BỌ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG DẠI HỌC VINH
TRƯỜNG
DẠIÊO
HỌC VINH
C8Ũ3
----------------OSÍHgti------------
ĐINH VĂN TUẤN
ĐINH VĂN TUẤN
Chuyên ngành: Lý luận và Phuong pháp dạy học Vật lý
Mã số: 60 14 01 11
Cán LUẬN
bộ huớng
dẫn
khoa sĩ
học:
PGS-TS.
VÃN
THẠC
KHOA
HỌCPHẠM
GIÁO THỊ
DỤCPHÚ
NGHE AN-2013
NGHỆ AN-2013
MỤC LỤC THPT
DANH MỤC CÁC
THUẢT
NGỮ
Lời
cảm o n!
PPDHVIẾT TẮT
Trong quá trình tiên hành thực hiện luận vãn này tác giả đã nhận được sự giúp đỡ
Proịect based learning — Dạy học dự án
PBL
nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các bọn bè, đồng nghiệp và người thân. Hôm nay,
khi luận văn đã hoàn thành tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã giúp đỡ tác
Thực nghiệm
phạmthòi gian vừa qua.
TNSP
giảsưtrong
Trước hết tác giả xỉn bày tỏ lòng biết ơn sâuTN
sắc đến PGS. TS. Phạm Thị Phủ người
Thực nghiệm
trực tiếp hướng dẫn tác giả thực hiện luận vãn này.
Đối chứng
ĐC
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Vật lý, Khoa
Sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình làm luận văn.
Công nghệ thông tin
CNTT
Tác giả bày tỏ lòng biết ơn Ban giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng
Nội dung
5
Nhiệm vụ nghiên cứu
6
7
8
Phương pháp nghiêm cứu
Đóng góp mới của luận văn
3
Ó
Vinh, ngày 05 tháng 08 năm 2015
4
Tác giả
4
Cấu trục luận văn
4
NỘI DUNG
5
Chương 1. Cơ sở lý luận về dạy học dự án (PBL)
Đình6Văn Tuấn
19
21
21
22
22
1.4
Tác dụng, những hạn chế và khó khăn của dạy học theo PBL
24
1.4.1
Tác dụng của PBL
24
1.4.2
Những hạn chế của PBL
25
1.4.3
Những khó khăn của PBL
32
Chương 2: Xây dựng kế hoạch dạy học chương “Dao động và sóng điện
từ” vật lý 12 chương trình nâng cao theo tinh thẩn dạy học dự án (PBL)
33
Y tưởng sư phảm
33
VỊ trí, đặc điểm của chương “Dao đông và sóng điện từ” Vật lý 12 chương 33
trình nâng cao
Mục tiêu dạy học của chương “Dao động và sóng điện từ”
34
2.1.3
Tóm tắt nội dung cơ bản bài 24, bài 25 sách giáo khoa vật lý 12 chương
trình nâng cao
36
2.1.4
Thiết kế ý tưởng dự án từ mục tiêu nội dung dạy học bài 24, bài 25 chương
“Dao động và sóng điện từ” Vật lý 12 chương trình nâng cao
53
hiện dự án
Mầu phiếu đánh giá sản phẩm
57
Ket luận chương 2
61
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
62
3.1
Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm
62
3.2
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
62
Nội dung thực nghiệm sư phạm
79
81
84
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN DÈ TÀI
“Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới
căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất
lượng theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế,
phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học
tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.” [3;6]
Trong giáo dục, quy trình đào tạo được xem như là một hệ thống bao gồm các yếu
tố: mục tiêu, chương trình đào tạo, nội dung, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy
học, phương tiện, kiểm tra đánh giá, quản lý qua trình dạy học và giáo dục. Phương pháp
dạy học là khâu rất quan trọng bởi lẽ phương pháp dạy học có hợp lý thì hiệu quả của việc
dạy học mới cao, phương pháp có phù hợp thì mới có thể phát huy được khả năng tư duy,
sáng tạo của người học và phương pháp dạy học là khâu hiện thực hoá quá trình đổi mới
giáo dục. Phương pháp dạy học phải đối mới từ dạy số đông sang dạy cá thể, dạy cách
học; đối mới từ dạy áp đặt một chiều của người dạy sang tương tác đa chiều của người
học với thầy cô, bạn bè, sách vở, trong gia đình và ngoài xã hội; không dìmg lại ở lý
thuyết, minh họa mà vươn tới hoạt động thực hành, trải nghiệm, làm sinh động và hiệu
quả hơn nội dung giáo dục đê đạt yêu cầu mục tiêu giáo dục tốt nhất; làm cho học sinh
thích thú, chủ động và tích cực tự tìm tòi học tập, nâng cao năng lực tự học, học suốt đời,
học ở mọi lúc mọi nơi.
Thực chất của đổi mới phương pháp dạy học theo quan điếm "lấy học sinh làm
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN cứu
5.1. Tìm hiểu lý thuyết về dạy học dựa trên dự án (PBL).
5.2. Tìm hiểu thực trạng nhận thức PBL và sử dụng PBL, vấn đề quan tâm bồi dưỡng
kỹ năng tư duy bậc cao trong dạy học Vật lý ở một số trường THPT thuộc địa bàn Huyện
Nghi Lộc — Tỉnh Nghệ An.
5.3. Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng
một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện từ” vật lý 12 chương trình nâng cao
nhằm tạo cơ sở đế xây dựng kế hoạch dạy học theo tinh thần dạy học dự án (PBL).
5.4. Xây dựng kế hoạch dạy học một số kiến thức chương “Dao động và sóng điện từ”
vật lý 12 chương trình nâng cao theo tinh thần dạy học dự án.
-
3
-
5.5. Thực nghiệm sư phạm đế đánh giá tính khả thi, hiệu quả của phương án đã thiết kế
từ đó điều chinh, bổ sung đê hoàn thiện.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
Nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu thục tiễn
+ Điều tra, quan sát, phỏng vấn.
+ Thực nghiệm vật lý.
+ Thực nghiêm sư.
7. DÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
hay một hình thức dạy học. Khái niệm dự án được sử dụng trong các trường dạy học kiến
trúc - xây dựng ở Y từ cuối thế kỷ XVI. Từ đó tư tưởng PBL lan sang Pháp cũng như một
số nước Châu Âu, Châu Mỹ, trước hết là trong các trường đại học và chuyên nghiệp.Có
nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án (PBL). PBL là chữ viết
tắt bằng tiếng Anh của thuật ngữ Project based leaming, nghĩa là dạy học theo tinh thần
dự án.
Từ Châu Âu, tư tưởng PBL lan truyền sang Mỹ và các nhà sư phạm Mỹ xây dựng
cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The prọịect Method) và coi đó là PPDH quan trọng
để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của
dạy học truyền thống coi GV là trung tâm. Ban đầu, phương pháp dự án được sử dụng
trong dạy học thực hành các môn kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học
khác, kể cả các môn khoa học xã hội. Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, ngày nay
phương pháp dự án lại được vận dụng nhiều ở các nước có nền giáo dục phát triển như
Singapor, Mỹ, Đức... Ở nước ta, phương pháp này đang được nghiên cứu vận dụng trong
dạy học không chỉ ở các bậc đại học, cao đắng, trung cấp chuyên nghiệp mà còn ở cả bậc
trung học.
5
-
-
Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học dự án của nhiều tác giả:
+ Cách học dựa trên dự án (PBL) là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho
HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vục học tập và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế
cuộc sống. Qua đó hình thành kỹ năng hợp tác, giao tiếp, phát triẻn tư duy và học tập độc
lập, chuẩn bị hành trang cho các em trong sự nghiệp học tập suốt đời và đối mặt với các
thử thách trong cuộc sống. [16]
1.2.1.
Cấu trúc của PBL [14]
PBL được đặc trưng bởi một số hoạt động cơ bản như sau:
- Xác định mục tiêu dự án
- Thiết kế ý tưởng dự án
- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
- Lập kế hoạch thực hiện dự án
- Thực hiện dự án
- Đánh giá và tự đánh giá
1.2.1.1.
Xác đinh mục tiêu dự án
Mỗi dự án luôn hướng tới một mục tiêu học tập cụ thể. Mục tiêu của dự án phải
dựa vào chuẩn kiến thức và mục tiêu bài học do Bộ giáo dục và Đào tạo quy định, đồng
thời kết hợp với mục tiêu giáo dục của địa phương cùng với phương hướng hoạt động của
nhà trường.
Từ mục tiêu hoạt động của dự án, GV lựa chọn nội dung thích họp sao cho phù
họp với trình độ HS, đặc điểm từng lớp, cơ sở vật chất của nhà trường, môi trường thực
hiện dự án cũng như các yếu tố về tài chính và thời gian thực hiện dự án đế đảm bảo dự
án có tính khả thi.
1.2.1.2.
Thiết kế ý tưởng dụ án [20]
Một dự án có tính khả thi thường bắt nguồn từ một ý tưởng tốt. Các hoạt động học
tập trong PBL được thiết kế mang tính thiết thực, hên quan đến nhiều lĩnh vực kiến thức,
lấy người học làm trung tâm và gắn kiến thức nhà trường với những vấn đề thực tiễn của
thế giới thực tại. Vì vậy GV cần nhìn thấy những vấn đề trong cuộc sống xung quanh,
nhất là các vấn đề có tính thời đại.
Xuất phát từ nội dung bài học, GV đưa ra một chủ đề với những gợi ý hấp dẫn,
thực sự có thế lôi cuốn HS, kích thích HS hứng thú tham gia thực hiện thông qua các hoạt
nước.
-
Họp tác trực tuyến: Những dự án này là các nhiệm vụ giáo dục thực hiện trực tuyến.
Các dự án cung cấp kinh nghiêm học tập thực tế khi họp tác trực tuyến với các lớp khác,
các chuyên gia hay cả cộng đồng.
-
Tra cứu weh: Đây là các hoạt động yêu cầu định hướng trong đó một số hay tất cả các
thông tin mà người học sử dụng được lấy từ nguồn Internet. Các dự án này được thiết kế
nhắm đến việc lĩnh hội và tích hợp kiến thức.
Dự án là một bài tập tình huống mà HS phải giải quyết bằng các kiến thức theo nội
dung bài học, đặt HS vào tình huống có vấn đề nhưng việc giải quyết vấn đề đòi hỏi tính
tự lực cao ở HS.
Trong trường họp thích họp, sáng kiến về việc xác định chủ đề có thê xuất phát từ
phía HS. Khi HS được tự lựa chọn chủ đề và tự đặt ra vấn đề cần tìm hiểu nghiên cứu, HS
sẽ hoàn toàn chủ động tích cực trong việc thực hiện dự án. Giai đoạn này được K.Frey mô
tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận sáng kiến.
-
8
-
Bộ câu hỏi định hướng là một hệ thống những câu hỏi do GV đưa ra nhằm mục
*
Câu hỏi bài học
-
9
-
Câu hỏi bài học cũng là câu hỏi mở nhưng hướng HS đi vào trọng tâm một bài
học, một chủ đề cụ thể. Câu hỏi bài học đòi hỏi phải đủ rộng đế bao quát hầu hết các chủ
đề của bài học, giúp HS tự khám phá và thể hiện những hiểu biết của mình quanh các vấn
đề cốt lõi của dự án một cách sáng tạo, độc đáo, duy trì sự hímg thú ở HS. Với câu hỏi bài
học có nhiều hơn một câu trả lời đúng duy nhất nên cũng đòi hỏi HS phải tư duy bậc cao.
Câu hỏi bài học hỗ trợ việc nghiên cứu câu hỏi khái quát.
* Câu hỏi nội dung
Câu hỏi nội dung là những câu hỏi cụ thể, trọng tâm, tập trung trực tiếp vào các
chuẩn kiến thức và mục tiêu học tập; là câu hỏi hỗ trợ cho các câu hỏi khái quát và câu
hỏi bài học. Câu hỏi nội dung được xếp vào loại câu hỏi “đóng”, nó đòi hỏi phải có câu
trả lời đúng, rõ ràng, cụ thể, không thể bác bỏ.
d. Yêu cầu của bộ câu hỏi định hướng
Đặt câu hỏi là kỹ năng quan trọng đối với mỗi GV với tác dụng khuyến khích, kích
thích tư duy của HS, hướng HS tập trung vào nội dung bài học, đồng thời giúp HS ghi
nhớ kiến thức và tự kiểm tra kiến thức của mình. Do đó việc xây dựng bộ câu hỏi định
hướng phải xuất phát từ nội dung cần học: Xác định ai, lĩnh vực nào ứng dụng kiến thức
cần học, đối tượng nào cần được chọn ưu tiên; HS có thể thực hiện vai trò gì trong dự án
liên quan chặt chẽ với nội dung cần học.
Yêu cầu của việc đặt câu hỏi là phải thích hợp, có sức lôi cuốn sẽ khuyến khích HS
đẻ lôi cuốn HS. Hãy tìm xem điều gì có thể làm cho HS ghi nhớ sâu và lâu nội dung bài
học. Bạn có thể viết câu hỏi như một mệnh đề trước, sau đó phát triển nó thành câu hỏi;
nếu cần, trước hết hãy viết câu hỏi bằng ngôn ngữ “người lớn” để diễn đạt được nội dung
chính, sau đó viết lại bằng ngôn ngữ “học trò”. Đảm bảo rằng câu hỏi khái quát và câu hỏi
bài học có nhiều hưn một câu trả lời hiển nhiên “đúng” nhằm phát triển kỹ năng tư duy
mức cao.
Bộ câu hỏi khung chương trình được thiết kế lồng ghép vào nhau, câu hỏi nội dung
hỗ trợ câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát. Xuất phát từ nội dung bài học và mục tiêu cần
đạt cũng như dựa trên ý tưởng hình thành dự án, đối tượng thực hiện và điều kiện cơ sở
vật chất mà ta thực hiện quy trình xây dựng từng loại câu hỏi theo thứ tự tính khái quát
của câu hỏi giảm dần:
Xây dụng câu hỏi khái quát: GV cần nhìn thấy những vấn đề trong cuộc sống, nhất là
những vấn đề mang tính thời sự có liên quan nhiều đến nội dung cần dạy, đặt ra các câu
hỏi hên quan đến nội dung, đến thực tiễn và mục tiêu của PBL để kích thích HS suy nghĩ
và thực hiện các nhiệm vụ được giao, gợi suy nghĩ liên môn. Luôn chú ý đến những kỹ
năng tư duy bậc cao muốn phát triên ở HS đê đặt ra câu hỏi có mức độ khái quát phù hợp.
-
11
-
Xây dựng câu hỏi bài học: GV cần lưu ý đến khả năng tự chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng
sống và ứng dụng tri thức chiếm lĩnh để giải quyết các vấn đề cuộc sống.
Xây dựng câu hỏi nội dung: GV cần chú trọng đến kiến thức khung sao cho các câu hỏi
này hỗ trợ HS giải quyết được câu hỏi bài học và câu hỏi khái quát.
Muốn phát triển câu hỏi của mình, GV hãy thử dùng bảng danh mục dưới đây để
xác định liệu mỗi câu hỏi đó có đáp án mở hay không? có kích thích HS suy nghĩ thật sự
hay không?
đích dự án sẽ trở nên mơ hồ và kết quả học tập mong đợi từ phía HS có thể bị hiểu sai
lệch. Khi thiết kế dự án, điều quan trọng là phải chắc chắn rằng việc lập kế hoạch hành
động sẽ giúp cho HS nhận diện được mục tiêu học tập dự kiến. Bằng việc điểm lại mục
tiêu và chuẩn của chương trình, GV sẽ lựa chọn các bài học ưu tiên trong chương trình,
về cơ bản, khâu lập kế hoạch dự án bao gồm các bước sau:
Bước 1. Xác định mục tiêu học tập cụ thể bằng cách sử dụng các chuẩn nội dung và
những kỹ năng tư duy bậc cao mong muốn đạt được
Bước 2. Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bước 3. Lập kế hoạch đánh giá dự án
Bước 4. Thiết kế các hoạt động
Tiến trình 4 bước thực hiện đơn giản này có thể khiến cho GV nhầm lẫn, nhưng
thiết kế dự án không phải là đường thẳng mà là một vòng xoáy trôn ốc đế đảm bảo đi
đúng hướng. Bộ câu hỏi định hướng, kế hoạch đánh giá dự án nên được thực hiện cùng
nhau nhằm hỗ trợ cho việc đạt mục đích dạy học và những chuẩn trọng tâm của bài học.
Cũng nên lưu ý rằng, trong suốt quá trình thực hiện dự án, cần tạo nhiều cơ hội để HS
được đánh giá, tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau, cũng như kiếm tra sự tiến bộ của HS qua
từng giai đoạn.
1.2.1.5. Thực hiện dự án [22]
Đây là hoạt động đặc trưng của PBL. Các HS được chia thành nhiều nhóm học tập
và thực hiện dự án theo kế hoạch chung.
a. Vai trò của làm việc theo nhóm trong PBL
Làm việc theo nhóm có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng học tập
và rèn luyện các kỷ năng “mềm” của Thế kỷ XXI cho HS. Trong quá trình thực hiện dự
án, hoạt động nhóm thế hiện được:
Thứ nhất, sự hợp tác làm việc, biết chia sẻ, giúp đỡ và tôn trọng lẫn nhau của tất cả các
thành viên trong nhóm. Tuy nhiên trong quá trình làm việc cùng nhau, không tránh khỏi
sự tranh luận nhưng sự tranh luận lại là một hoạt động rất hữu ích, vì qua đó mỗi HS mới
tìm được cái đúng, cái sai và nguyên nhân dẫn đến những quan niệm khác nhau đó. Nhờ
thảo luận, thống nhất kết quả chung của nhóm. Còn thư ký có nhiệm vụ ghi nhận lại việc
phân công của nhóm trưởng, các hoạt động của nhóm, kết quả của từng thành viên, của
nhóm.
Để trình bày kết quả trước lớp, mỗi nhóm cử một đại diện hoặc các thành viên có
thể phối hợp cùng nhau trình bày. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ góp phần vào kết
quả học tập chung của cả lóp.
14
-
-
Trong quá trình làm việc theo nhóm, sẽ nảy sinh nhiều ý tưởng hay giúp cho sự
thành công của dự án. Đây chính là ưu điểm của làm việc nhóm.
Ngoài ra, đế các nhóm dễ dàng làm việc, trao đối với nhau thì bàn ghế, chỗ ngồi
phải được sắp xếp sao cho phù hợp: các HS trong cùng một nhóm được ngồi đối diện
nhau.
c. Định hướng của GV trong hoạt động nhóm của HS
HS có thực hiện thành công dự án và tạo ra sản phấm có chất lượng hay không còn
phụ thuộc vào vai trò của GV trong việc định hướng hoạt động nhóm của HS. Từng HS
cần phải nắm rõ những việc cần và sẽ làm cho dự án. Muốn thế, GV cần hướng dẫn mạch
lạc công việc của từng thành viên trong nhóm và các tiêu chí đê đánh giá dự án. Công
việc của nhóm là giải nghĩa các hướng dẫn đó và thống nhất cách giải quyết vấn đề.
Trong quá trình các nhóm hoạt động, GV cần quan sát và theo dõi hoạt động của
từng cá nhân, từng nhóm đê kịp thời phát hiện những sai lầm, bế tắc, thấy được những
vướng mắc của HS để từ đó, GV có thể góp ý, định hướng hoặc đưa ra những chỉ dẫn cụ
thể giúp HS vượt qua những khó khăn, thử thách, dẫn dắt HS đi đúng hướng mà dự án
tập, đồng thời giúp GV điều chỉnh cách dạy cho phù họp.
Đánh giá không phải là hoạt động đơn lẻ, trái lại, nó là một quá trình diễn ra liên
tục trong suốt quá trình thực hiện dự án. Đánh giá liên tục và định kỳ là khâu cốt yếu của
PBL, có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp học sinh thể hiện được những gì đã học bằng
nhiều cách khác nhau.
b. Yêu cầu của việc đánh giá
Để triển khai thành công việc đánh giá trong PBL, cần tập trung vào những câu hỏi
cụ thể như sau:
-
HS hướng đến các mục tiêu học tập như thế nào?
-
HS sử dụng những kỹ năng tư duy nào?
-
Liệu HS có nâng cao được khả năng tự quản lý, tư duy sâu để học tốt hơn hay
không?
-
HS tích hợp và sử dụng thông tin mới hiệu quả đến mức nào?
-
Điều gì thúc đẩy động cơ học tập của HS?
Muốn vậy, GV phải:
-
Nêu rõ các tiêu chí đánh giá.
-
Tạo những cơ hội để HS theo dõi sự tiến bộ của chính mình.
-
Các phương pháp thu thập phản hồi chính tắc để chia sẻ với bạn học, kết hợp
những phản hồi từ bạn học để tăng hiệu quả công việc.
-
Cho thời gian đủ để hoàn thành công việc và các sản phẩm.
-
Hỗ trợ xác lập mục đích học tập mới trong tương lai.
Dự án tốt là dự án phải định ra được kết quả cuối cùng ngay trong ý tưởng. Điều đó có
nghĩa là dự án phải được khởi đầu từ mục đích, xác định được HS muốn biết gì, chỉ ra
được cách đánh giá sự hiểu bài của HS. Tất cả những điều trên cần phải được tính toán
trước khi triển khai hoạt động. Ke hoạch cho việc đánh giá bài học theo dự án, đê:
-
Sử dụng nhiều phương pháp đánh giá khác nhau.
xem mức độ hoàn thành của mình đã đáp ứng yêu cầu của mục tiêu bài học chưa. Qua đó,
HS sẽ tự đánh giá các nỗ lực và sự tiến bộ của bản thân, nhìn lại quá trình, phát hiện
những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân và cao hơn nữa là HS có thể phản hồi lại
quá trình học tập của mình.
Tự đánh giá sẽ giúp HS ý thức hơn về quá trình học của bản thân. Kết quả là kiến
thức sẽ được tổ chức có hệ thống hơn và dễ tiếp cận hơn, HS cũng có ý thức rõ hơn về
điểm mạnh, điểm yếu và học cách tiến bộ cho các dự án tiếp theo.
Tự đánh giá đòi hỏi mức độ trách nhiệm và sáng kiến cao hơn đối với HS, nó sẽ
làm tăng mức độ tham gia của HS. Thông qua đó, GV sẽ học cách nhìn từ quan điểm của
HS. Những định kiến về cá nhân HS sẽ được loại bỏ. Mặt khác, thông qua tự đánh giá HS
sẽ thấy được các tiêu chí có thể khác biệt tùy theo mục tiêu và bối cảnh.
*
Đánh giá đồng đắng
Đánh giá đồng đắng giúp HS làm việc hợp tác. Các HS sẽ tự đánh giá lẫn nhau dựa
theo các tiêu chí đã được định sẵn. Các em sẽ học cách áp dụng các tiêu chí đánh giá một
cách khách quan. Đánh giá đồng đẳng đòi hỏi các kỹ năng giao tiếp tốt. Các em cần đưa
ra phản hồi cho các bạn khác bên cạnh những nhận định mang tính tích cực. Tuy nhiên,
GV không nên để HS quyết định tất cả việc đánh giá mà cần phải hướng dẫn HS thực
hiện đánh giá đồng đẳng và coi đó như một phần của quá trình học tập.
Đánh giá đồng đẳng cho phép HS tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập và
đánh giá, không chỉ cung cấp thông tin về kết quả học tập của HS sau khi được đánh giá ,
mà còn phản ánh được năng lực của người đánh giá về sự trung thực và sáng tạo, linh
hoạt, trí tưởng tượng, sự đồng cảm..., tạo động lực cho HS biết học cách học kiến thức
mới chứ không chỉ tập trung vào vấn đề diêm số.
18
-
thu
1.1 Lựa chọn chủ
đề
1.2 Xác đinh mục
tiêu dự án
1.3 Xây dựng kế
hoạch thục hiện
săn
pham.
2.1 Thu thập và
Họp thức hóa kiến
xử lý thông tin
thức
2.2
Tổng hợp
thông tin
2.3 Xây dụng sản
phẩm
chủ đề tạo thành một nhóm.
1.3. Xây dụng kế hoạch thực hiện
Từ các tiểu chủ đề, các HS cùng một nhóm thảo luận lập kế hoạch thực hiện dự án
dưới sự hướng dẫn của GV. Khi xây dựng kế hoạch cần xác định các nhiệm vụ cần thực
hiện để đạt được mục tiêu, đồng thời phân công các thành viên trong nhóm ai sẽ làm
nhiệm vụ gì và thời gian hoàn thành, xác định phương tiện hỗ trợ, vật liệu, kinh phí, dự
kiến sản phẩm và phương pháp tiến hành.
Sau khi lập kế hoạch thực hiện, các nhóm cử đại diện trình bày, các nhóm khác và
GV bố sung ý kiến, HS chỉnh sửa và hoàn thiện kế hoạch.
Bước 2. Thực hiện dự án
Khi các nhóm đã hoàn thiện kế hoạch thực hiện dự án, GV hướng dẫn HS cách
thực hiện dự án.
2.1. Thu thập và xử lý thông tin
Thu thập thông tin theo nhiệm vụ được phân công trong nhóm, có thể thu thập
thông tin từ sách, báo, tranh ảnh, internet, hoặc làm thực nghiệm. Các phương tiện hỗ trợ
cần sử dụng như máy ảnh, camera, máy vi tính...
-
20
-
Sau khi đã thu thập được các dữ liệu, cần tiến hành xử lý dữ liệu. Các thành viên
trong nhóm thường xuyên trao đổi thảo luận để tập hợp dữ liệu, giải quyết vấn đề, kiểm
tra tiến độ. Đồng thời xin ý kiến, trao đổi, sự giúp đỡ kịp thời từ phía với GV để đảm bảo
tiến độ và hướng đi của dự án.
2.2. Tổng họp thông tin
Sau khi xử lý, tập hợp các thông tin, các thành viên trong nhóm đi đến sự thống