Dån ®iÒn, ®æi thöa ®Êt n«ng nghiÖp
ë tØnh vÜnh phóc hiÖn nay
Hµ Néi - 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỒN ĐIỀN, ĐỔI
THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp đối với quá trình
sản xuất. 9
1.2 Sự cần thiết phải dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở Việt Nam
nói chung và ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng. 18
1.3 Cơ sở lý luận và vai trò của dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp. 29
Chương 2: THỰC TRẠNG DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG
NGHIỆP Ở VĨNH PHÚC NHỮNG NĂM QUA
35
2.1. Đặc điểm tự nhiên; kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc 35
2.2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp và kết quả sản xuất nông
nghiệp ở Vĩnh Phúc những năm qua 43
2.3. Những chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước và một số kết quả
thực hiện dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp trong thời gian qua 56
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT
VIỆC DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở
VĨNH PHÚC
74
3.1. Những quan điểm cơ bản 74
3.2. Yêu cầu cần đạt được của việc dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp 78
3.3. Những giải pháp chính để dồn điền, đổi thửa đất nông nghiệp ở
Bảng 2.6: Tổng hợp diện, tích cơ cấu loại các đất trên địa bàn Vĩnh
Phúc 46
Bảng 2.7: Thống kê biến động đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
1998 2008 47
Bảng 2.8: Tổng hợp phân bố đất sản xuất nông nghiệp các huyện, thị
trong tỉnh Vĩnh Phúc 48
Bảng 2.9: Giá trị sản xuất nội ngành nông nghiệp theo giá thực tế qua
các năm ở tỉnh Vĩnh Phúc 49
Bảng 2.10: Cơ cấu giả trị sản xuất nội ngành nông nghiệp theo giá thực
tế qua các năm 49
Bảng 2.11: Tốc độ phát triển nội ngành nông nghiệp qua các năm 50
Bảng 2.12: Tổng hợp diện tích gieo trồng hàng năm từ 2004-2008 51
Bảng 2.13: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa một số năm từ khi tái
lập tỉnh 51
Bảng 2.14: Diện tích, năng suất, sản lượng ngô một số năm từ khi tái
lập tỉnh 52
Bảng 2.15: Số lượng gia súc, gia cầm toàn tỉnh qua các năm 53
Bảng 2.16: Sản lượng sản phẩm chăn nuôi cung cấp cho thị trường 53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản, là nguồn lực vô cùng quý giá của mỗi quốc gia.
Trong sản xuất đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không có gì thay thế được.
Trong đời sống xã hội đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi
trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế,
văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.
Đất đai vô cùng quý giá nhưng không phải là vô tận, bởi trái đất của
chúng ta rất lớn nhưng cũng chỉ là hữu hạn. Lãnh thổ - đất đai của mọi quốc
gia cũng chỉ là hữu hạn. Vì đất đai chỉ là hữu hạn cho nên điều quan trọng
nhất là con người sử dụng tài sản nguồn lực này sao cho khoa học, hợp lý
mang lại hiệu quả tốt nhất phục vụ cho chính con người, nhưng vẫn phải bảo
được giao đến hộ gia đình, năng suất và sản lượng các loại cây trồng hàng
năm của tỉnh Vĩnh Phúc tăng liên tục. Theo số liệu của Cục Thống kê Vĩnh
Phúc cho thấy: “Sản lượng lương thực của tỉnh năm 1992 khi chưa thực hiện
Nghị định 64/CP đạt 288.942 tấn, nhưng chỉ sau một năm giao ruộng đến hộ
thì sản lượng lương thực của tỉnh năm 1994 đã đạt 294.472 tấn, năm 1995 đạt
329.782 tấn, tăng 40.840 tấn so với năm 1992” [9, tr.99]. Bên cạnh đó cơ sở
hạ tầng, kinh tế khu vực nông thôn dần được hoàn thiện, bộ mặt nông thôn
từng bước được đổi mới, đời sống của nhân dân ngày càng ổn định và được
cải thiện. Có được những thành tựu đó là nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng
và Nhà nước trong việc giao đất sản xuất đến hộ gia đình cá nhân ổn định lâu
dài và chủ trương này đã được thực tiễn kiểm nghiệm và đi vào cuộc sống
một cách thiết thực.
Vì vậy có thể khẳng định đường lối chính sách đổi mới của Đảng và
Nhà nước trong việc giao đất SXNN đến hộ gia đình, cá nhân là hết sức phù
hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam từ năm 1993 nói chung, cũng như tỉnh
Vĩnh Phúc nói riêng.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đổi mới và phát triển thì việc giao
đất cho hộ nông dân theo tinh thần Nghị định 64/NĐ- CP của Chính phủ trên
cả nước cũng như địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế,
bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu của tiến trình CNH, HĐH đất nước nói
chung và NN, nông thôn nói riêng.
Thực tế hiện nay ruộng đất còn quá manh mún, nhỏ lẻ, phân tán tồn tại
đã khá lâu. Nguyên nhân chính là do trước đây nhận thức của việc chia ruộng
mang hình thức cào bằng. Hộ nông dân có ruộng được chia ở nhiều xứ đồng,
hộ nào cũng có ruộng theo kiểu có tốt - có xấu, có gần - có xa, có cao - có
thấp, dẫn đến việc canh tác trong mỗi hộ và từng địa bàn bị phân tán, khó áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khó thực hiện cơ giới hoá vào sản xuất. Hơn
nữa do ruộng đất manh mún, nông dân vẫn còn tư tưởng tiểu nông, sản xuất
mang tính tự do, thiếu sự gắn kết với nhau trong quá trình sản xuất nên sản
phẩm sản xuất ra không trở thành hàng hoá, chất lượng kém, số lượng không
nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này như:
- Nguyễn Xuân Nguyên (1995), Khuynh hướng phân hoá hộ nông dân
trong phát triển hàng hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Bích và Chu Tiến Quang (1996), Chính sách kinh tế và
vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Vũ Oanh (1998), Nông nghiệp, nông thôn trên con đường công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam (1998), Phát triển nông thôn theo
hướng CNH- HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Hồng Vinh (chủ biên), (1998), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp nông thôn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
- Phương Thị Tiến (1999), Đổi mới Quản lý kinh tế Nông nghiệp ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- PGS,TS Nguyễn Đình Kháng - TS Nguyễn Văn Phúc (2000), Một số
vấn đề lý luận của Các Mác và Lênin về địa tô ruộng đất, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội.
- Trần Tú Cường (2006), Tăng cường vai trò quản lý đất đai của Nhà
nước trong quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hà Nội, Luận án Tiến sỹ kinh
tế, Trường Đại học KTQD Hà Nội.
- PGS, TS Nguyễn Đình Kháng (2008), Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục
hoàn thiện chính sách đất đai ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội.
- GS, TS Phùng Hữu Phú - Tiến sỹ Nguyễn Viết Thông - Tiến sỹ Bùi
Văn Hưng (2008), Vấn đề nông nghiệp - nông dân- nông thôn- kinh nghiệm
Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Các công trình nêu trên nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về đất
đai, quản lý đất đai, xu hướng biến động của các quan hệ ruộng đất trong kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các chính sách về ruộng đất và
quyền lợi của người dân…Đồng thời các công trình nêu trên cũng đề xuất
hàng hoá phù hợp với tập quán, truyền thống canh tác, đất đai và lợi thế của
từng địa bàn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng
Đề tài hướng vào việc nghiên cứu việc giao đất, sử dụng các loại quỹ
đất SXNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ cấu phân bố đất đai, xu thế vận động biến đổi của
quỹ đất SXNN sau khi đã giao đất theo Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ
từ 15.10.1993 đến nay và sự cần thiết phải DĐ, ĐT ruộng đất.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm đường lối chủ trương của
Đảng, Nhà nước, các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, văn bản
pháp luật đất đai, các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị quyết
của Tỉnh uỷ, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ và các chính sách giải pháp của HĐND
- UBND tỉnh, ngành Tài nguyên & Môi trường, ngành Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc.
Đồng thời luận văn có sự tham khảo, lựa chọn, kế thừa kết quả nghiên
cứu của các công trình khoa học đã công bố, các bài viết trên tạp chí, báo, tài
liệu có liên quan của các tác giả, các nhà khoa học.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp nghiên cứu cơ bản của
kinh tế chính trị. Đồng thời sử dụng phương pháp so sánh, thống kê, phân
tích, một số số liệu và bảng tổng hợp số liệu để minh hoạ.
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Hệ thống hoá và luận giải sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn, sự
cần thiết của việc DĐ, ĐT đất nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông
doanh. Trong SXNN thì đất đai còn là môi trường sống của cây trồng, vật
nuôi, đặc biệt hơn trong SXNN đất đai còn là TLSX không gì thay thế được,
đồng thời đất đai còn là đối tượng của lao động. Và ngày nay trong nền kinh
tế thị trường thì đất đai được xem như một yếu tố quan trọng của lực lượng
sản xuất. Còn đối với con người, thì đất đai không chỉ là nơi sinh tồn mà còn
là nơi diễn ra mọi hoạt động của các cộng đồng dân cư.
Theo Luật Đất đai 1993 được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp
thứ 3 ngày 14.7.1993 đã ghi rõ:
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh
tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ,
nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ
được vốn đất đai như ngày nay [28, tr.7].
Theo Điều 11 Luật đất đai năm 1993 quy định: Căn cứ vào mục đích sử
dụng chủ yếu, đất đai được phân thành các loại như sau:
- Đất nông nghiệp;
- Đất lâm nghiệp;
- Đất khu dân cư nông thôn;
- Đất đô thị;
- Đất chuyên dùng;
- Đất chưa sử dụng [28, tr.11-12].
Và theo Điều 42 của Luật Đất đai năm 1993 quy định:
“Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu
thí nghiệm về nông nghiệp” [28, tr.30].
Như vậy theo Luật Đất đai thì đất NN là đất chủ yếu dùng để SXNN
như trồng trọt và chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. Trên thực tế, lịch sử phát
sinh và phát triển của xã hội loài người thì từ buổi sơ khai loài người sinh tồn
được chủ yếu dựa vào săn bắn, hái lượm. Sau này dần dần con người trên trái
khổ con người đã cải tạo, chinh phục tự nhiên như quai đê, lấn biển, xây dựng
các công trình thuỷ lợi tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn, bồi bổ đất đai…Đất đai
ngày càng trở lên màu mỡ và trở thành môi trường sống ngày càng phù hợp
đối với con người và các loài sinh vật. Không những thế ở nhiều quốc gia trên
thế giới và cả Việt Nam con người đã từng phải hy sinh rất nhiều xương, máu,
trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm để bảo vệ từng tấc đất
của tổ quốc. Vì vậy có thể nói đây là đặc điểm chung nhất, bao trùm nhất của
đất đai nói chung và đất NN nói riêng.
Thứ hai: Đất NN không đồng nhất về mặt chất lượng
Đất NN được phân bổ ở nhiều nơi, nhiều vùng khác nhau về vị trí địa
lý, về khí hậu, và các điều kiện tự nhiên khác như chất đất, độ dày tầng canh
tác, độ dốc, tính chất lý, hoá… Vì vậy người ta phân ra các vùng đất ôn đới,
nhiệt đới, cao nguyên, đồng bằng, đất trũng, đất bạc màu, đất bazan, đất khô
cằn, đất chua phèn, nhiễm mặn, đất ngập nước, đất phù sa, đất bãi bồi, đất
ruộng, đất ruộng bậc thang, v.v…Việc không đồng nhất về mặt chất lượng, vị
trí khác nhau, điều kiện tự nhiên khác nhau, hạ tầng khác nhau là một trong
những nguyên nhân chính hình thành địa tô chênh lệch I. Xuất phát từ đặc
điểm này các quốc gia đã lấy đó làm cơ sở cho việc hoạch định chiến lược,
đưa ra các chủ trương giải pháp, chính sách khai thác và sử dụng đất đai sao
cho phù hợp với mỗi quốc gia, mỗi địa phương, mỗi vùng khác nhau. Điều đó
cũng giúp cho con người khai thác có hiệu quả hơn đất sản xuất NN và đó
cũng chính là biện pháp tác động để rút ngắn khoảng cách địa tô chênh lệch I
giữa các dạng đất SXNN khác nhau.
Thứ ba: Đất NN chỉ là hữu hạn, có vị trí cố định và phụ thuộc vào điều
kiện tự nhiên của từng vùng.
Như chúng ta đã biết trái đất của chúng ta vô cùng to lớn nhưng cũng
chỉ là hữu hạn so với vũ trụ. Vì vậy đất NN trên thế giới hiện nay của mỗi
quốc gia cũng chỉ là hữu hạn, bởi lãnh thổ của mỗi quốc gia chỉ là hữu hạn.
Ở đặc điểm thứ nhất đã nêu trên đây, đất NN là sản phẩm của tự nhiên.
Do đó nó tồn tại khách quan, con người chỉ có thể cải tạo khai thác nó phục
ngành khác được tạo ra ngày càng nhiều, và còn có thể thay thế được trong
quá trình sản xuất. Nhưng đất SXNN là sản phẩm của tự nhiên không tự tạo ra
được và không thay thế được trong quá trình sản xuất. Khi sử dụng, đất sản
xuất có thể còn được cải tạo, bồi bổ để đất đai được tốt hơn, ở những chu kỳ
sản xuất sau làm tăng thêm hiệu quả. Bên cạnh đó cũng có thể xẩy ra tình
trạng chủ sử dụng đất chỉ biết khai thác vắt kiệt đất đai làm cho đất đai ngày
càng bị cằn cỗi và nghèo đi. Do đó ứng xử với đất đai trong quá trình sản xuất
chúng ta cần phải tôn trọng các quy luật tự nhiên, biết tiết kiệm, giữ gìn, bồi
bổ đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất, khai thác tốt và nâng cao hiệu quả
tiềm năng đất đai.
Điểm đặc biệt nữa của đất NN không giống các TLSX khác là sau thời
gian sử dụng sẽ bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Còn đất NN sau
một thời gian hay một chu kỳ sản xuất nếu được sử dụng khoa học hợp lý,
được tiếp tục bồi bổ thì đất đai không những còn nguyên mà độ phì nhiêu
mầu mỡ của nó được tăng lên, theo đó sức sản xuất của nó cũng được nhân
lên.
Đất NN là TLSX không thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác
như các TLSX khác, mà nó chỉ được sử dụng, khai thác ở vị trí cố định và quá
trình sử dụng còn có sự gắn kết với môi trường tự nhiên khác như nước,
không khí, ánh nắng…
Chính những đặc điểm nêu trên của đất NN đòi hỏi người sử dụng đất
phải có những chính sách, chiến lược khai thác, sử dụng đất NN “Tư liệu sản
xuất đặc biệt” làm sao cho sức sản xuất của nó không ngừng được tăng cao.
Nhờ nắm bắt được quy luật khách quan và nhận thức được sự đặc biệt
của TLSX đất NN mà Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương đúng đắn
tiêu biểu như: Chỉ thị 100 của Ban Bí thư ngày 13.01.1981 về cải tiến công
tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX NN (gọi tắt là
Khoán 100); Nghị quyết 10 - NQ/TW ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị (gọi tắt
là Khoán 10), Nghị định 64 -NĐ/CP ngày 27.9.1993 của Chính phủ về việc
giao đất SXNN ổn định, lâu dài đến hộ nông dân, cấp giấy chứng nhận quyền
thiên nhiên ban tặng mà phải lao động sản xuất ra của cải vật chất là lương
thực thực phẩm để nuôi sống con người và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của xã hội. Và nơi duy nhất để sản xuất ra của cải vật chất chính là đất NN.
Lịch sử phát triển nền sản xuất xã hội đến nay đã trải qua các thời kỳ
khác nhau từ kinh tế tự nhiên, tự túc tự cấp chuyển sang kinh tế hàng hoá,
từ sản xuất hàng hoá nhỏ lên sản xuất hàng hoá có quy mô lớn và hiện đại,
tất thảy trong sản xuất NN thì bao giờ đất đai cũng đóng vai trò cực kỳ
quan trọng. Xã hội càng phát triển thì vai trò của đó của đất NN cũng phát
triển theo.
+ Đất NN là môi trường sống, môi trường không gian để SXNN.
SXNN có đặc thù là sản xuất ở ngoài trời, phải tiếp xúc với tự nhiên.
Cây phải sống trên đất, quang hợp nhờ ánh nắng mặt trời, hút nước từ trong
đất, cá phải sống dưới nước sông, hồ, biển; gia súc, gia cầm phải có chuồng
trại, có bãi chăn thả; con vật nuôi phải có thức ăn, mà thức ăn lại chính là các
động thực vật được sản xuất từ trong NN. Tất cả những yếu tố đó chính là
môi trường sống, là không gian để sản xuất. Muốn sản xuất phát triển thì
chúng ta phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường, không vi phạm các quy luật tự
nhiên, không chỉ biết khai thác đất đai mà còn phải biết bồi bổ đất đai, tạo lập
môi trường sống tốt nhất cho cây trồng vật nuôi.
+ Đất NN là TLSX chủ yếu để sản xuất hàng hoá.
Như đã nêu trong phần đặc điểm của đất NN, khi tham gia vào quá
trình sản xuất, đất NN vừa là TLSX đặc biệt vừa là đối tượng lao động. Để
SXNN theo hướng hàng hoá đối với bất kỳ nông sản nào trước hết phải có
diện tích đất NN đủ lớn, kết hợp với các yếu tố khác như lao động, công cụ
lao động, KHKT, chất lượng giống, phân công lao động theo từng chuyên
khâu v.v…thì mới có điều kiện tạo ra khối lượng nông phẩm hàng hoá lớn
đáp ứng nhu cầu thị trường. Ngoài những điều kiện như đã nêu, sản xuất hàng
hoá trong NN còn có thể khai thác yếu tố lợi thế về đặc thù riêng có của
những vùng đất như: Vải thiều có năng suất và chất lượng tốt thuộc vùng Lục
Ngạn, Bắc Giang; Thanh Hà, Hải Dương, bưởi Năm Roi ở miền Tây Nam bộ;
cho thuê, thuê lại, thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo
lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất”; Điều 113 Mục 7 quy định: “Thế
chấp, bảo lãnh, bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt
động tại Việt Nam, tại các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất
kinh doanh” [30, tr.120-121, 130].
Đối với Luật Đầu tư số 59/2005/QH tại Điều 3 Mục 1 có nêu: “Đầu tư
là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình
thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này và
các quy định khác của pháp luật có liên quan” và Mục 7 có nêu: “ Vốn đầu
tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư
theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp”[31, tr.2].
Như vậy có thể nói đất SXNN có đầy đủ các yếu tố thuận lợi để tham gia vào
thị trường bất động sản, thị trường vốn trong quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trên thực tế đã có rất nhiều mô hình hoạt động sản xuất kinh doanh
trong NN rất đa dạng và phong phú như:
- Người nông dân góp cổ phần trong doanh nghiệp NN bằng quỹ đất và
tham gia lao động ngay tại doanh nghiệp NN đó;
- Cá nhân hoặc tổ chức có đất NN do thiếu vốn sản xuất có thể thế chấp
quyền sử dụng đất tại các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng nhân dân
để vay vốn sản xuất;
- Hộ nông dân có đất SXNN nhưng do thiếu kinh nghiệm, thiếu lao
động thì dùng quỹ đất liên doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác
không có đất hoặc thiếu đất để sản xuất…
Như vậy trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển và hội nhập
ngày càng sâu rộng như hiện nay thì vai trò của đất NN là phương tiện góp
vốn, thế chấp, huy động vốn, liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh
được nhà nước khuyến khích và có đầy đủ cơ sở pháp lý thuận lợi giúp các hộ
nông dân khai thác và sử dụng quỹ đất sản xuất một cách linh hoạt nhằm
mang lại hiệu quả kinh tế cho nông dân.
1.2. SỰ CẦN THIẾT PHẢI DỒN ĐIỀN, ĐỔI THỬA ĐẤT NÔNG NGHIỆP
lý đất đai của Việt Nam chịu sự chi phối của hoàn cảnh này. Ở miền Bắc,
quản lý đất đai dựa trên quan điểm đảm bảo quyền lợi của giai cấp công nhân
và nhân dân lao động. Ở miền Nam quản lý đất đai lại nằm trong tay chế độ
miền Nam cộng hoà.
Bởi tính chất đặc thù của giai đoạn này như vậy nên luận văn chỉ đề cập
một cách khái quát công tác quản lý đất đai ở miền Bắc.
Những năm đầu sau 1954, chính sách đất đai của nước ta chủ yếu tập
trung giải quyết nhiệm vụ “người cày có ruộng”. Các văn bản được ban hành
nhằm mục đích nhanh chóng động viên toàn xã hội hàn gắn vết thương chiến
tranh, phát triển sản xuất nâng cao đời sống nông dân.
Trong điều kiện đất nước còn chiến tranh, giai đoạn này, quản lý đất
đai tập trung vào thống kê ruộng đất, kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng đất
làm cơ sở cho công tác quản lý đất đai dần dần đi vào nề nếp. Đặc biệt văn
bản về Hợp tác hoá NN đã có tác động mạnh mẽ trong việc chuyển sở hữu đất
NN từ tư nhân, nhỏ lẻ của người lao động, sang sở hữu tập thể thông qua các
quan hệ trong mô hình HTX NN, từ HTX bậc thấp cho đến HTX NN bậc cao.
Mô hình quản lý và sử dụng ruộng đất chủ yếu được thông qua HTX NN dưới
hình thức sở hữu tập thể. Hình thức quản lý và sử dụng đất đai giai đoạn này
như vậy là phù hợp, điều đó đã góp phần rất quan trọng cho việc huy động
“Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. “Tất cả cho tiền
tuyến” “Tất cả vì miền Nam ruột thịt” vì sự nghiệp giải phóng miền Nam
thống nhất đất nước.
Giai đoạn hợp tác hoá trước năm 1975 quản lý và quan hệ đất đai theo
sở hữu tập thể là phù hợp với điều kiện đất nước còn chiến tranh. Từ sau năm
1975 đất nước được thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH, lẽ ra chúng
ta không nên duy trì, áp dụng kiểu quản lý và sử dụng đất đai như thời kỳ đất
nước còn chiến tranh. Nhưng trong thời gian khá dài chúng ta vẫn duy trì hình
thức sở hữu tập thể về ruộng đất là chính, bên cạnh đó về mặt nhận thức