xây dựng trạm xử lý nước cấp cho khu công nghiệp - Pdf 33

LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương I
:
Giới thiệu chung
LỜI MỞ ĐẦU
Nước, đó là thứ không thể thiếu được đối với đời sống con người trong sinh hoạt
hàng ngày cũng như trong lao động và sản xuất. Con người sẽ không thể sống, tồn tại và
phát triển tới ngày nay nếu thiếu nước. Nước có mặt ở khắp mọi nơi, từ đồng bằng cho
tới miền núi và được dùng trong mọi ngành, mọi lónh vực từ ăn uống sinh hoạt cho tới sản
xuất. Từ xa xưa con người đã biết sử dụng trực tiếp nguồn nước mặt để ăn uống, sinh
hoạt và sản xuất nhưng ngày nay dưới sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp hoá-
hiện đại hoá, các ngành công nghiệp các trung tâm thương mại phát triển càng nhiều sản
xuất nhiều sản phẩm phục vụ cho cuộc sông hàng ngày của con người ngày càng đầy đủ
hơn và phong phú hơn, bên cạnh đó cũng thải ra không ít những chất thải làm cho môi
trường chúng ta ngày một ô nhiễm, nguồn nước mặt không thể sử dụng trực tiếp như xưa
mà phải cần thiết qua xử lý.
Riêng khu công nghiệp Trảng Bàng – Tây Ninh, thành lập và hoạt động đã 4 năm
nay nhưng vấn đề nước sạch đang là vấn đề bức xúc hiện nay cho các doanh nghiệp.
Hiện các doanh nghiệp phải bơm trực tiếp nước giếng khoan bơm lên mà không qua xử
lý nên chất lượng nguồn nước chưa được đảm bảo cho sản xuất. Do đó việc thiết kế một
trạm xử lý nước cấp cho khu công nghiệp là việc hết sức cần thiết.
Vì lý do đó nên em đã chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu của luận
văn là áp dụng những kiến thức đã học ở trường để đề xuất xây dựng trạm xử lý nước
cấp cho khu công nghiệp. Với yêu cầu cung cấp nhu cầu nước sạch cho khu công nghiệp,
bài luận văn này có những nội dung chính sau đây:
- Tổng quan về nguồn nước cấp, lựa chọn nguồn nước
- Các phương pháp xử lý nước mặt
- Đề xuất quy trình công nghệ xử lý nước cấp
- Tính toán thiết kế trạm xử lý

công nghiệp Trảng Bàng - Tây Ninh sẽ đem lại nhiều lợi ích cho Khu
vực phía Nam nói riêng và trong cả nước nói chung
Các nghành nghề kinh doanh chủ yếu là công nghiệp nhẹ, công
nghiệp sản xuất đồ gia dụng gồm sản xuất vỏ ruột xe, nhựa tái chế,
túi sách, may mặc, sản xuất đồ gia dụng từ mây tre, gỗ, nhựa cơ khí,
giặt quần áo, dệt nhuộm, ...
-2-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương II: Các biện pháp xử lý nước cấp
CHƯƠNG II
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NƯỚC CẤP
2.1. Mục đích củc các quá trình xử lý nước
Mục đích của quá trình xử lý nước là :
1. Cung cấp số lượng nước đầy đủ và an toàn về mặt hoá học, vi
trùng học để thoả mãn các nhu cầu về ăn uống sinh hoạt, dòch
vụ, sản xuất công nghiệp và phục vụ sinh hoạt công cộng của các
đối tượng dùng nước.
2. Cung cấp nước có chất lượng tốt, ngon, không chứa các chất gây
vẩn đục, gây ra màu, mùi, vò của nước.
3. Cung cấp nước có đủ thành phần khoáng chất cần thiết cho việc
bảo vệ sức khoẻ của người tiêu dùng.
4. Để thoả mãn các yêu cầu nêu trong các điểm trên thì nước sau
khi xử lý phải có các chỉ tiêu chất lượng thoả mãn (tiêu chuẫn vệ
sinh đối với chất lượng nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt).
2.2. Các biện pháp xử lý nước cơ bản:

Trong quá trình xử lý nứơc cấp, cần phải áp dụng các biện pháp xử lý
sau:

và dính bám vào các hạt bông cặn trong qúa trình lắng
Có 3 loại cặn cơ bản thường gặp với quá trình lắng trong xử lý
nước như sau:
1. Lắng các hạt cặn phân tán riêng rẽ, trong quá trình lắng hạt cặn
không thay đổi hình dáng, độ lớn, tỷ trọng, trong xử lý nứơc thiên
nhiên thường là cặn không pha phèn và công trình lắng thường
gọi là lắng sơ bộ để giảm độ đục của nước nguồn
2. Lắng các hạt cặn .dạng keo phân tán, trong xử lý nước thiên
nhiên gọi là lắng cặn đã được pha phèn. Trong quá trình lắng các
hạt cặn có khả năng gắn kết với nhau thành các bông cặn lớn, và
ngược lại các bông cặn lớn có thể bò vỡ ra thành các mảnh nhỏ
hơn nên trong khi lắng các bông cặn thường bò thay đổi kích
thước, hình dạng và tỷ trọng
-4-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương II: Các biện pháp xử lý nước cấp
3. Lắng các hạt cặn đã đánh phèn có khả năng dính kết với
nhau như loại cặn nêu trong điểm 2 nhưng với nồng độ lớn, thường lớn
hơn 1.000mg/l, với nồng độ cặn lớn do tuần hoàn lại cặn, do tạo ra lớp
cặn lơ lửng trong bể lắng, trong bông cặn này tạo thành đám mây cặn
liên kết với nhau để giữ lại các hạt cặn bé phân tán trong nước.
Trong thực tế xử lý nước thường phải lắng cặn loại 2 và loại 3.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình keo tụ là:
 Kích thước, hình dáng và tỷ trọng của bông cặn
 Độ nhớt và nhiệt độ của nước
 Thời gian lưu nước trong bể lắng
 Chiều cao lắng cặn (chiều cao lớp nước trong bể lắng)
 Diện tích bề mặt của bể lắng

Hàm lượng cặn trong nước còn lại sau khi qua bể lọc phải đạt tiêu
chuẩn cho phép (không lớn hơn 3mg/l). Sau một thời gian làm việc
lớp vật liệu lọc bò chít lại, làm tốc độ giảm dần. Để khôi phục lại khả
năng làm việc của bể lọc phải thổi rửa bể lọc bằng nước hoặc gió,
nước kết hợp kết hợp để loại bỏ cặn bẩn ra khỏi lớp vật liệu lọc
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lọc :
1. Kích thước hạt lọc và sự phân bố các cỡ hạt trong lớp vật liệu lọc
.
2. Kích thước, hình dạng, trọng lượng riêng, nồng độ và khả năng
dính kết của cặn bẩn lơ lửng trong nước xử lý.
3. Tốc độ lọc, chiều cao lớp vật liệu lọc, thành phần của lớp vật
liệu lọc và độ chênh áp lực dành cho tổn thất của 1 chu kỳ lọc.
4. Nhiệt độ và độ nhớt của nước.
Vật liệu lọc là bộ phận cơ bản của các bể lọc, nó đem lại hiệu quả
làm việc và tính kinh tế của quá trình lọc. Vật liệu lọc hiện nay được
dùng phổ biến là cát thạch anh tự nhiên. Ngoài ra còn có thể sử dụng
một số loại vật liệu khác như : cát thạch anh nghiền, đá hoa nghiền,
than antraxít (than gầy), pôlime, ... Các vật liệu lọc dùng để lọc nước
cần phải thoả mãn các yêu cầu sau: có thành phần cấp phối hạt thích
hợp, đảm bảo đồng nhất, có độ bền cơ học cao, ổn đònh về hoá học.
Trong đó các yêu cầu cấp phối hạt và sự đồng nhất của vật liệu lọc có
ảnh hưởng trực tiếp đến sự làm việc của bể lọc
Độ bền cơ học là chỉ tiêu quan trọng để xác đònh độ ổn đònh của
thành phần hạt. Vật liệu lọc có độ bền không đạt yêu cầu khi rửa, các
hạt sẽ bò xáo trộn, va đập vào nhau và sẽ bò bào mòn hoặc vỡ vụn,
làm thay đổi thành phần hạt . Khi rửa lọc các mảnh vụn sẽ dồn lên
trên mặt lớp vật liệu lọc làm rút ngắn chu kỳ lọc. Ngoài ra các mảnh
vụn quá nhỏ sẽ bò cuấn theo nước rửa ra ngoài làm giảm chiều dày lớp
lọc và ảnh hưởng đến chất lượng nước lọc.
-6-

4. Chất lượng nước lọc luôn đảm bảo và ổn đònh
5. Loại trừ được hầu hết vi trùng và vi khuẩn
 Nhược điểm của bể lọc chậm:
1. Cần diện tích mặt bằng lớn
2. Không áp dụng được cho nước nguồn có độ đục > 30mg/l
-7-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương II: Các biện pháp xử lý nước cấp
3. Không có tác dụng khử màu và chóng bò tắc chít khi nước
nguồn có hàm lượng rong, rêu, tảo cao
Bể lọc nhanh trọng lực và bể lọc tiếp xúc dùng để lọc trực tiếp nước
nguồn sau khi pha phèn trong các trường hợp :
Độ đục của nước nguồn thấp hơn 10 NTU tương đương khoảng 19mg/l,
nồng độ Fe và mangan nhỏ hơn 0,3 mg/l và 0,1 mg/l, nước nguồn có
độ màu thấp và hàm lượng rêu, tảo thấp
 Ưu điểm của quá trình lọc trực tiếp :
1. Vốn đầu tư xây dừng nhà máy xử lý nước thấp
2. Tốn ít hoá chất (phènvà chất kiềm hoá)
3. Giảm được chi phí vận hành và quản lý
 Nhược điểm :
1. Chu kỳ lọc ngắn
2. Tốn nhiều lượng nước sạch để rửa lọc hơn bể lọc nhanh
thường
3. Cần phải có công nhân lành nghề thường xuyên giám sát
và điều chỉnh để đảm bảo chất lượng và công suất lọc.
2.2.2. Biện pháp hoá học :
Biện pháp hoá học : dùng các hoá chất cho vào nước để xử lý nước
như: dùng phèn làm chất keo tụ, dùng nước vôi để kiềm hoá nước, cho

3
và FeSO
4
để keo tụ nước. Ở Việt Nam thường dùng
phèn nhôm vì sản xuất vận chuyển, pha chế đònh lượng đơn giản nhà
máy sản xuất. Các loại phèn sắt tuy có hiệu quả cao, nhưng sản xuất,
vận chển và đònh lượng phức tạp nên chưa được dùng ở Việt Nam.
Hiệu quả của của quá trình keo tụ phụ thuộc vào điều kiện khuấy trộn
(càng nhanh càng đều càng tốt), phụ thuộc vào nhiệt độ nước ( nhiệt
độ càng cao càng tốt), phụ thuộc vào pH của nước (pH để keo tụ bằng
phèn nhôm nằm trong khoảng từ 5,7 – 6,8), phụ thuộc vào độ kiềm
cùa nước (độ kiềm của nước sau khi pha phèn còn lại nhỏ hơn 1 mg/l).
Hiệu quả của quá trình tạo bông cặn phụ thuộc vào : cường độ và thời
gian khuấy trộn để các nhân keo tụ vào cặn bẩn va chạm và dính kết
vào nhau, nếu là keo tụ trong môi trường thể tích, phụ thuộc vào độ
đục của nước thô và nồng độ cặn đã được dính kết từ trước, nếu là
keo tụ trong lớp vật liệu lọc
Để tăng cường quá trình tạo bông cặn thường cho vào bể phản
ứng tạo bông cặn chất trợ keo tụ polyme, khi hoà tan vào nước polyme
sẽ tạo ra liên kết lưới loại anion nếu trong nước nguồn thiếu ion đối
(như
2
4
SO

, ...) hoặc loại trung tính nếu thành phần ion và độ kiềm
của nước thoả mãn điều kiện keo tụ.
2.2.3. Biện pháp lý học :
Xử lý nước bằng biện pháp vật lý là dùng các tia vật lý để khử
trùng nước như tia tử ngoại, sóng siêu âm. Sóng siêu âm để khử muối.

lý nước cấp. Nguồn sử dụng nước hiện nay của các nhà máy trong khu
công ngiệp 100% là nước giếng, do các xí nghiệp tự bơm trực tiếp từ
nguồn nước ngầm lên sử dụng trực tiếp mà không qua xử lý. Do đó
chất lượng nước sử dụng không đảm bảo tiêu chuẩn đồng thời gây
khó khăn cho việc quản lý về việc khai thác nguồn nước ngầm trong
khu công nghệp và việc bán nứơc cho các xí nghiệp sau này. Vì vậy
việc xây dựng trạm xử lý nứơc hiện nay cho khu công nghiệp là việc
hết sức cần thiết và cũng là sự mong mỏi hết sức của từng công ty
cũng như của ban quản lý khu công nghiệp Trảng Bàng – Tây Ninh.
3.2. Nhu cầu sử dụng nước
Nhu cầu dùng nước của khu công nghiệp được xác đònh trên cơ sở
diện tích toàn khu là 92,76 ha và tiêu chuẩn dùng nước công nghiệp
lấy theo tiêu chuẩn thực tế tại các Khu công nghiệp đã xây dựng ở
Việt Nam với Q = 50m
3
/ha.ngày (bao gồm nước cho sản xuất, sinh
hoạt công nhân, tưới đường, cây, nước cho trạm xử lý v.v...)
Như vậy nhu cầu dùng nước của khu công nghiệp Trảng Bàng –
Tây Ninh như sau:
Q= 50 * 92,67 = 4633,5m
3
/ngày
Lấy tròn Q = 5.000m
3
/ngày.
3.3. Phân tích nguồn nước
-11-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày

3
/ngày thì kênh N26 hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu cung cấp
Hiện trạng kênh N26
Kênh N26 dài 8.987 m lấy nước từ kênh Đông trong hệ thống thuỷ
lợi Dầu Tiếng, kênh N26 đã được bê tông hoá khoảng 50%. Cao độ
-12-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương III: Nhu cầu dùng nước-phân tích lựa chọn nguồn nước
mực nước cao nhất đầu kênh 13,67m và cao độ mực nước cuối kênh
tại vò trí đònh khai thác nước thô : 7,99 m(hệ cao độ quốc gia).
Chế độ vận hành hệ thống thuỷ lợi Dầu tiếng như sau :
Kênh Đông : Theo pháp lệnh vận hành hệ thống kênh Đông của nhà
nước quy đònh. Thời gian ngưng cung cấp nước để duy sữa không quá
7 ngày, nhưng cho đến nay chưa năm nào nhưng quá 5 ngày. Tuy
nhiên trong các ngày ngưng cung cấp nước với dung tích dự trữ nước
trên các đoạn kênh lên đến hàng trăm triện m
3
, hoàn toàn đáp ứng cho
hệ thống kênh cấp 1 . Vì vậy nguồn nước kênh Đông có thể đáp ứng
hoàn toàn nhu cầu sử dụng.
Kênh N26 : Theo quy đònh về chế độ sử dụng nước các năm qua, mỗi
năm kênh N26 được phép ngừng cung cấp để duy tu sửa chữa 3 lần
trong năm vào đầu các tháng 4, 8 và11 khi kết thúc các vụ gieo trồng.
Thời gian mỗi đợt không quá 15 ngày. Ngoài ra theo quy đònh khi có
sự cố ngưng cung cấp nước không qúa 6 ngày.
Với chế độ vận hành như trên rất khó khăn khi khai thác nước thô
từ nguồn kênh N26 để cung cấp nước cho khu công nghiệp.Tuy nhiên,
nếu có sự chỉ đạo của uỷ ban nhân dân tỉnh Tây Ninh và hợp đồng cấp

Trung tâm CEFINEA khảo sát cho thấy nhìn chung chất lượng nước
khá tốt chỉ cần xử lý hàm lượng sắt (F
e
= 0,25 – 2,3mg/l) là có thể
cung cấp sử dụng.
3.4.Lựa chọn nguồn nước
Qua phân tích nguồn nước ở trên ta thấy khu công nghiệp nằm
trong vùng khá tòên lợi về nguồn nước, cả về nước mặt và nước ngầm
đều có chất lượng khá tốt tuy nhiên nếu sử dụng nguồn nước ngầm có
thể giá thành đầu tư xử lý ban đầu có thể thấp hơn nguồn nước mặt
nhưng trữ lượng nước không ổn đònh về mùa khô. Bên cạnh đó khi
công nghiệp đã đi vào hoạt động ổn đònh cần khai thác với lưu lượng
lớn sẽ gây hiện tượng sụt lún trong lòng đất có thể ảnh hưởng tới sự
phát triển bề vững của môi trừơng trong tương lai.
Về nước mặt cả 2 nguồn nước đều có chất lượng khá tốt nhưng
nước từ sông Vàm Cỏ có thể cạn về mùa khô và chất lượng nước sông
sẽ có xu hướng xấu đi khi toàn bộ nước sau xử lý của khu công nghiệp
thải ra hệ thống sông này.
Vậy chọn nguồn nước từ kênh N26 dẫn từ hồ Dầu Tiếng vừa có
chất lượng nước nguồn khá tốt, vừa đảm bảo về lưu lượng nước trong
năm và không có nguy cơ bò ô nhiễm trong tương lai là thích hợp nhất.
-14-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương III: Nhu cầu dùng nước-phân tích lựa chọn nguồn nước
3.5. Lựa chọn thông số thiết kế
Thông số về chất lượng nước đầu vào trạm xử lý nước cấp được chọn
dựa vào các kết quả phân tích
 Kết quả phân tích chất lượng nước kênh chính Đông của

mg/l
mg/l
6,8 ÷ 7,2
10 ÷ 15
18 ÷23
12 ÷ 12,5
16 ÷ 36
15 ÷ 39
22 ÷ 40
34 ÷42
0,58 ÷0,72
1,5 ÷2
5,9 ÷6,5
4 ÷ 9
15÷17
9 ÷ 11
8 ÷ 38
18 ÷ 23
12 ÷ 25
30 ÷35
0,2 ÷ 0,3
1,8 ÷1,9
6,5 ÷ 9
-
-
-
≤ 400
-
-
< 500

Nước sau hồ lắng
Hồ chứa
nước thô
Trạm
bơm cấp I
Bể trộn
đứng
Bể phản ứng
trong tầng
cặn lơ lửng
Bể lọc
nhanh
Bể chứa
S Sử
dụng
Bể lắng
ngang
Hồ chứa
bùn
Cặn lắng
Nước rửa lọc,
xả lọc đầu
Hồ sinh học
Bùn
sau
lắng
Sân phơi
bùn
Nước
thải

Nước rửa lọc
Cặn lắng trong
Chôn lấp
Hồ sinh
học
-18-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương III: Nhu cầu dùng nước-phân tích lựa chọn nguồn nước
3.7. Thuyết minh dây truyền công nghệ :
Phương án 1 :
• Hồ chứa nước thô :
Nước thô từ kênh N26 được dẫn về hồ chứa nước thô trước khi đi
vào xử lý. Hồ có chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình
tử làm sạch như : lắng bớt cặn lơ lửng, giảm lượng vi trùng do tác
động của các điều kiện môi trường, thực hiện các phản ứng oxy hoá
do tác dụng của oxy hoà tan trong nước, và làm nhiệm vụ điều hoà lưu
lượng giữa dòng chảy từ nguồn và lưu lượng tiêu thụ do trạm bơm
nước thô bơm cấp cho trạm xử lý.
• Bể trộn đứng :
Nước từ trạm bơm cấp I (trạm bơm nước thô) được đưa về bể trộn
đứng để hoà trộn hóa chất cho quá trình xử lý tiếp theo. Chấ keo tụ
được sử dụng là phèn nhôm. Vôi được đưa vào bể trộn đứng để tăng
pH của nước đồng thời hỗ trợ hỗ trợ quá trình keo tụ được tốt.
Bể trộn đứng thường được sử dụng trong trường hợp có dùng vôi
sữa để kiềm hóa nước với công suất bất kỳ. Vì chỉ có bể trộn đứng
mới đảm bảo giữ cho các phần tử vôi ở trạng thái lơ lửng, làm cho quá
trình hoà tan vôi được thực hiện triệt để . Còn nếu dùng các bể trôn
khác vôi có thể bò kết tủa trước tầm chắn. Kinh nghiệm cho thấy, diện

kiện thuận lợi cho quá trình tiếp xúc và kết dính giữa các hạt keo và
cặn bẩn trong nước để tạo nên những bông cặn đủ lớn và lắng lại
trong bể lắng. Sau đó nước chảy qua tường tràn ngăn cách giữa bể
phản ứng và bể lắng ngang. Tốc độ nước tràn qua không vượt quá
0,05 m/s.
• Bể lắng ngang :
Nước sau khi qua bể tạo bông, hạt cặn đã có kích thước lớn được
dẫn sang bể lắng ngang để giữ lại các hạt cặn trong bể lắng này.
Quá trình lắng các hạt cặn có khả năng keo tụ trong bể lắng ngang
có dòng nước chuyển động theo phương ngang như sau: các hạt cặn có
kích thước và vận tốc lắng khác nhau phân bố đều trong thể tích nước,
khi lắng các hạt cặn có kích thước và trọng lượng lớn hơn rơi với vận
tốc lớn hơn, khi rơi va chạm vào các hạt bé lắng chậm hoặc lơ lửng
trong nước, dính kết với các hạt bé thành hạt lớn hơn nữa và có tốc độ
lắng lớn hơn. Hạt cặn rơi với chiều cao H càng lớn và thời gian lắng T
càng lớn thì sự xuất hiện các hạt cặn to lắng với tốc độ lớn càng
nhiều. Tuy nhiên khi hạt cặn đã dính kết với nhau thành hạt có kích
thước lớn, khi lắng chòu cản của nước lớn hơn, đến lúc nào đó lực cản
thành lực cắt đủ lớn để chia hạt cặn có đường kính to thành nhiều
mảnh nhỏ, đến lượt mình các hạt cặn nhỏ này lại kết dính với nhau
hoặc với các hạt khác thành hạt lớn hơn. Vì vậy, hiệu quả lắng các hạt
-20-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương III: Nhu cầu dùng nước-phân tích lựa chọn nguồn nước
keo tụ phụ thuộc vào vận tốc lắng ban đầu u
o
và chòều cao lắng cũng
như thời gian lắng T.

-21-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương III: Nhu cầu dùng nước-phân tích lựa chọn nguồn nước
mặt hạt lọc đưa vào lớp cát lọc phía dưới. Hai quá trình này diễn ra
đồng thời và lan dần theo chiều sâu lớp vật liệu lọc.
ng với thời điểm ban đầu của chu kỳ lọc hàm lượng cặn trong
nước giảm rất nhanh theo chiều dày lớp cát lọc. Đa số cặn bẩn được
giữ lại ở trên cùng, lúc này quá trình kết bám cặn bẩn diễn ra là chủ
yếu. Ở những thời điểm sau, đasố các hạt cặn bò đẩy sâu vào lớp vật
liệu lọc ở phía dưới chứng tỏ lúc đó các hạt cặn không còn khả năng
kết bám lên bề mặt hạt lọc. Chiều dầy của lớp bão hoà cặn tăng lên
đến khi xấp xỉ bằng chiều dày lớp cát lọc, thì lớp cát lọc không còn
khả năng giữ cặn nữa. Có bao nhiêu cặn đi vào lớp vật liệu lọc, thì
cũng có bấy nhiêu cặn đi ra khỏi lớp vật liệu lọc. Khi đó ta tiến hành
rửa lọc.
Khi rửa : Mục tiêu của rửa lọc là nhằm đẩy cặn ra khỏi lớp vật
liệu lọc và đồng thời xới tung lớp vật liệu lọc nhằm giảm tổn thất qua
lớp vật liệu lọc.
Khi rửa lọc hạ mực nước trong bể xuống thấp hơn mép máng thu
nước rửa từ 10 – 20 cm sau đó sục gió lên với cường độ 16l/s.m
2
trong
vòng 2 phút. Khi sục khí từ dưới lên trên các hạt cát chuyển động hỗn
loạn trong thể tích nước, làm vỡ vụn các liên kết giữa bùn và hạt lọc
tách cặn bẩn ra khỏi bề mặt hạt, ngay lúc đó xuất hiện các bọt khí đi
lên sục ngay nước rửa với cường độ 3l/s.m
2
đủ để lấp chỗ trống mà bọt

yêu cầu khi đó bắt đầu tiến hành rửa lọc.
đầu chu kỳ lọc, do tổn thất áp lực qua lớp vật liệu nhỏ, nên tốc
độ lọc lớn, ngược lại ở cuối chu kỳ lọc, tổn thất áp lực qua lớp vật liệu
lớn nên tốc độ lọc nhỏ. Như vậy, bể lọc làm việc với công suất luôn
luôn thay đổi trong suốt chu kỳ lọc. Để tránh tình trạng này, nước lọc
sau khi ra bể lọc được điều chỉnh bằng xi phông đồng tâm
• Bể chứa nứơc sạch
Nước sau khi được làm sạch cặn bẩn ở bể lọc được đưa về bể chứa
nước sạch. Tại đây nước được châm clo với nồng độ thích hợp để khử
trùng và để đạt tiêu chuẩn về nứơc cấp hoàn thành việc xử lý. Từ đây
nước được dẫn tới nơi tiêu thụ.
Phương án 2 : Dùng bể lắng trong
Nước xử lý sau khi trộn đều với hoá chất ở bể trộn (không qua bể
phản ứng ), được đưa qua ngăn tách khí nhằm tách hết các bọt khí để
tránh tình trạng bọt khí chuyển động từ dưới lên trên kéo theo các hạt
cặn tràn vào máng thu nước làm giảm chất lượng nước sau khi lắng.
Sau đó nước theo hệ thống máng dẫn và ống phân phối với tốc độ
-23-
LVTN: Thiết kế trạm xử lý nước cấp KCN Trảng Bàng – Tây Ninh, Cs 5000
3
/ngày
Chương III: Nhu cầu dùng nước-phân tích lựa chọn nguồn nước
thích hợp vào ngăn lắng của bể láng trong. Tại đây sẽ hình thành lớp
cặn lơ lửng.
Nếu xét một hạt cặn trong lớp cặn lơ lửng ta thấy nó chòu tác dụng
của lực đẩy của dòng nứơc hướng lên và trọng lượng của bản thân
hướng xuống dưới. Khi dòng nước đi lên có vận tốc thích hợp, thì hạt
cặn sẽ tồn tại ở trạng thái lơ lửng hay cò gọi là trạng thái cân bằng
động.
Thực ra mỗi hạt cặn đều không ngừng chuyển động, mà nó chuyển

lượng và nhiệt độ ổn đònh. Vì trong lớp cặn lơ lửng các hạt cặn lơ
lửng lớn lên rồi bò phá vỡ thành những hạt cặn nhỏ, sau đó lại hấp
phụ và lớn lên. Để cho hạt cặn lớn lên được phải có đủ thời gian. Nếu
lưu lượng nước dao động quá lớn, hạt cặn chưa đủ lớn sẽ bò kéo đi.
Mặt khác, nếu nhiệt độ thay đổi đột ngột, lực liên kết giữa các hạt cặn
sẽ thay đổi và những bông cặn sẽ biến dạng, có khi bò phá vỡ.
Bể lắng trong có ưu điểm so với các bể lắng khác là không cần
xây dựng bể phản ứng. Bởi vì trong quá trình phản ứng tạo bông kết
tủa xảy ra trong điều kiện keo tụ tiếp xúc, ngay trong lớp cặn lơ lửng
của bể lắng. Hiệu quả xử lý cao hơn so với các bể lắng khác và tốn ít
đất xây dựng hơn.
Nước sau khi đã loại bỏ được một phần cặn trong bể lắng được dẫn
tiếp sang bể lọc và thực hiện các quá trình xử lý tiếp theo như trong
phương án 1
-25-

Trích đoạn Nội dung kỹ thuật quản lý trạm xử lý nước: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ Kết luận:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status