thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất của đảng ở tỉnh vĩnh phúc tu nam 1955 den nam 1957 - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ HIỀN

THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC
TỪ NĂM 1955 ĐẾN NĂM 1957

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------

NGUYỄN THỊ HIỀN

THỰC HIỆN CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
RUỘNG ĐẤT CỦA ĐẢNG Ở TỈNH VĨNH PHÚC
TỪ NĂM 1955 ĐẾN NĂM 1957

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số: 60 22 03 15

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS LÊ THỊ QUỲNH NGA

Hà Nội – 2015

1.2.2. Phát động chiến dịch “Điện Biên Phủ”, chống phong kiến ........ 26
Tiểu kết ........................................................................................................ 29
Chương 2: CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT Ở TỈNH VĨNH PHÚC (1955 - 1956)......31
2.1. Thực hiện triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất ......... 31
2.1.1. Các đợt triệt để giảm tô, giảm tức ................................................. 31
Bảng 2.1. Thống kê tình hình chia quả thực trong giảm tô đợt 6.......... 35
2.1.2. Tiến hành cải cách ruộng đất đợt 3 và đợt 4 ................................ 38
Bảng 2.2. Thống kê tình hình dân số, bình quân ruộng đất chiếm hữu
và sử dụng của các giai cấp trước và sau cải cách ruộng đất ở xã ........ 43
Nguyệt Đức - Yên Lạc ............................................................................ 43
2.2. Kiểm tra lại cải cách ruộng đất...................................................... 44


Tiểu kết ........................................................................................................ 47
Chương 3: SAI LẦM VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN SỬA SAI (1956 - 1957)...... 48
3.1. Một số sai lầm ................................................................................. 48
3.1.1. Sai lầm trong việc phân định thành phần giai cấp, tư tưởng thành
phần chủ nghĩa ...................................................................................... 48
3.1.2. Sai lầm trong chỉnh đốn tổ chức .................................................. 51
3.1.3. Sai về phương pháp thực hiện, nặng đấu tố, nhẹ giáo dục .......... 54
3.2. Quá trình sửa chữa sai lầm ............................................................ 56
3.2.1. Chủ trương sửa sai của Trung ương Đảng .................................. 56
3.2.2. Công tác sửa sai ở Vĩnh Phúc ...................................................... 63
Tiểu kết ........................................................................................................ 73
KẾT LUẬN ................................................................................................. 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 76
PHỤ LỤC.................................................................................................... 86


DANH SÁCH BẢNG BIỂU

hơn về giai cấp địa chủ mà còn hiểu được cách thức kinh doanh hiệu quả của
họ. Phương thức này nếu áp dụng phù hợp sẽ có tác dụng lớn đối với sự phát
triển của nền kinh tế nói riêng, xã hội Việt Nam nói chung. Với lý do đó, tôi
đã chọn đề tài: “Thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng ở tỉnh
Vĩnh Phúc từ năm 1955 đến năm 1957” làm đề tài luận văn tốt nghiệp chuyên
ngành Lịch sử Đảng của mình. Trong khuôn khổ của luận văn, tôi tập trung
nghiên cứu về quá trình tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện chủ trương, đường lối của
1


Đảng, thực hiện cải cách ruộng đất (1955 - 1957), quá trình sửa sai và bước
đầu đưa ra những nhận xét, đánh giá.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Với đề tài cải cách ruộng đất, tính đến nay đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu, tổng kết và in thành sách như: Cách mạng ruộng đất ở Việt Nam
của Hoàng Ước, Lê Đức Bình, Trần Phương (Nxb Khoa học, 1968); Vấn đề
dân cày của Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp (Nxb Sự thật, 1959); Đánh giá
đúng những thắng lợi của nhiệm vụ phản phong và những sai lầm của cải
cách ruộng đất của Văn Phong (Nxb Sự thật, 1956); Vấn đề ruộng đất ở Việt
Nam của Lâm Quang Huyên (Nxb Khoa học xã hội, 2007). Có những nghiên
cứu được công bố trên tạp chí như: Cải cách ruộng đất thành quả và những sai
lầm của Văn Tạo (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2 năm 1993); Cải cách
ruộng đất với chiến thắng Điện Biên Phủ của Trương Thị Tiến (Tạp chí Lịch
sử Đảng, số 5 năm 1984), Tìm hiểu chính sách ruộng đất của Đảng Cộng sản
Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) của Lê Thị Quỳnh
Nga (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 2 năm 2007), Chủ trương của Đảng về
vấn đề ruộng đất (1945 - 1952) của Ths Lý Việt Quang (Tạp chí Lịch sử
Đảng, số 4 năm 2009), Ý nghĩa việc thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng
với chiến thắng Điện Biên Phủ” của Trương Thị Tiến và Lê Thị Quỳnh Nga
(Tạp chí Lịch sử Đảng, số 8 năm 2004),… Dựa vào thực tiễn cách mạng Việt

- Khái quát quá trình thực hiện chủ trương cải cách ruộng đất của Đảng
ở tỉnh Vĩnh Phúc (1955 - 1957) từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá xác
đáng, có giá trị về quá trình thực hiện chủ trương trên.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp và hệ thống những nguồn tài liệu có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu, phê phán phân tích theo số liệu.
- Hệ thống hóa chủ trương về cải cách ruộng đất và quá trình diễn ra ở
tỉnh Vĩnh Phúc.
3


- Rút ra một số nhận xét, đánh giá về cải cách ruộng đất tại tỉnh Vĩnh
Phúc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Chủ trương, biện pháp thực hiện cải cách ruộng đất của Đảng và quá
trình diên ra các đợt giảm tô, cải cách ruộng đất và kết quả của nó.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Hoàn cảnh lịch sử và tình hình ruộng đất ở tỉnh Vĩnh Phúc
- Nghiên cứu quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng ruộng đất trên
toàn tỉnh Vĩnh Phúc từ giảm tô, giảm tức đến cải cách ruộng đất (và sửa chữa
sai lầm) trong những năm 1955 - 1957.
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tài liệu
- Tài liệu đã công bố: Văn kiện Đảng toàn tập, Hồ Chí Minh toàn tập;
Các công trình khoa học, tạp chí, sách báo nghiên cứu về vấn đề cải cách
ruộng đất; những Nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Trung ương Đảng và Đảng
bộ tỉnh Vĩnh Phúc.
- Tài liệu lưu trữ tại: Cục lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Trung
tâm lưu trữ Quốc gia III, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Trung tâm lưu trữ Văn

nối giữa các tỉnh miền núi Việt Bắc với Thủ đô Hà Nội; nằm ở vị trí 21035’
đến 21006’ vĩ Bắc và 106019’ đến 106048’ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Thái
Nguyên và Tuyên Quang với đường ranh giới là dãy núi Tam Đảo; phía Tây
giáp tỉnh Phú Thọ; phía Nam giáp thành phố Hà Nội; phía Đông giáp hai
huyện Sóc Sơn và Đông Anh (Hà Nội). Với vị trí là cửa ngõ của thủ đô Hà
Nội - trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước, ngay từ rất sớm, nhân
dân Vĩnh Phúc đã sớm tiếp thu những ảnh hưởng tích cực của phong trào yêu
nước, kháng chiến chống xâm lược, giải phóng quê hương.
Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, từ khi vua Hùng dựng nước cho đến
nay, địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã trải qua biết bao thay đổi về địa giới hành
chính:
Thời Hùng Vương, địa bàn Vĩnh Phúc nằm trong bộ Văn Lang, trung
tâm của nước Văn Lang. Thời Thục An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc,
Vĩnh Phúc thuộc huyện Mê Linh.
Dưới thời Bắc Thuộc, Vĩnh Phúc nằm trong địa bàn quận Mê Linh, Tân
Xương, Phong Châu.
Đến thời phong kiến độc lập, đơn vị hành chính là các đạo (lộ, trấn, xứ,
tỉnh), dưới là các phủ, châu, huyện, thay thế cho chế độ quận, huyện thời
trước, vùng đất Vĩnh Phúc thuộc lộ Đông Đô, Bắc Giang và trấn Tuyên
Quang. Đầu triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, địa bàn
Vĩnh Phúc nằm trong trấn Kinh Bắc, Sơn Tây và Thái Nguyên. Năm Minh
6


Mạng thứ 12 (1831), cuộc cải cách hành chính được tiến hành đã đổi tất cả
trấn trong cả nước thành tỉnh. Lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở
nước ta. Địa bàn Vĩnh Phúc thuộc 3 tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh và Thái Nguyên.
Năm 1832, phân phủ Vĩnh Tường được thành lập kiêm lý hai huyện Yên Lạc
và Yên Lãng.
Ngày 20 tháng 10 năm 1890, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định

Vĩnh Tường, Yên Lạc. Giữa vùng rừng núi và vùng đồng bằng là vùng đồi gò
xen kẽ nhau từ đông sang tây. Trong đó, hai dãy núi quan trọng là: dãy Tam
Đảo (ngọn cao nhất 1.591 m) và dãy Sáng Sơn cao 633 m.
Vĩnh Phúc có nhiều sông lớn chảy qua: sông Lô ở phía Tây dài 37 km.
Sông Hồng chảy từ phía Tây xuống phía Nam dài 40 km. Ngoài ra, một hệ
thống các con sông nhỏ chảy từ chân núi Tam Đảo xuống vùng đồng bằng và
các đầm hồ lớn nằm ở phía Nam như: đầm Vạc, đầm Rượu, đầm Đông Mật,
đầm Rưng…
Do liền kề với thủ đô Hà Nội nên tỉnh Vĩnh Phúc là đầu mối của các
tuyến đường quan trọng như: quốc lộ số 2 Hà Nội - Hà Giang (dài hơn 50
km), 2B Vĩnh Yên đi khu nghỉ mát Tam Đảo hay các đường nội tỉnh như
đường 12, 13, 23, 40, 129… với tổng chiều dài hơn 200 km cũng tạo điều
kiện thuận lợi cho việc đi lại của nhân dân trong tỉnh.
Cư dân Vĩnh Phúc có đời sống văn hóa tinh thần khá phong phú, nhiều
tôn giáo cùng tồn tại và phát triển như: Phật giáo, Nho giáo, Công giáo. Ngoài
ra, các tín ngưỡng cổ truyền như thờ thành hoàng làng, thờ cúng tổ tiên cũng
được duy trì. Hình tượng ngôi “Đình làng” không chỉ là nơi thờ thành hoàng
làng, là nơi tế tự và hội họp, mà còn là nơi mở hội làng, nơi thể hiện tình đoàn
kết xóm làng rất mạnh mẽ.
Trước cách mạng tháng Tám, nhân dân sống chủ yếu bằng sản xuất
nông nghiệp. Từ sau ngày hòa bình lập lại, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước, cơ cấu nền kinh tế Vĩnh Phúc có sự chuyển dịch theo
hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ.
8


Dân cư Vĩnh Phúc phân bố không đều: dân số thưa thớt, chỉ tập trung ở
một số vùng có điều kiện thuận lợi. Nguyên nhân của tình trạng này một phần
là do điều kiện sinh sống khó khăn, ăn ở không hợp vệ sinh, dịch bệnh, mặt
khác do Vĩnh Phúc là nơi có nhiều căn cứ của nhiều cuộc khởi nghĩa, thực

xây dựng cơ sở lãnh đạo nhân dân chống lại âm mưu thủ đoạn của địch.
Hội nghị tỉnh ủy tháng 10 năm 1951 đã quyết định xây dựng “căn cứ du
kích” ở các huyện như Bình Xuyên, Yên Lạc, Yên Lãng, Đông Anh, Kim
Anh, bởi đây là những nơi có cơ sở mạnh, nhân dân một lòng tin theo kháng
chiến, địa hình thuận lợi, lực lượng của địch tương đối yếu, dễ bị tan rã trước
những đòn tấn công của ta. Việc xây dựng căn cứ du kích là một chiến lược
trong đường lối quân sự của Đảng. Bởi vì đây không chỉ là nơi có cơ sở vững
chắc, lực lượng vũ trang mạnh, có khả năng đánh trả những trận càn quét của
địch, mà còn có khả năng phối hợp với bộ đội địa phương đánh và tiêu diệt
địch. Từ năm 1950 trở đi, các lực lượng vũ trang phát triển mạnh và tăng
cường hoạt động, tấn công tiêu diệt các đồn bốt của địch, mở rộng vùng giải
phóng trong toàn tỉnh.
Bước sang năm 1953, trên chiến trường sau lưng địch ở đồng bằng Bắc
Bộ, phong trào chiến tranh du kích ngày càng phát triển, ta luôn giành được
ưu thế về binh lực và quyền chủ động tiến công. Sau gần 100 ngày chiến đấu
liên tục, quân dân Vĩnh Phúc đã vượt qua nhiều khó khăn gian khổ, đánh
thắng địch trên cả 3 mặt: quân sự, chính trị và kinh tế.
Ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến thắng lịch sử điểm Điện Biên Phủ đã
làm nức lòng quân dân cả nước và bạn bè khắp năm châu, đồng thời làm dao
động tinh thần binh lính địch. Nhân cơ hội đó, theo chỉ thị của Trung ương và
Liên khu ủy Việt Bắc, các cuộc tấn công địch tại Vĩnh Phúc liên tiếp diễn ra,
làm tan rã hệ thống ngụy quân, ngụy quyền, buộc địch phải đầu hàng. Theo
tinh thần của Hiệp định Giơnevơ và Hội nghị quân sự Trung Giã, từ ngày 27
tháng 7 đến ngày 8 tháng 10 năm 1954, thực dân Pháp lần lượt rút quân khỏi

10


Vĩnh Phúc. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân
Vĩnh Phúc đã giành được thắng lợi. Quê hương được hoàn toàn giải phóng.

tóm, tập trung ruộng đất trong tay. Một số đồn điền của địa chủ phong kiến
lớn không kém đồn điền của địa chủ người Pháp như: Nguyễn Hữu Cự 6.000
ha, Đỗ Đình Thông hơn 2.000 ha (Phúc Yên); Đỗ Đình Thuật 3.870 ha, Trần
Viết Soạn 2.000 ha (Vĩnh Yên)… Ngoài ra, một bộ phận địa chủ nhỏ không
đủ sức lập đồn điền nhưng cũng chiếm hữu ruộng đất của nông dân để phát
canh thu tô.
Bên cạnh đó, ruộng công và ruộng nhà chung cũng chiếm tới 29.146
mẫu; ruộng của ngoại kiều 4.909 mẫu so với tổng số ruộng đất trong toàn tỉnh
Vĩnh Phúc. Như vậy, tổng số ruộng đất do bọn thực dân Pháp, địa chủ người
Hoa, người Việt và ruộng công, ruộng nhà chung đã lên đến 70% diện tích
ruộng đất toàn tỉnh.
Hình thức bóc lột của địa chủ trong các đồn điền chủ yếu là địa tô và
nhân công. Tá điền được địa chủ giao trâu và giao ruộng để cày cấy, đến vụ
thu hoạch tá điền phải trả công trâu và nộp địa tô. Có nhiều loại tô khác nhau
như: tô rẽ, tô đóng, tô đồng loạt, tô nhân công, tô phụ… Lấy đồn điền của địa
chủ Phan Khánh ở Đa Phúc làm ví dụ: ngoài khoản tô rẽ, tô đóng theo quy
định, mỗi tá điền phải nộp tô khống (ruộng có 6 mẫu nhưng bắt gánh tô của 7
mẫu), mỗi năm phải đi làm không công cho địa chủ 39 ngày công, đến ngày
giỗ, tết hàng năm, tá điền phải góp tiền mua lễ, biếu các sản phẩm như ngô,
khoai, chuối, đậu…[5]. Ngoài các loại tô như trên, địa chủ còn bóc lột tá điền
bằng cách cho vay nặng lãi - một hình thức bóc lột mới của địa chủ từ khi lệ
thuộc vào Pháp và được thực dân Pháp dung dưỡng.
Ruộng đất của nông dân
Nông dân lao động chiếm trên 90% dân số nhưng chỉ có 30% diện tích
canh tác. Bị mất ruộng đất, bần cùng hóa người nông dân chỉ còn con đường
đi làm tá điền cho địa chủ, hoặc bỏ làng đi làm phu trong các hầm mỏ, đồn
12


điền cao su Nam Kỳ. Bình quân mỗi nhân khẩu có 4 sào 01 thước ruộng đất, 309

Như vậy, trước năm 1945, trong bức tranh về tình hình ruộng đất ở
Vĩnh Phúc nổi bật lên là hình ảnh người nông dân không có ruộng đất canh
tác, phải nhận ruộng của giai cấp địa chủ cày cấy nộp tô, thuế. Giai cấp địa
chủ chủ yếu là sở hữu nhỏ, vừa thuê ruộng đất của thực dân Pháp để duy trì
ách áp bức bóc lột đối với người nông dân, vừa phải tìm cách kinh doanh trên
chính những mảnh đất bằng hình thức cho vay nặng lãi để tiếp tục duy trì sự
thống trị của mình. Hình thức bóc lột địa tô không còn nguyên vẹn là địa tô
của chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, mà thay vào đó là phương thức
bóc lột theo lối địa tô thực dân - cho vay nặng lãi. Chính hình thức bóc lột này
đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình “bần cùng hóa” của người nông dân lao
động trong xã hội. Sự thay đổi về phương thức bóc lột cùng với việc lệ thuộc
chặt chẽ vào thực dân Pháp của giai cấp địa chủ lúc bấy giờ làm thay đổi đối
tượng của cách mạng: là đế quốc thực dân Pháp xâm lược. Cuộc cách mạng
dân tộc dân chủ mà nhân dân đang tiến hành cần tập trung vào đối tượng duy
nhất là ách xâm lược của thực dân Pháp, lật nhào được sự thống trị ấy thì ách
áp bức bóc lột địa tô không còn nhiều cơ sở để tồn tại.
1.1.2. Cải cách từng phần và thành quả ở Vĩnh Phúc trước năm 1953
Chủ trương cải cách từng phần (1945 - 1952)
Ngay sau khi thành lập, chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới khai
sinh đã phải đối mặt với nạn thù trong, giặc ngoài: miền Bắc, khoảng 20 vạn
quân Tưởng Giới Thạch, gồm 4 đoàn quân do tướng Lư Hán làm tổng chỉ
huy, lũ lượt kéo vào đóng ở Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã từ biên
giới Việt - Trung đến vĩ tuyến 16, với ý đồ tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông
Dương, tạo điều kiện cho lực lượng tay sai lên nắm chính quyền. Tại miền
Nam, tình hình còn phức tạp hơn khi quân đội Anh với danh nghĩa giải giáp
quân Nhật đồng lõa, giúp cho thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta lần
thứ hai ngày 23 tháng 9 năm 1945. Trong khi đó lực lượng về mọi mặt của
nước ta chưa kịp củng cố và phát triển. Mọi ngành kinh tế ngừng trệ, bế tắc.
14




Đảng trong điều kiện của cuộc kháng chiến nhằm phát triển sản xuất nông
nghiệp, đảm bảo vai trò “hậu phương” cho cuộc kháng chiến.
Cùng với những chính sách về ruộng đất đối với dân cày, cách thức sử
dụng ruộng đất tịch thu của thực dân Pháp và Việt gian cũng được xác định cụ
thể hơn trong Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ IV (5 - 1948). Đó là:
1- Tịch thu ruộng đất và tài sản của Việt gian (đưa ra tòa tuyên án rõ
ràng). Ruộng đất thì UBKCHC thu cho dân cày cấy, còn tài sản thì tùy trường
hợp cấp cho dân cày hoặc UBKCHC thu sử dụng (việc chia ruộng đất cho dân
cày phải lên kế hoạch đầy đủ). 2- Những ruộng đất của Việt gian bị giết hồi
khởi nghĩa mà hiện các đoàn thể sử dụng thì phải giao lại cho bên Chính
quyền (những ruộng đất này phải hợp pháp hóa). Chú ý: Khi tịch thu thì chỉ
tịch thu của những người có tội. 3- Chính phủ tạm thời quản lý các đồn điền
của Pháp. 4- Những ruộng đất mà trước đây các điền chủ Pháp cướp của dân
mà có bằng cớ rõ ràng thì trả lại cho dân [45, tr. 100-101].
Những chính sách trên của Trung ương Đảng nhằm tập trung đánh vào
việc sở hữu ruộng đất của bọn đế quốc, tư bản Pháp và bọn Việt gian phản
quốc. Chính sách này không chỉ mang lại lợi ích cho dân cày mà còn có tác
dụng phân hóa giai cấp địa chủ phong kiến theo hướng có lợi cho cách mạng,
đảm bảo khối đại đoàn kết dân tộc. Việc bãi bỏ những luật lệ, tô thuế vô lý
như chế độ quá điền, địa tô phụ…, hoàn thiện dần các chính sách giảm tô,
giảm tức và chia lại ruộng đất khiến cho nông dân ngày càng tin tưởng vào
đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, yên tâm sản xuất.
Đầu tháng 8 năm 1948, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị cán bộ lần
thứ V. Hội nghị đánh dấu một bước tiến mới trong việc định ra nhiệm vụ
phản phong và tiếp tục xác định những vấn đề cơ bản của chính sách ruộng
đất trong thời kỳ kháng chiến. Hội nghị khẳng định: “Muốn xóa bỏ những tàn
tích phong kiến, phát triển nông nghiệp, phải cải cách ruộng đất”. Nhưng do
đặc điểm của cách mạng nước ta, thái độ của giai cấp địa chủ trong cách

lâu ngày không được canh tác.
17


Ngày 14 - 7 - 1949, trước yêu cầu bồi dưỡng sức dân để đẩy mạnh
kháng chiến, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 78/SL quy định giảm tô, thay
thế cho thông tư giảm tô của Bộ Nội vụ năm 1945. Sắc lệnh này quy định rõ
là phải giảm 25% so với mức địa tô trước ngày cách mạng tháng Tám, xóa bỏ
các loại địa tô phụ, thủ tiêu chế độ quá điền và lập lại Hội đồng giảm tô ở các
cấp tỉnh để xét xử việc tranh kiện giảm tô.
Tiếp theo, ngày 22 - 5 - 1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 88/SL
quy định thể lệ lĩnh canh. Sắc lệnh này đảm bảo quyền lĩnh canh của tá điền,
cấm chủ ruộng vô cớ đòi lại ruộng đất. Thông tư số 4TT/LB ngày 06 - 06 1950 cũng quy định rõ về những điểm chính trong việc lĩnh canh tối thiểu là 3
năm và quy định việc đổi ruộng của chủ điền.
Ngày 22 - 5 - 1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh số 90/SL về quyền
lợi khi sử dụng ruộng đất bỏ hoang. Sắc lệnh này ấn định trưng thu tất cả
các loại ruộng đất có chủ mà bỏ hoang, đem cấp cho nông dân nghèo cày
cấy trong vòng 10 năm và được hưởng hoàn toàn hoa lợi, miễn thuế trong
vòng 3 năm.
Tháng 10 - 1950, Chính phủ ra Sắc lệnh giảm lãi suất vay, xóa nợ, hoãn
nợ cho nông dân. Sắc lệnh này quy định xóa các món nợ mà nông dân vay
trước ngày Cách mạng tháng Tám, nợ cũ tính đến ngày ban hành Sắc lệnh
ngày 22 - 5 - 1950 đã trả lãi gấp đôi số vốn nếu lãi đã trả rồi thì nay chỉ trả
vốn, giảm mức lãi của các món nợ vay từ trước ngày ra Sắc lệnh này xuống
dưới tối đa 18% nếu là vay tiền và 20% nếu là vay thóc cho nông dân.
Nhằm động viên tinh thần sản xuất của nông dân, ngày 01 - 05 - 1951,
Chính phủ ban hành một loại thuế gọi là thuế nông nghiệp, thay thế cho các
thứ đóng góp cũ như thuế điền thổ, thuế công lương đồng thời cải cách chế độ
đảm phụ, bãi bỏ việc mua thóc theo định giá và đặt ra thuế nông nghiệp thu
bằng thóc, thống nhất và đơn giản chế độ phụ đảm cho dân, thực hiện đóng

dung, như triệt để giảm tô; thực hiện giảm tức; cấp công điền, công thổ; chia

19


Trích đoạn Sai lầm trong chỉnh đốn tổ chức Sai về phương pháp thực hiện, nặng đấu tố, nhẹ giáo dục Chủ trương sửa sai của Trung ương Đảng Công tác sửa sai ở Vĩnh Phúc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status