo sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới hải đảo - những địa bàn có vị trí chiến lược về an ninh,
quốc phòng và môi trường sinh thái và đó cũng là nơi cư trú chủ yếu của đồng
bào dân tộc thiểu số. Từ thực trạng này đòi hỏi phải có những chương trình
phát triển kinh tế - xã hội tổng hợp, đặc thù dành cho đối tượng là đồng bào
dân tộc và miền núi ở những vùng nghèo, có điều kiện khó khăn nhất, nhằm
xóa đói giảm nghèo, ổn định phát triển kinh tế xã hội, giảm khoảng cách phát
triển giữa miền xuôi với miền ngược, vùng có điều kiện thuận lợi với vùng
đặc biệt khó khăn.
Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng
đồng bào dân tộc và miền núi (gọi tắt là Chương trình 135) được ra đời để đáp
ứng yêu cầu đó. Chương trình này được triển khai thực hiện theo Quyết định
số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/7/1998, và kết thúc
kiên cố hóa, đời sống vật chất và tinh thần bà con nhân dân trong và ngoài
vùng dự án được nâng lên…Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những hạn chế cần
được khắc phục như trình độ nhận thức của người dân và năng lực của đội
ngũ cán bộ cơ sở còn hạn chế, quy chế đầu tư còn phức tạp, cơ chế quản lý dự
án hỗ trợ phát triển sản xuất còn rườm rà…Những điều đó đã ảnh hưởng đến
quá trình tổ chức thực hiện và hiệu quả của Chương trình. Như vậy, có những
nhìn nhận, đánh giá tổng quát về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối
2
với thực hiện Chương trình 135 (qua hai giai đoạn), chỉ ra những thành tựu,
hạn chế, nguyên nhân hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm tham khảo cho thời
kỳ tới là hết sức cần thiết.
Với những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Hòa
Bình lãnh đạo thực hiện Chương trình 135 từ năm 1999 đến năm 2010”
làm đề tài Luận văn thạc sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng cộng sản
Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu vấn đề
Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc và miền núi là một
trong những nội dung quan trọng trong vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc.
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam thì vấn đề dân tộc và chính sách dân
tộc luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và đưa ra những chủ trương, giải
pháp phù hợp. Trong thời gian qua đã có nhiều tác phẩm của các nhà nghiên
cứu về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc như: Cộng đồng quốc gia Việt
Nam của tác giả Đặng Nghiêm Vạn NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh; Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ
dân tộc hiện nay của tác giả Phan Hữu Dật NXB Chính Trị Quốc gia 2001;
Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam của tác giả Lê Ngọc
Thắng NXB Trường Đại học Văn hóa 2005; Chính sách và chế độ pháp lý đối
hiện chính sách dân tộc của Đảng ở tỉnh Tuyên Quang từ năm 2001 đến năm
2010 của Lưu Thị Tuyết, Luận văn thạc sĩ Lịch sử trường Đại học Khoa học
xã hội và Nhân văn; Quá trình thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của
Đảng ở tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 đến năm 2010 của Ma Thị Tuyền, Luận
văn thạc sĩ Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn; Đảng bộ
tỉnh Hà Giang lãnh đạo thực hiện Chương trình 135 của Chính phủ từ năm
1998 đến năm 2010 của Sằm Thị Luyến, Khóa luận tốt nghiệp ngành Lịch sử
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn. Ngoài ra còn nhiều bài viết về
4
Chương trình 135 đăng trên các tạp chí, báo Trung ương và địa phương. Các
công trình này đã tiếp cận và nghiên cứu về Chương trình 135 dưới góc độ
khác nhau như: lồng ghép trong việc thực hiện chính sách dân tộc ở Hòa Bình
và Tuyên Quang hay lồng ghép trong Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Cao
Bằng hay tiếp cận và nghiên cứu một cách toàn diện về sự lãnh đạo của Đảng
bộ tỉnh Hà Giang với việc thực hiện Chương trình 135…Tuy nhiên, đến nay
chưa có công trình nào nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh Hòa Bình với việc thực hiện Chương trình 135 ở địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với
việc thực hiện Chương trình 135 ở địa phương từ năm 1999 đến năm 2010
- Nhận xét về những thành tựu, hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm
trong chỉ đạo thực hiện Chương trình 135 của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình.
3.2. Nhiệm vụ
- Phân tích và làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa
Bình đối với việc thực hiện Chương trình 135 qua hai giai đoạn: 1999-2005;
2006-2010.
cáo tổng kết Chương trình các giai đoạn của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban dân
tộc tỉnh…
- Các luận văn, bài báo liên quan đến đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa các chủ trương, giải pháp của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình
trong việc cụ thể hóa và chỉ đạo thực hiện Chương trình 135 ở Hòa Bình từ
năm 1999-2010.
- Nhận xét những thành tựu, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm trong
sự lãnh đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh đối với việc thực hiện Chương trình
135 nhằm phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn đưa tỉnh Hòa
Bình cơ bản thoát nghèo.
6
- Luận văn có thể là nguồn tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu,
giảng dạy và học tập lịch sử Đảng bộ địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương.
Chƣơng 1. Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối
với thực hiện Chương trình 135 giai đoạn I (1999 - 2005)
Chƣơng 2. Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Hòa Bình đối với thực hiện
Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010)
Chƣơng 3. Một số nhận xét và kinh nghiệm
7
Chƣơng 1
CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÒA BÌNH
Từ năm 1896, địa giới hành chính của tỉnh cơ bản ổn định. Đến năm
1950, các châu được chuyển thành các huyện sau đó các đơn vị hành chính
huyện có một số thay đổi.
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước giành được thắng
lợi, miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã thống nhất về mặt
lãnh thổ, nhiệm vụ đặt ra là hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước
để tạo cơ sở cho cả nước tiến lên CNXH. Trước nhiệm vụ đó, ngày
27/12/1975, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V đã họp kỳ
họp thứ hai và ra nghị quyết hợp nhất một số tỉnh; theo đó, tỉnh Hòa Bình và
tỉnh Hà Tây hợp nhất thành tỉnh Hà Sơn Bình. Tỉnh Hà Sơn Bình chính thức
đi vào hoạt động từ ngày 01/04/1976. Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VII của
Đảng (6/1991), với tinh thần đổi mới, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất
nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, tại kỳ họp thứ IX, ngày
12/8/1991, Quốc hội khóa VIII quyết định điều chỉnh địa giới hành chính và
chia lại một số tỉnh. Tỉnh Hà Sơn Bình được chia thành tỉnh Hòa Bình và Hà
Tây.
Đến ngày 12/12/2001, theo nguyện vọng của cán bộ đảng viên và nhân
dân các dân tộc huyện Kỳ Sơn và tỉnh Hòa Bình, Chính phủ nước CHXHCN
Việt Nam ra Nghị định số 95/2001/NĐ-CP, chia huyện Kỳ Sơn thành 2 huyện
là: Kỳ Sơn và Cao Phong.
Ngày 27/10/2006, thị xã Hòa Bình trở thành đô thị loại 3 với tên gọi
mới là thành phố Hòa Bình.
Ngày 24/7/2009, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị quyết
số 31/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, thành phố tỉnh
Hòa Bình, trong đó chuyển bốn xã: Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Bình và Yên
9
Trung của huyện Lương Sơn về huyện Thạch Thất của Hà Nội. Từ đây Hòa
tam Thàng, tứ Động”.
Hòa Bình có hệ thống sông suối phân bố tương đối dày và đều khắp ở
các huyện. Trong đó sông Đà là dòng sông lớn. Hồ sông Đà có dung tích 9,5
tỷ m3 nước nối liền với Sơn La, phần hạ lưu chảy qua Phú Thọ, Hà Nội thông
với sông Hồng. Ngoài ra còn có sông Bưởi dài 55 km (huyện Tân Lạc), sông
Bôi dài 125 km, sông Bùi, sông Lãng. Các con sông này vừa có giá trị thủy
văn lớn, vừa có giá trị giao thông nhất là sông Đà. Năm 1979 được sự giúp đỡ
của Liên Xô, công trình thủy điện Hòa Bình trên sông Đà được khởi công xây
dựng. Đây là công trình thủy điện lớn nhất vùng Đông Nam Á, với 8 tổ máy
có công suất là 1,92 triệu kw, sản lượng điện hằng năm là 8,16 tỷ kw/h [1,
tr.13]. Ngoài ra những dòng sông suối, ao hồ cũng phục vụ sản xuất, sinh
hoạt, nuôi trồng thủy sản.
Về tài nguyên khoáng sản. Thiên nhiên ban tặng Hòa Bình nhiều tài
nguyên thiên nhiên phong phú, phải kể đến một số loại khoáng sản như: than,
amiăng, vàng...Đáng chú ý là than mỡ ở Kim Bôi tuy trữ lượng không lớn
nhưng rất cần cho công nghiệp luyện kim. Nước khoáng cũng là tài nguyên
quý có giá trị và được khai thác ở Hòa Bình, đặc biệt phải kể đến nước
khoáng ở Kim Bôi đã được chế biến phục vụ chữa bệnh, giải khát và du lịch
đem lại giá trị kinh tế cao cho huyện và tỉnh. Ngoài ra phải kể đến một loại tài
nguyên khác như đá vôi, đá xanh - nguồn nguyên liệu có giá trị trong công
nghiệp xây dựng (làm cầu, đường giao thông, khai thác đá, xi măng).
Tài nguyên rừng. Nông - lâm nghiệp là tiềm năng kinh tế quan trọng
hàng đầu của tỉnh, đặc biệt là tiềm năng về lâm nghiệp. Trong tổng số
307.755 ha đất đai nông - lâm nghiệp thì đất đai lâm nghiệp chiếm tới
250.168 ha, chiếm gần 80%. Từ xa xưa rừng là tài nguyên quý giá nhất của
Hòa Bình với nhiều loại gỗ quý có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng cao như:
11
làm nương được giảm dần. Việc sử dụng nguồn vốn các chương trình dự
ánnhư Chương trình 327, định canh định cư, Dự án 747, Dự án ván sợi
ép…đã làm cho diện tích che phủ rừng ngày càng tăng. Trong 3 năm 1996 1998, toàn tỉnh trồng mới được 14.600 ha, bảo vệ được trên 60 ngàn ha rừng
tự nhiên, nâng cao độ che phủ lên 36% tạo việc làm cho hàng ngàn lao độn g [1, tr.
681].
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong những năm 1996-2000, có sự
phát triển đa dạng ngành nghề trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến nông
- lâm sản, chế biến thực phẩm, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng…
Năm 1996 trên địa bàn tỉnh có 2. 925 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có
4 cơ sở doanh nghiệp quốc doanh, đến năm 2000 có 4849 cơ sở sản xuất công
nghiệp tăng hơn 1,5 lần, trong đó có 1 cơ sở quốc doanh. Giá trị sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp năm 1996 là 174,870 tỷ đồng, năm 2000 đạt
347,948 tỷ đồng [1, tr. 687]. Tuy nhiên, còn một số ngành công nghiệp sản
xuất còn khó khăn tốc độ đổi mới công nghệ chậm.
Hoạt động thương mại còn chậm phát triển, các doanh nghiệp trên địa
bàn còn nhỏ bé manh mún. Thị trường Hòa Bình nhỏ chưa phát triển, sức mua
hàng hóa chủ yếu tập trung ở thị xã, thị trấn, còn các vùng cao vùng sâu, xa
vùng đặc biệt khó khăn chưa phát triển.
Hoạt động du lịch đã có cố gắng, bước đầu khai thác tiềm năng du lịch
trung tâm là du lịch văn hóa và du lịch sinh thái với tốc độ sinh trưởng khá.
Kinh tế những năm 1996 - 2000 của Hòa Bình có bước phát triển khá,
các ngành sản xuất đều phát triển, đời sống nhân dân từng bước được cải
thiện. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm thời kì 1996 – 2000, đạt 7,9%
bình quân đầu người tăng 738 nghìn đồng từ 1,518 triệu đồng năm 1996, lên
2,382 triệu đồng năm 2000. Sản lượng lương thực bình quân đầu người trên
năm của năm 1991 chỉ đạt 197,2 kg đến năm 2000, đạt 316,3 kg. Nhìn chung
13
làm cho nhân dân tất cả các dân tộc trong tỉnh bình đẳng, đoàn kết, giúp nhau
cùng phát triển.
1.1.2. Chương trình 135 giai đoạn I
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống,
trong đó dân tộc Kinh là đa số, còn lại là các dân tộc thiểu số. Các dân tộc
thiểu số phần lớn sống ở miền núi và khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Họ
cư trú đan xen tạo nên vùng đồng bào dân tộc và miền núi với địa bàn rộng
lớn chiếm 3/4 diện tích đất liền trải dài từ Bắc vào Nam. Trong số 64 tỉnh
thành phố cả nước hiện nay có tới 54 tỉnh thuộc địa bàn vùng dân tộc và miền
núi, bao gồm: 12 tỉnh vùng cao, 9 tỉnh miền núi, 23 tỉnh có huyện, xã miền
núi và 10 tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long nơi có đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống [62, tr.129].
Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhất là nguyên nhân lịch sử để lại
và do điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồng bào dân
tộc miền núi nên trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không
đồng đều. Phần lớn các dân tộc thiểu số có mức sống thấp, tỉ lệ nghèo đói cao,
phương thức canh tác còn lạc hậu, thiếu đất sản xuất, cơ sở hạ tầng còn thiếu
và yếu...
Từ thực trạng vùng đồng bào dân tộc và miền núi như vậy, Đảng,
Chính phủ Việt Nam đã đưa ra những chủ trương, chính sách, chương trình,
dự án cụ thể nhằm xóa đói giảm nghèo và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội
từng bước rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các dân tộc giúp miền núi tiến
kịp miền xuôi.
Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội VI
của Đảng (1986) đã nghiêm khắc kiểm điểm tình hình về mọi mặt và đề ra
đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong quá trình đi lên của cách
mạng Việt Nam. Đại hội chủ trương “bổ sung, cụ thể hóa và thực hiện tốt hơn
15
16
mạng có bước tiến nhanh hơn, dần dần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về
trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng” [17, tr.80].
Đồng bào các dân tộc sống xen ghép ở miền núi, sau nhiều năm được
Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đã hình thành những khu vực có
trình độ phát triển khác nhau. Để có cơ sở đầu tư phát triển, vận dụng thực
hiện các chủ trương, chính sách sát hợp với từng khu vực, từng đối tượng, có
hiệu quả ở vùng dân tộc và miền núi Ủy ban Dân tộc và Miền núi đã ra Thông
tư số 41/UB-TT ngày 8/1/1996, quy định và hướng dẫn tiêu chí xác định từng
khu vực. Có ba khu vực: khu vực I: khu vực bước đầu phát triển; khu vực II:
khu vực tạm ổn định; khu vực III: khu vực khó khăn
Việc phân định từng khu vực này được căn cứ vào tiêu chí đó là: điều
kiện tự nhiên; địa bàn cư trú; cơ sở hạ tầng; các yếu tố xã hội; điều kiện sản
xuất. Về đời sống lấy xã làm đơn vị để xếp vào từng khu vực, sau khi xem xét
cụ thể từng xã, nếu thấy đạt 4/5 tiêu chí của khu vực nào thì xếp vào khu vực
đó. Sau 2 năm thực hiện các chủ trương chính sách đầu tư phát triển phải
đánh giá lại mức độ phát triển của từng xã trên cơ sở các tiêu chí cụ thể để
điều chỉnh từng khu vực phù hợp, nhằm vận dụng thực hiện các chủ trương
chính sách và có kế hoạch đầu tư phát triển luôn sát hợp với từng địa bàn.
Lấy xã làm đơn vị để xếp vào từng khu vực như nêu trên các xã thuộc
khu vực III - Khu vực khó khăn gồm các tiêu chí
1. Địa bàn cư trú: gồm các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao hẻo lánh,
vùng biên giới hải đảo. Khoảng cách của các xã đến các khu trục động lực
phát triển trên 20 km.
2. Cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng, hoặc còn tạm bợ. Giao thông rất
khó khăn, không có đường ô tô vào xã. Các công trình điện, thuỷ lợi, nước
sạch, trường học, bệnh xá, dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có.
18