Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỞNG ĐAI HOC
TẠO
TRƯỞNG ĐAI HOC
LÊ THANH HUYÈN
LÊ THANH HUYỀN
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN THEO Tư TƯỞNG
HÒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẢNG KINH TÉ - KỸ
THUẬT
AN TRONG
GIAI
ĐOẠN
HIỆN
NAY
GIÁO NGHỆ
DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO
SINH
VIÊN
THEO
Tư TƯỞNG HÒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
KINH TÉ - KỸ THUẬT NGHỆ AN TRONG
CHLĨYÊN NGÀNH: LÝ LLTẬN VÀ PPDHBM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
GIAIMÃSÓ:
ĐOẠN60.14.10
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
BẢNG GHI CHÚ NHỪNG
CỤM TỪ VIÉT TẮT
Lời cảm ơn
Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các quý thầy, cô giáo trong
khoa Giảo dục Chính trị - trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy, triỉyển
đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học dế tác giả
cỏ thế hoàn thành tốt nhiệm vụ của khỏa học và luận văn.
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới NGƯT.TS. Nguyễn Thị Lan —
Trưởng Bộ môn Lý luận Chính trị, trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An đã
tận tình hưóng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong suốt
quá trình nghiên cứu, giúp dỡ tác giả hoàn thành tốt dề tài luận vãn của
mình.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới trường Cao đăng Kinh tế - Kỹ thuật
Nghệ An, khoa Sau dại học trường Đại học Vinh, bạn bè, đồng nghiệp, gia
3
MỤC LỤC
Trang
A. MỞ ĐẦU
5
An....................................................................................................... 50
Ket luận chương 2.............................................................................. 66
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
SINH VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HÒ CHÍ MINH Ở
3.1.
TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TÉ - KỸ THUẬT NGHẸ
4
viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Cao đẳng Kinh tế —
Kỹ thuật Nghệ An............................................................................... 67
3.2.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
cho
sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở trường Cao đẳng
Kinh tế Kỹ thuật Nghệ An .............................................................................. 75
Kết luận chương 3.............................................................................. 95
c. KÉT LUẬN
96
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
98
6
và tỉnh Nghệ An, đáp ứng được nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội (KT - XH) của đất nước trong giai đoạn mới. Nhìn chung, đa số sv
của trường đều có ý thức học tập, tu dưỡng đạo đức. Tuy nhiên, hầu hết các
em
đều
sống xa nhà, tuổi trẻ nên rất dễ bị cám dỗ bởi lối sống tha hóa về nhân cách,
đạo
đức. Một bộ phận sv đã có những biêu hiện về suy thoái đạo đức.
Trong bối cảnh đó, cần có một sự nghiên cứu căn bản về công tác giáo
dục đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh của nhà trường trong giai đoạn hiện
nay đế từ đó nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Đê đáp ứng nhu cầu đó,
tôi đã chọn vấn đề: “Giảo dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chỉ
Minh ở trường Cao dăng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An trong giai đoạn hiện
nay ” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục đạo đức cho sv theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong
giai đoạn hiện nay là vấn đề được Đảng, ngành giáo dục và nhiều nhà khoa
học quan tâm nên đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng,
ngày 7/11/2006, Bộ Chính trị đã ban hành chỉ thị 06 - CT/TW về đẩy mạnh
thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gưong dạo đức Hồ Chỉ
Minh”. Mục đích của Chỉ thị đã nêu rõ: “Làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận
thức sâu sắc về những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng đạo đức
đạo đức Hồ Chỉ Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế”, (Tạp chí Lý luận
Chính trị và truyền thông, số 5, năm 2009), “Giáo dục ỷ thức chính trị cho
sinh viên trong bổi cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế”, (Tạp chí Lý luận Chính
trị, số 12, năm 2008). Tác giả Đoàn Minh Duệ (1997) với đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Bộ: “Tình hình tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của sinh
viên các trường đại học, cao đãng các tỉnh phía Bắc miền Trung hiện nay”.
Đe tài đã đánh giá thực trạng công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
8
sống của sv các trường đại học, cao đẳng các tỉnh phía Bắc miền Trung. Từ
đó đưa ra những giải pháp có tính khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Tác giả Thái Bình Dương (2007) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ:
“Vận dụng tư tưởng Hồ Chỉ Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho sinh
viên ở trưòng Đại học Vinh hiện nay” đã góp phần quan trọng đưa công tác
giáo dục đạo đức cho sv trường Đại học Vinh ngày càng có hiệu quả hơn.
Các công trình tiếp cận từ các góc độ khác nhau, nghiên cứu về thực
trạng, vị trí, tầm quan trọng của sv trong giai đoạn hiện nay, tìm ra các giải
pháp giáo dục về ý thức chính trị, đạo đức, lối sống, đào tạo họ thành những
công dân tốt, cán bộ tốt, góp phần to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và
xây dựng đất nước.
Bên cạnh đó là các công trình mang tính chất hệ thống, tìm hiểu,
nghiên cứu quá trình hình thành, những nội dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí
Minh về giáo dục thanh niên, cả về mặt lý luận và thực tiễn: Tác giả Đoàn
Nam Đàn (2008), Tư tưởng Hồ Chỉ Minh về giáo dục thanh niên, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Đăng Tuyên (2009), “Giáo dục, bồi dưỡng thế
hệ trẻ cho cách mạng theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chỉ Minh ”, Tạp chí Giáo
dục, số 222 kỳ 2 tháng 9. TS Trần Quy Nhơn (2005), “Tư tưởng Hồ Chỉ Minh
về bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau ”, Nxb Giáo dục, Hà Nội...
đạo đức cho s V theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng giáo dục đạo đức cho sv theo tư tưởng Hồ Chí
Minh ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An hiện nay.
- Đe xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả của việc giáo dục đạo đức cho sV theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong
nhà trường.
4. Dối tượng, phạm vi nghiên cúu
4.1. Đối tuợng nghiên cứu
Công tác giáo dục đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh cho sv ở
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Nghệ An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
10
Đe tài được tiến hành nghiên cứu trong phạm vi trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật Nghệ An với đối tượng là sv, thông qua việc giáo dục đạo đức
theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cún
Sử dụng kết họp phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp
phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, so sánh... nhằm làm rõ
mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu được thông qua, đề tải sẽ góp phần phân tích thực trạng đồng thời
đề xuất được một số phương hướng và giải pháp nhằm giáo dục đạo đức cho
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN
THEO TƯ TƯỞNG HÒ CHÍ MINH
1.1. Đạo đức và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cần giáo dục cho sinh viên
1.1.1.
Đạo đúc và vai trò của đạo đức
1.1.1.1.
Khái niệm đạo đức
Trong đời sống xã hội, các hoạt động của con người bao giờ cũng có sự
chi phối của những mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân và giữa cá nhân vói
xã hội. Những mối quan hệ đó quy định giới hạn nhất định nhằm đảm bảo lợi
ích của cộng đồng và xã hội, tạo thành động lực cho xã hội phát triên. Đó là
các qui tắc, chuẩn mực hoàn toàn tự giác trong hành động của mỗi cá nhân
trong tất cả các quan hệ xã hội. Nói cách khác, đó chính là đạo đức của con
người trong xã hội.
Đạo đức bao hàm nhiều phạm trù khác nhau như lương tâm, danh dự,
nhân phẩm, hạnh phúc... nhưng lại rất cụ thể, gắn liền với đòi sống hàng ngày
của chúng ta. Tất cả các phương diện, khía cạnh của đời sống đều gắn liền với
phạm trù đạo đức từ những mối quan hệ trong mỗi gia đình đến các mối quan
hệ ngoài xã hội, trong các hoạt động kinh doanh, giáo dục, y tế... Vậy đạo
đức là gì? Cùng với sự phát triển không ngừng của lịch sử xã hội loài người
gắn liền với các hình thái KT - XH từ thấp đến cao, các khái niệm về đạo đức
mức hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức. Đức là hiểu Đạo.
Đức là mức độ tập trung của Đạo ở một con người. Nói theo ngôn từ ngày
14
nay, Đức là trình độ năng lực nắm vững và vận dụng quy luật. Trình độ cao
bao nhiêu thì Đức dày bấy nhiêu. Đức là những phẩm chất mà một con người
cần phải có. Đạo là con đường rèn luyện đê đạt được những phâm chất đó.
Trước Các Mác, Ph, Ăngghen, các nhà triết học khi bàn về đạo đức đều
tìm nguồn gốc, bản chất của đạo đức hoặc ở ngay chính bản tính của con
người, hoặc ở một bản thể siêu nhiên bên ngoài con người, bên ngoài xã hội.
Nét chung của các lý thuyết này là không coi đạo đức phản ánh cơ sở xã hội,
hiện thực khách quan.
Đối lập với những quan niệm trên, đímg trên lập trường duy vật biện
chứng, Các Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng “Phương thức sản xuất đời
sống vật chất quyết định quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói
chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại,
sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ” [19; 15]. Toàn bộ tư tưởng
thể hiện trong các hình thái ý thức xã hội (YTXH) của một thời đại đều bắt
nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội đó. Chính nhờ quá trình lao
động nên con người luôn nảy sinh những nhu cầu mới. Nhu cầu đó nảy sinh
từ những điều kiện vật chất và tồn tại khách quan của con người. Hay nói
cách khác, YTXH là sự phản ánh tồn tại xã hội của họ.
Đạo đức cũng là một hình thái YTXH phản ánh sự tồn tại xã hội dưới
dạng các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của con
người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá
khứ cũng như tương lai, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Ph.Ãngghen cho rằng “Con
người, dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút những quan niệm đạo
tồn tại bên ngoài ý chí con người, hay các nhà triết học của xã hội phong kiến,
tư bản luôn xây dựng các quan niệm đạo đức dựa trên lập trường tư tưởng của
giai cấp thống trị hoặc đề cao chủ nghĩa cá nhân, thì quan điểm đạo đức học
của Các Mác, Ăngghen, Lênin gắn bó chặt chẽ lợi ích của cá nhân với lợi ích
16
hành vi của mình trong cuộc sống, tự nguyên, tự giác thực hiện nghĩa vụ đạo
đức cao cả đối với tập thể, với xã hội và chính bản thân mình, hướng con
người tới cái tốt, cái thiện.
Vai
trò
của
đạo
đức
- Đoi vói sự phát triến xã
hội
Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người qua các giai
đoạn lịch sử khác nhau, đạo đức học cũng hình thành và phát triển gắn liền
với những chuẩn mực được quy định bởi đặc điểm về văn hóa, tôn giáo, kinh
tế, xã hội... của xã hội đó. Vì vậy, đạo đức có vai trò to lớn đối với sự phát
triển xã hội, phản ánh tồn tại xã hội. Điều này đã được các nhà triết học xem
xét và bàn luận tới.
người có nhân cách trong sáng, hướng thiện thì sẽ luôn được hạnh phúc.
Có thể nói, dù trong bất kỳ xã hội nào thì đạo đức cũng giữ một vai trò
to lớn trong việc điều chỉnh hành vi của con người. Điều đó được thể hiện ở
các khía cạnh sau:
Thứ nhất, đạo đức là nhu cầu khách quan, nhu cầu vốn có của đời
sống xã hội. Đạo đức là một hình thái YTXH, nảy sinh không phải xuất phát
từ ý muốn chủ quan của con người, mà nó phản ánh và được nảy sinh từ
những điều kiện vật chất, từ hoạt động lao động sản xuất ra của cải vật chất
của con người. Vì vậy, mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, gắn liền với sự phát
triển của chế độ xã hội khác nhau thì tư tưởng đạo đức cũng khác nhau, gắn
liền với những đặc trimg của xã hội đó, phản ánh tồn tại xã hội của xã hội đó.
Cùng với quá trình phát triển của sản xuất, nhu cầu trao đối, giao lưu
của con người không ngừng được nâng cao và mở rộng. Con người phải giao
tiếp, phải có tác động qua lại lẫn nhau trên mọi mặt của đời sống. Chính lao
18
động đã tạo ra những điều kiện vật chất để thỏa mãn nhu cầu con người, mặt
khác, nó làm nảy sinh những nhu cầu mới, đó là những yếu tố cơ bản kích
thích sự hứng thú và tính sáng tạo, giúp con người có những điều kiện đê
hoàn thiện bản thân mình. Đạo đức hình thành trong các mối quan hệ giữa
con người với con người, giữa cá nhân và xã hội, điều chỉnh những mối
quan hệ đó phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Từ đó giúp con người kết
hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội.
Thứ hai, cùng với pháp luật, đạo đức có vai trò quan trọng trong việc
duy trì sự ốn định và phát triển của xã hội. Sự phát triển của xã hội, bên cạnh
do sự ban hành hệ thống pháp luật bắt buộc, cưỡng chế mọi người phải tuân
theo, còn do ý thức tự giác của mỗi người, do mức độ con người nhận thức
được quy luật và hành động phù hợp theo quy luật. Chính đạo đức góp phần
Khi xã hội đạt đến trình độ văn minh cao thì có thể có một số hình thái YTXH
sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát triên cùng với con người.
- Đổi với sự phát triển nhân cách
Giáo dục đạo đức cho sv là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu bên cạnh
việc dạy kiến thức. Giáo dục đạo đức nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo
những con người không chỉ có tài mà còn có đức, đế các em trưởng thành và
trở thành những công dân có ích cho xã hội. Có thể thấy, đạo đức trong sáng
của người sv là một trong những điều kiện, hon nữa là điều kiện tiên quyết,
là tiền đề đế trau dồi lý luận. Không những thế, lý luận ở đây cũng không chỉ
là tri thức, là học vấn nói chung mà là lý luận cách mạng.
Đạo đức là động lực để mọi người nói chung, sv nói riêng phát huy
tính chủ động, tích cực trong những điều kiện lịch sử - cụ thê, đế biến quá
trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục nói chung, giáo dục tri thức nói
20
Công tác giáo dục tri thức coi giáo dục đạo đức không những là tiền đề
của việc nâng cao trình độ, đồng thời là nhiệm vụ của mình. V.I. Lênin đòi hỏi
phải làm cho toàn bộ nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thanh niên trở thành nhiệm
vụ
giáo dục đạo đức cộng sản. Nói về mục đích học tập lý luận của người cán bộ,
Bác Hồ đòi hỏi trước hết phải là học đế làm việc, làm người rồi mới làm cán
bộ.
Ai cũng biết thế hệ trẻ nói chung, sv đang ngồi trên ghế nhà trường nói
riêng chuẩn bị hành trang vào đời cần phải tích luỹ các kiến thức chuyên môn,
khoa học, công nghệ, ngoại ngữ, tin học... nhưng nếu chỉ chừng đó thôi mà
không lưu tâm hoặc bỏ qua việc trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối
sống, văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp, ý thức pháp luật thì chưa đủ. Điều đó
Trung với nước, hiếu với dân
Đây là phấm chất bao trùm nhất, quan trọng nhất của mỗi con người.
Tình yêu lớn nhất của mỗi con người là tình yêu quê hương, đất nước. Vì vậy,
phẩm chất đạo đức cơ bản nhất, quan trọng nhất là trung với nước, hiếu với
dân. Khái niệm trung, hiếu đã có trong tư tưởng đạo đức truyền thống dân tộc
Việt Nam và phương Đông, là chuẩn mực đạo đức phong kiến mà Nho giáo
đề ra. Trung của Nho giáo là trung với vua, bó hẹp trong phạm vi quan hệ vua
tôi, phải hết lòng thờ vua, trung thành với vua trong bất kỳ điều kiện nào.
Hiếu là hiếu với cha mẹ, phải kính trọng thương yêu và hết lòng phụng dưỡng
cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành, dưỡng dục.
Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “trung, hiếu” và đưa vào nội dung
mới, không những kế thừa giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc mà còn
vượt qua những hạn chế của truyền thống đó. Người nói: “Đạo đức ngày nay
cao rộng hơn, không phải chỉ có hiếu với cha mẹ, mà trung với nước, hiếu với
dân” [29; 558], “Người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình, chí
hiếu nhất. Vì sao? Nếu không làm cách mạng thì chăng những bố mẹ mình
mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc dày vò. Mình không
những cứu bố mẹ mình mà còn cứu bố mẹ người khác, bố mẹ của cả nước
nữa. Phải hiểu chữ hiếu của cách mạng rộng rãi như vậy”[25; 60].
Trung với nước, hiếu với dân trước hết phải có tinh thần yêu nước nồng
nàn, phấn đấu hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, làm sao cho “dân giàu,
nước mạnh". Đối với sv, trung với nước, hiếu với dân, trước hết phải yêu Tổ
quốc, yêu nhân dân. Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân không phải là lý thuyết, siêu
22
Nói chuyên với nam nữ thanh niên, học sinh các trường Trung học ở
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sv là học tập thật tốt để nâng cao
nhận thức, để nắm bắt khoa học kỹ thuật, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ.
Nhưng mục đích của học tập cũng nhằm phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân
dân. Đó chính là sự thể hiện trung với nước, hiếu với dân.
1.1.2.2.
Yêu íhưong con ngưòi
Ke thừa truyền thống nhân nghĩa tưcmg thân tương ái, lá lành đùm lá
rách của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo
cộng sản, tiếp thu có chọn lọc tinh thần nhân văn, nhân đạo của nhân loại qua
nhiều thế kỷ, cùng với việc thể nghiệm của chính bản thân mình qua hoạt
động cách mạng thực tiễn, Hồ Chí Minh xác định tình yêu thương con người
là một trong những phấm chất đạo đức cao đẹp nhất.
Tình yêu thương con người là tình cảm rộng lớn ở Hồ Chí Minh. Tình
yêu thương đó trước hết dành cho những người cùng khố, những người lao
động bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới, không phân biệt màu da, dân tộc.
Tình yêu thương đó đã được thể hiện ở lòng ham muốn tột bậc của Hồ Chí
Minh là “làm cho nước được độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có
cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [22; 161].
Tình yêu thương đó không dừng lại tình yêu thương nhân dân trong
nước mà Hồ Chí Minh còn dành cho cả những người cùng khổ trên thế giới.
Người thông cảm và đau xót trước cảnh nhân dân các nước thuộc địa bị bóc
lột
và đàn áp dã man. Trong tác phâm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã
lên án những tội ác của chủ nghĩa thực dân đối với các nước thuộc địa. Từ đó,
Người kêu gọi tất cả những người cùng khổ trên thế giới đoàn kết lại để chống
kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc.
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những khái niệm đạo đức gắn
liền với hoạt động hàng ngày của con người. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã đề cập