LỜI MỞ ĐẦU
Ra đời từ năm 1992 cho đến nay Bảo hiểm y tế (BHYT) đã trải
qua 15 năm thực hiện. Sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng, quan điểm,
định hướng lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đã nói lên thành tựu to
lớn của chính sách này. Từ một khái niệm còn xa lạ đối với mỗi người dân
trong những ngày đầu nay đã trở nên khá quen thuộc. BHYT là giải pháp hữu
hiệu trong việc thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác y tế, quỹ Bảo hiểm
xã hội (BHXH) là nguồn lực quan trọng góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong thời kỳ đổi
mới. Chính sách BHYT đã góp phần vào thực hiện mục tiêu xoá đói giảm
nghèo và công bằng xã hội. BHYT đã giúp cho hàng triệu người có thu nhập
thấp, người nghèo, người mắc bệnh nặng được khám chữa bệnh mà vẫn
không ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình, không lâm vào cùng quẫn về
kinh tế khi mắc bệnh phải điều trị với chi phí lớn.
Tuy nhiên một thực trạng đáng lo ngại hiện nay- đó là sự mất cân đối thu- chi
của quỹ BHYT mà chủ yếu sự mất cân đối này diễn ra ở khu vực BHYT
người nghèo và BHYT tự nguyện của nhân dân. Theo báo cáo, hầu hết các
quỹ BHYT tự nguyện ở địa phương đều bị thâm hụt; BHXH các tỉnh, thành
phố đã thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT tự nguyện trên 743 tỷ đồng,
vượt 50% so với dự kiến thu cả năm 2006. Sự mất cân đối thu- chi của quỹ
BHYT xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: do hình thức thanh toán
không phù hợp, do chi phí khám chữa bệnh ngày càng tăng cao, do mức đóng
thấp hơn mức lương,…trong đó còn có cả nguyên nhân từ sự thiếu hợp lý của
hệ thống văn bản pháp luật về BHYT.
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, em đã chọn đề tài “Một số vấn đề về tình
trạng bội chi quỹ BHYT tự nguyện ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài “ QUẢN
LÝ QUỸ BHYT “
Do còn hạn chế về kiến thức cũng như tài liệu tham khảo nên chắc
chắn còn rất nhiều thiếu sót và hạn chế. Rất mong được quý cô giáo đóng góp
ý kiến chỉ bảo để em có cơ hội rút kinh nghiệm cho những lần sau.
Em xin trân thành cám ơn !
BHYT trước hết là một nội dung của BHXH - một trong những bộ phận quan
trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội.
Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ưu đãi xã hội, chế độ
bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt
động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự
bình ổn xã hội. Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH như vậy, cho
nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nước
đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH. Đó cũng là một
cơ sở quan trọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tư nhân về y
tế. Trong các nước công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tư nhân cũng
được phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế. Vì vậy, nói đến
BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách
khác là BHYT theo luật pháp.Thực ra BHXH ở nước ta hiện có các chế độ:
Chế độ trợ cấp ốm đau, Chế độ trợ cấp thai sản, Chế độ trợ cấp tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hưu trí, Chế độ tử tuất thì cũng có thể hiểu
BHYT là Chế độ khám chữa bệnh.
Khi lâm bệnh, người bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để được khám chữa
bệnh (KCB). Cũng từ bệnh tật, nhất là những bệnh tật kinh niên, bệnh mãn
tính hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫn đến các khoản chi phí KCB cực kỳ lớn. Có
những người bệnh phải được sử dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong việc
chẩn đoán và chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền và phải lưu
trú dài ngày tại bệnh viện. Những khoản chi phí này không phải ai cũng có
thể tự lo liệu được. Bệnh tật đã dồn con người vào những thảm cảnh đáng lo
ngại. Đối với những người bệnh do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mượn
để chữa trị bệnh tật và sau đó trả nợ và có nhiều người cũng không thể vay
mượn để tiếp tục được chữa trị. Những người có điều kiện kinh tế khá giả hơn
hoặc cận nghèo thì sau những đợt bệnh tật cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh
nghèo khó. Đồng thời, với bệnh tật cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do
định nghĩa BHYT nêu trên, thì sự đoàn kết tương trợ vừa mang một ý nghĩa
tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất về
quan điểm chung. Người ta còn cho rằng: Đoàn kết tương trợ là nền tảng xã
hội cho sự phát triển của mỗi chế độ xã hội loài người và nó mang lại một
gương mặt nhân đạo mới cho chế độ xã hội đó. Tính nhân đạo của hoạt động
đoàn kết tương trợ sẽ đánh dấu bước tiến bộ của thể chế xã hội. Đây cũng
chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thường đề cập
đến. Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải
là nghĩa vụ đóng góp. Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội được
gắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền chặt về
đoàn kết thì cần thực hiện nhiều hơn sự công bằng. Điều đó chỉ có thể được
tạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực tế, vì "sự công bằng" là yếu tố động,
nó chỉ đạt được tại một thời điểm, còn lại đều là sự không công bằng. Đây là
một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội. Do vậy, cần phải có
sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằm đảm bảo mối
quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động của BHYT.
Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết
kinh tế vĩ mô thì công cụ BHXH - trước hết phải kể đến BHYT là công cụ thứ
hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần bảo đảm
sự bình đẳng và công bằng xã hội.
Luật BHYT bao giờ cũng phải đề cập đến phạm vi đối tượng tham gia và
nghĩa vụ đóng góp. Theo thông lệ chung, người lao động căn cứ vào khả năng
thu nhập từ hoạt động lao động của bản thân mình mà có nghĩa vụ đóng góp
hàng tháng theo tỷ lệ quy định vào quỹ BHYT. Tỷ lệ đóng góp sẽ được các
cấp có thẩm quyền xem xét điều chỉnh hàng năm căn cứ vào diễn biến về chi
phí KCB chung của cả cộng đồng những người tham gia BHYT vào những
năm trước và dự báo tình hình của năm tới.
Trong quá trình phát triển lịch sử của BHXH thì BHYT là lĩnh vực được phát
chất bắt buộc) và ban đầu là BHYT cho người lao động làm thuê (người có
quan hệ lao động), rồi đến BHYT cho người lao động tự do, cho người lao
động trong nông nghiệp ... cho đến khi BHYT toàn dân.
Quá trình phát triển của lịch sử BHXH trên thế giới đã chứng minh sự cần
thiết của BHYT là một hoạt động bảo hiểm trước hết của cộng đồng xã hội
chống lại rủi ro về bệnh tật gây nên. Đồng thời, loại rủi ro bệnh tật này luôn
có khả năng tác động đến mọi thành viên trong xã hội, ở mọi lứa tuổi từ trẻ sơ
sinh cho đến người già cả, ở mọi môi trường và mọi điều kiện sống khác
nhau... Vì vậy, BHYT luôn là mạng lưới bảo hiểm bao trùm rộng khắp nhất.
Trong hệ thống BHYT, rủi ro cần được bảo hiểm cũng như những dịch vụ y
tế cần thiết cho từng trường hợp cụ thể, mỗi người bệnh có thể nhận được đầy
đủ các dịch vụ y tế và thuốc men cần thiết mà không theo phương thức bảo
hiểm thuần tuý (tức là căn cứ vào mức đóng thì nhận được một mức hưởng
tương ứng) và hoàn toàn không có ý nghĩa khi xem xét đến mức lương làm
căn cứ đóng bảo hiểm.
Nếu nhìn nhận dưới giác độ kinh tế thì BHYT trước hết được hiểu là sự hợp
nhất kinh tế của số lượng lớn những người trước cùng một loại hiểm nguy do
bệnh tật gây nên mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước
và lo liệu được. Nhưng cái chung đó cần phải đáp ứng được bằng nguồn tài
chính dự tính một cách thoả đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương
ứng do Nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện.
Cụ thể như sau:
Tổng chi phí cho khám chữa bệnh = Tổng số tiền đóng góp của những người
tham gia BHYT.
Như vậy, cân đối về chi phí KCB được thực hiện cân bằng giữa một bên là
tổng số chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia
là tổng số đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT bất kể họ có hoặc
không có nhu cầu KCB (tức là cả những người đang khoẻ mạnh). Thời gian
gồm những đối tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được
bảo vệ về sức khoẻ. Những đối tượng cụ thể sẽ được quy định trong pháp
luật.
BHXH về y tế được thực hiện trước hết đối với những người lao động phụ
thuộc, tức là người lao động không có tư liệu sản xuất và phải đi làm thuê hay
những người có quan hệ lao động. Đây là loại hình BHXH nghĩa vụ, nó mang
tính chất bắt buộc đối với mọi người lao động phụ thuộc và chủ sử dụng lao
động. Sau đó với bản chất ưu việt của BHXH về y tế nên nó được mở rộng ra
các đối tượng lao động khác như người hành nghề tự do, lao động nông, lâm
ngư nghiệp... và BHYT theo đơn vị gia đình.
Vấn đề KCB không đơn thuần chỉ liên quan đến vấn đề kỹ thuật y tế mà còn
liên quan một cách rất chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế như: các khoản chi trả
cho các nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật (khám bệnh, phẫu thuật, thủ thuật...)
của các bác sĩ, chi phí cho bệnh viện với các trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ
cho KCB và thuốc men - nếu nhìn dưới giác độ kinh tế - đó là "Cung" của
ngành y tế. Còn phía "Cầu" là bệnh tật, những bệnh tật này cần đến các dịch
vụ KCB và những hàng hóa cần thiết cho sức khoẻ. Vì vậy khi thực hiện
BHYT, ở các nước công nghiệp phát triển bên cạnh việc sử dụng vai trò điều
tiết của Nhà nước, người ta còn chú trọng sử dụng quan hệ cung - cầu điều
tiết trên thị trường sức khoẻ hay còn gọi là thị trường y tế nhằm đảm bảo sử
dụng hiệu quả nguồn quỹ đóng góp của người tham gia BHYT và nâng cao
chất lượng KCB.
Trong các nước công nghiệp phát triển ở châu Âu, số người tham gia BHYT
theo luật pháp chiếm tới 90% dân số, chỉ 10% dân số còn lại không tham gia
BHXH. Nhóm người này không thuộc diện đối tượng điều chỉnh của luật
BHYT và phần lớn trong số họ là những người giàu có, họ có đủ khả năng tự
lo liệu khi ốm đau hoặc tham gia BHYT tư nhân để hưởng những quyền lợi
cao hơn khi ốm đau.
- Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật doanh nghiệp, Luật đầu
tư;
- Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp
tác xã;
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức
chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp,
tổ chức xã hội- nghề nghiệp và tổ chức xã hội khác;
- Cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ
trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên tham gia có quy định khác;
- Các tổ chức khác có sử dụng lao động được thành lập và hoạt động
theo quy định của pháp luật.
b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
bao gồm:
- Cán bộ được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh
theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương và địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước;
- Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh
trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp; công nhân quốc phòng làm việc trong cơ quan, đơn vị
thuộc Bộ Quốc phòng; cán bộ, công chức không phải là sĩ quan, hạ sĩ
quan chuyên nghiệp làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng
Công an nhân dân và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự
nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội trong
biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
- Cán bộ xã, phường, thị trấn, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ
trong Thường trực Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí
ngày 12/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Pháp lệnh Cựu chiến binh; thanh niên xung
phong thời kỳ kháng chiến chống Pháp theo Quyết định số
170/2008/QĐ-TTg ngày 18/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chế
độ bảo hiểm y tế và trợ cấp mai táng phí đối với thanh niên xung phong
thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
11. Người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước là các
đối tượng quy định tại Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày
08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với
một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước
nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước và Quyết
định số 188/2007/QĐ-TTg ngày 06/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ
về việc bổ sung, sửa đổi Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày
08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với
một số đối tượng trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước
nhưng chưa được hưởng chính sách của Đảng và Nhà nước.
12. Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương
nhiệm.
13. Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng là các
đối tượng quy định tại Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007
của Chính phủ hướng dẫn về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ
xã hội.
14. Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh
sống tại vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn
theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
15. Thân nhân của người có công với cách mạng thực hiện theo quy
định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.
16. Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a, b và c khoản 16
quan BHXH.
1.3 Các dịch vụ kỹ thuật sử dụng trực tiếp cho người bệnh BHYT tại cơ
sở KCB BHYT theo danh mục và giá đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
gồm:
- Chi phí xét nghiệm, thăm dò chức năng và chuẩn đoán hình ảnh.
- Chi phí các loại thủ thuật, phẫu thuật sử dụng trong chuẩn đoán và
điều trị.
- Chi phí các dịch vụ kỹ thuật trong danh mục dịch vụ kỹ thuật phục
hồi chức năng ban hành kèm theo Thông tư số 11/2009/TT-BYT ngày
14/08/2009 của Bộ Y tế.
1.4 Thuốc, hóa chất, dịch truyền có trong danh mục thuốc chữa bệnh
chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB theo quy định của Bộ Y tế; riêng trẻ em
dưới 6 tuổi được sử dụng các thuốc có dạng dùng thuận tiện, phù hợp như
siro, bột thơm, cốm.
1.5 Thuốc điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danh mục
thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB theo quy định của Bộ y
tế nhưng đã được phép lưu hành tại Việt Nam theo chỉ định của cơ sở KCB,
quỹ BHYT chi trả 50% chi phí thuốc này đối với các trường hợp:
- Người đã có thời gian tham gia BHYT liên tục từ 36 tháng trở lên.
- Trẻ em dưới 6 tuổi.
- Các đối tượng thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, ban Cơ yếu Chính
phủ quản lý được hưởng chế độ KCB miễn phí theo quy định nay nghỉ hưu,
chuyển ngành đang tham gia BHYT.
1.6 Máu và các chế phẩm của máu theo quyết định của Bộ trưởng bộ Y
tế.
1.7 Vật tư y tế tiêu hao, vật tư y tế thay thế có trong danh mục của Bộ
Y tế (trừ các loại vật tư y tế tiêu hao, vật tư y tế thay thế đã được tính trong cơ
cấu giá thu một phần viện phí của các dịch vụ y tế).
gấp nhiều lần (theo thống kê) như BVĐK huyện Đoan Hùng, Phú Thọ. Khoa
Y học cổ truyền và Phục hồi chức năng chỉ có 22 cán bộ nhân viên nhưng
riêng ngày 1-7-2011 đã thống kê, đề nghị thanh toán 254 lượt sóng ngắn, 46
lượt kéo giãn cột sống thắt lưng, 21 lượt kéo giãn cột sống cổ, 278 lượt điện
châm, 247 lượt siêu âm điều trị, 254 lượt điện xung, 240 lượt hồng ngoại, 271
lượt xoa bóp bằng tay, 257 lượt thủy châm. Chi phí của riêng khoa này đã
chiếm tới 50% chi phí khám chữa bệnh của toàn bệnh viện.
Những hình thức "rút ruột" quỹ BHYT và "móc túi" bệnh nhân như trên là
hoàn toàn sai phạm. Tuy nhiên, để xử lý được thì lại còn nhiều vướng mắc.
Ông Phạm Lương Sơn chia sẻ, mặc dù đã có Nghị định số 92/2011/NĐ-CP
ngày 17-10-2011 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHYT. Mức
xử phạt với hành vi vi phạm như kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật
tư y tế, dịch vụ kỹ thuật… mà người bệnh không sử dụng, tối đa là 40 triệu
đồng/hành vi. Thế nhưng đến nay vẫn còn bất cập trong công tác xử phạt, bởi
lẽ BHXH là nơi tổ chức kiểm tra, xác định các hành vi vi phạm còn quyền xử
phạt lại thuộc về Thanh tra Bộ Y tế. Mà từ đó đến nay BHXHVN không hề có
thông tin gì về việc Thanh tra Bộ Y tế có xử lý những cơ sở y tế vi phạm đó
hay không…
Người đóng tăng nhưng vẫn lo bội chi
Theo ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội, năm 2007, ước tính có
40 triệu người (tương đương 48% dân số) tham gia BHYT, tăng 17% so với
năm 2006. Tại một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, số người tham gia
BHYT chiếm 70% - 75% dân số. Sau hơn 10 năm triển khai BHYT, đây là
thời kỳ BHYT tự nguyện phát triển nhanh nhất. Dự tính, số thu BHYT đến
cuối năm 2007 là 7.000 tỷ đồng, tăng khoảng 56% so với năm 2006.
Tuy nhiên, theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, riêng
năm 2006, quỹ BHYT đã bội chi gần 1.620 tỷ đồng. Trong đó, trên 50% bội
chi do BHYT tự nguyện nhân dân (900 tỷ đồng). Trong hai năm 2005 và
2006, quỹ BHYT đã bội chi gần 2.000 tỷ đồng.
Giảm bớt phiền hà, chồng chéo
pháp khác liên quan đến BHYT.
Theo quy định tại Điều 33 Luật BHYT nguồn hình thành quỹ BHYT
từ:
1. Tiền đóng BHYT theo quy định của Luật BHYT.
2. Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ BHYT.
3. Tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
4. Các nguồn thu hợp pháp khác.
Hằng tháng tiền BHYT bằng 4,5% mức tiền lương, tiền công tháng của
người lao động, trong đó người sử dụng lao động đóng 2/3 ( 3%) và người lao
động đóng 1/3 (1,5%). Đồng thời, mức tiền công, tiền lương tối đa để tính
mức đóng bảo hiểm y tế là 20 lần mức lương tối thiểu.
3. Mức đóng BHTN:
Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN.
Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công đóng
BHTN của những người lao động tham gia BHTN.
Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng
đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN.
2, mục đích sử dụng BHYT
Theo quy định tại khoản 1, Điều 35 Luật BHYT, quỹ bảo hiểm y tế
được sử dụng cho các mục đích sau :
1. Thanh toán chi phí KCB BHYT.
2. Chi phí quản lý bộ máy tổ chức thực hiện BHYT theo định mức chi hành
chính của cơ quan nhà nước.
3. Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHYT theo nguyên tắc an toàn,
hiệu quả.
4. Lập quỹ dự phòng KCB BHYT. Quỹ dự phòng tối thiểu bằng tổng chi
KCB BHYT của hai quý trước liền kề và tối đa không quá tổng chi KCB
BHYT của hai năm trước liền kề.
phối hợp công tác giữa cơ sở KCB BHYT với BHXH tỉnh và huyện để sử
dụng quỹ KCB đúng mục đích, an toàn, hiệu quả, tiết kiệm, không tiêu cực.
Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, áp dụng phần mềm tin học vào quản lý
tạo thuận lợi cho đối tượng BHYT được KCB thuận lợi; tăng cường phối hợp
thực hiện hướng dẫn thực hiện quy chế phối hợp liên ngành ở cấp huyện để
thực hiện tốt công tác KCB tại bệnh viện, phòng khám đa khoa khu vực và
trạm y tế xã, phường. Nâng cao năng lực chuyên môn đội ngũ giám định viên
y tế để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Các cơ sở KCB BHYT cần nâng cao
chất lượng KCB, nâng cao tinh thần phục vụ bệnh nhân, thực hiện đúng quy
chế chuyên môn, công tác bệnh viện (chế độ đón tiếp bệnh nhân, chế độ khám
bệnh kê đơn, hội chẩn, sử dụng thuốc an toàn, hợp lý), đồng thời tăng cường
công tác quản lý bệnh nhân nội, ngoại trú, chuyển tuyến
5. QUỸ BHYT của VIỆT NAM,thực trạng và giải pháp
Còn nhiều điều bất cập!
Những năm qua, việc chữa bệnh cho bệnh nhân có thẻ BHYT ở Hà Nội
ngày càng tăng. Theo thống kê của Sở Y tế, năm 2001 có 249.667 lượt bệnh
nhân tham gia nội trú và ngoại trú KCB có BHYT với tổng kinh phí 134,888
tỷ đồng thì 6 tháng đầu năm nay, đã lên tới 837.726 lượt người với kinh phí
trên 106 tỷ đồng. KCB tăng, chi phí cho KCB cũng tăng do sự phát triển kinh
tế - xã hội, cơ chế quản lý tài chính hiện hành, nhu cầu sử dụng các dịch vụ kỹ
thuật cao của người bệnh... là một trong những yếu tố làm nảy sinh nhiều khó
khăn trong việc triển khai KCB-BHYT.
Hiện nay, bệnh nhân KCB-BHYT cùng tham gia chi trả một phần viện
phí, do đó BHXH định ra giá trần cho các cơ sở KCB, tuy nhiên giá trần này
còn quá thấp so với thực tế điều trị, cách tính giá trần không theo số ngày điều
trị mà theo đợt điều trị. Như vậy, bệnh viện sẽ phải “bù” tiền viện phí của
những bệnh nhân điều trị ít ngày cho các bệnh nhân phải nằm điều trị lâu nên
viện phí BHYT tăng nhiều. Do cách tính này, nhiều bệnh viện có sự cân đối
tế cần tăng cường hơn nữa việc chỉ đạo các bệnh viện, trung tâm y tế giám sát
chuyên môn, nghiệp vụ định kỳ, đột xuất để phát hiện và điều chỉnh kịp thời
những vi phạm về quy chế chuyên môn tại khoa, phòng, bệnh viện. Giám đốc
các đơn vị phải chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện người bệnh,
chú trọng thái độ tiếp xúc của nhân viên y tế với người bệnh, đầu tư máy móc
trang thiết bị hiện đại để bảo đảm chẩn đoán, điều trị tại cơ sở, hạn chế việc
chuyển bệnh nhân lên tuyến trên.
Đối với Bộ Y tế, cần nhanh chóng hoàn thiện sửa đổi, bổ sung cơ chế
thu viện phí để Chính phủ phê duyệt, khắc phục những hạn chế do cơ chế tài
chính cũ không còn phù hợp trong hoạt động KCB-BHYT. Cơ quan BHXH
cũng phải có kế hoạch sử dụng, cân đối quỹ KCB-BHYT một cách hợp lý,
hiệu quả, bảo đảm quyền lợi cho nhân dân, tuân thủ các quy định tài chính
theo đúng luật pháp, có như vậy, sự phối hợp chặt chẽ của ba thành phần: cơ
quan quản lý quỹ BHYT (BHXH), bệnh viện, trung tâm y tế thực hiện KCB-
BHYT và người bệnh có thẻ BHYT mới cải thiện được chất lượng, nâng cao
hiệu quả KCB cho người tham gia BHYT.
6. các giải pháp nhằm cân đối quỹ BHYT tại VN
Thực tế cho thấy, chính sách BHYT ở Việt Nam đã có những bước
phát triển đáng kể và đang hoàn thiện dần về mặt pháp lý qua các giai đoạn
với việc Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT kèm theo các Nghị định số
299/HĐBT ngày 15/8/1992; Nghị định số 58/1998/NĐ - CP ngày 13/8/1998
và Nghị định số 63/2005/NĐ - CP ngày 16/5/2005. Theo đó, các loại hình tổ
chức thực hiện BHYT, các nhóm đối tượng tham gia chính sách BHYT cũng
như quyền lợi của người bệnh có thẻ BHYT đã ngày càng được phát triển, mở
rộng. Sự gia tăng, mở rộng của BHYT làm cho nguồn thu của BHYT tăng
lên. Nhưng bên cạnh đó số chi BHYT cũng tăng theo, không những thế chất
lượng BHYT ngày càng nâng cao và mức chi trả BHYT ngày càng tăng. Việc
mở rộng phạm vi chi trả, nhất là khi thanh toán cho những ca khám chữa bệnh