SÁNG KIẾN
Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ, CHỈ ĐẠO DUY TRÌ SĨ SỐ VÀ
ĐẢM BẢO TỈ LỆ CHUYÊN CẦN HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC
VÕ VĂN TẦN.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trường TH Võ Văn Tần là một trường tiểu học nằm ở địa bàn khó khăn của xã,
điều kiện giảng dạy và học tập vẫn còn gặp nhiều khó khăn như:
-Địa bàn học sinh đến trường rộng, nhà xa trường, giao thông đi lại chủ yếu
bằng đường thủy, hoàn cảnh gia đình ở địa bàn khác nhau.
-Cơ sở vật chất còn thiếu thốn về bàn, ghế đúng quy cách, trang thiết bị dạy
học chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
-Phần đông con em thuộc diện nghèo, cha mẹ đi làm ăn xa, ít quan tâm đến đến
việc giáo dục con em ngoài giờ đến lớp.
Trong những năm qua, hiện tượng nghỉ học, bỏ học ở học sinh diễn ra khá phổ
biến, là mối quan tâm trăn trở của những người làm nghề “Trồng người” và cũng là
mối quan tâm của các bậc phụ huynh.
*Với những thực trạng nêu trên là yếu tố không nhỏ dẫn đến học sinh
không ham thích đến trường. Với vai trò là lãnh đạo một đơn vị trường học còn
gặp nhiều khó khăn về các mặt. Bản thân đã tìm hiểu nguyên nhân và đã có
được những yếu tố vì sau học sinh bỏ học và không thường xuyên đến trường
xuất phát từ những nguyên nhân sau:
1
-Trong gia đình: Gia ỡnh l yu t rt cn thit cho s phỏt trin ca tr. Kinh
nghim cho thy tr sng trong mt gia ỡnh m cỏc thnh viờn gn bú cht ch vi
nhau, c bit l mi quan h n nh gia cha v m to cho tr thun li trong
hc tp. Nhng cng cú nhng vn ngc li vi nhng tr sng trong mt gia
ỡnh cú s bt hũa gia cha v m. iu ỏng bun l ngy nay theo nhp sng ca
nn kinh t th trng, do bn rn nhiu cụng vic. Cỏc bc cha m ớt cú thi gian
Một số học sinh gặp trở ngại trong việc làm toán như: những trục trặc ban đầu
về phát triển kỹ năng trong phép đếm, phép cộng, phép trừ, những trục trặc trong
việc lưu giữ kiến thức trong trí nhớ. Từ đó, những con số, những bài toán trở thành
sự khó khăn, vất vả trong môn học và những bài kiểm tra đã trở thành bức rào ngăn
cách đối với các em.
Một số học sinh tỏ ra tự ti khi bạn bè trêu ghẹo vì bài viết chính tả, tập làm văn
bị điểm thấp và dẫn đến cảm thấy mình thua kém bạn bè, sự mặc cảm ngày càng
gia tăng.
-Về phía giáo viên:
Còn coi nhẹ công tác duy tŕ sĩ số và đảm bảo tỉ lệ chuyên cần hàng ngày. Một
số thầy cô giáo chỉ quan tâm đến việc dạy mà không coi trọng công tác chủ nhiệm
lớp, chưa nhận thức rõ, đúng đắn, sâu sắc nội dung cũng như tầm quan trọng của
việc duy tŕ sĩ số và tỉ lệ chuyên cần hàng ngày.
Xuất phát từ mục đích yêu cầu và tầm quan trọng của việc giáo dục cho học sinh,
trước tình hình thực tế, cũng như thực trạng, từ những nguyên nhân. Lµ ngưêi
qu¶n lý gắn với chức năng là một cơ quan giáo dục, nhà trường vẫn luôn giữ vai
3
trũ ch o trong vic giỳp cỏc em yờn tõm hc tp m khụng ngh hc, b hc
cng nh vn ng thuyt phc hc sinh b hc tr li trng v xem vic n
trng hc cỏc mụn hc l (mc tiờu) ca chớnh cỏc em..
- hc sinh thc hin tt mc tiờu n trng, trong nhng nm hc
qua, bn thõn tụi ó ch ng tỡm hiu, ỏp dng nhiu bin phỏp, cỏch thc v
bc u ó t c hiu qu.
Trong khuụn kh hn hp ny, tụi xin trỡnh by một số kinh nghim ó thc
hin nhng nm qua v trng TH Vừ Vn Tn xó Khỏnh Hũa, huyn U Minh.
MT S BIN PHP QUN L CH O DUY TRè S S V T L
CHUYấN CN HC SINH TRNG TIU HC Vế VN TN
nền kinh tế, song lại là mảnh đất tốt cho tư tưởng cơ hội, thực dụng vụ lợi phát
triển chủ nghĩa cá nhân ích kỷ coi đồng tiền là trên hết dẫn đến sự xuống cấp về ư
thức chuyện học tập của con em từ người lớn đến trẻ em, đến mọi mặt của đời sống
xã hội cụ thể là:
Trong gia ®×nh:
+ Một số cha mẹ học sinh thiếu ý thức trong việc quan tâm chăm lo việc học
tập của con em, một số gia đình còn khoán trắng bỏ mặc cho nhà trường và xã hội,
thậm chí còn nuông chiều con cái thiếu văn hoá dẫn đến một số học sinh thiếu ý
thức trong học tập, chán nản đến trường.
5
+ Một số gia đ́nh nghèo không đất sản xuất, đời sống không ổn định cuộc
sống chủ yếu bằng nghề làm thuê.
+ Cha, mẹ đi làm ăn xa và lao động ở xa giao con lại cho ông bà.
Ngoài xã hội:
Hiện tượng tiêu cực, hành vi lôi kéo như một số tụ điểm Internet ảnh hưởng
lớn đến việc các em đến trường.
Trong nhà trường:
Học sinh tiểu học phần lớn là ngoan, biết vâng lời cô giáo, thực hiện tốt nội
quy, qui định của nhà trường đề ra. Tuy nhiên đánh giá một cách khách quan mà
nói học sinh hiện nay rất nhạy cảm, rất dễ thích ứng với các hiện tượng tiêu cực
ngoài xã hội: hiện tượng bỏ học, thường xuyên nghỉ học, không ư thức học tập vẫn
còn. Sở dĩ vẫn còn có các các hiện tượng trên tôi nghĩ nguyên nhân do:
+Gia đình cha thật sự quan tâm đến đời sống tinh thần của con cái.
+Do tác động mặt trái của cơ chế thị trường vào môi trường sống của học sinh.
- Về phía giáo viên:
+ Còn coi nhẹ công tác duy tŕ sĩ số và đảm bảo tỉ lệ chuyên cần cho học sinh.
+Một số thầy cô giáo chỉ quan tâm đến việc truyền thụ kiến thức văn hoá, chưa
%
động
%
năm
Tỉ lệ %
Tỉ lệ %
94,69%
8
2,82
4
1,41
2,36
2,95
3. Biện pháp giải quyết vấn đề
Việc quản lư và chỉ đạo để thực hiện tốt công tác duy tŕ sĩ số và đảm bảo tỉ lệ
chuyên cần là một quá trình lâu dài liên tục, diễn ra ở nhiều môi trường khác nhau,
liên quan đến nhiều mối quan hệ phức tạp. Vì thế trong giáo dục cho học sinh ham
thích đến trường và đi học đều, đúng giờ ở học sinh tiểu học cần phải linh hoạt,
thức và học tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Phối hợp với nhà trường tuyên truyền và vận động đến gia đình học sinh bỏ học
nghỉ học trở lại lớp.
* Thông qua sổ liên lạc.
- Chỉ đạo mỗi giáo viên sử dụng có hiệu quả tác dụng của sổ liên lạc hàng năm
(4 lần) giáo viên thông báo tới các bậc cha mẹ học sinh về tình hình học tập, rèn
luyện, ý thức từng em trong thời gian đến đến lớp. Ngược lại giáo dục cũng thông
qua sổ liên lạc ghi lại nhận xét tình hình của con em mình ở nhà. Qua đó người
giáo viên có những biện pháp giáo dục phù hợp với từng học sinh.
-Thông báo tỉ lệ chuyên cần của từng học sinh hàng tháng.
8
* Thông qua các buổi họp phụ huynh.
- Tiến hành họp nghiêm túc, đầy đủ thành phần của nhà trường và nội dung của
cuộc họp.
- Tại các buổi họp phụ huynh. Nhà trường thông báo tới các bậc phụ huynh nội
quy, qui định về học tập, nề nếp của nhà trường tới các bậc phụ huynh cùng đôn
đóc học sinh thực hiện.
- Thông qua với gia đình ư nghĩa thiết thực và tầm qua trọng của việc duy tŕ sĩ
số không có hiện tượng học sinh ngoài nhà trường và đảm bảo tỉ lệ chuyên cần của
học sinh giúp các em nắm được kiến thức và học tốt góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục trong nhà trường. Phụ huynh trao đổi với giáo viên về việc đảm bảo tỉ lệ
chuyên cần. Với những học sinh nghỉ học nhiều, giáo viên cần trao đổi cụ thể với
gia đình nắm được lí do. Kết hợp với gia đình có các biện pháp cụ thể: cã thÓ mÒm
dÎo nhưng thËt kiªn quyÕt víi nh÷ng em nghỉ học nhiều ngày và nghỉ học thời gian
dài.
- Nghỉ học phải xin phép và có xác nhận của cha mẹ học sinh. Không nghỉ học
với lí do không thiết thực.
+Đọc những bài văn, bài thơ, lời dạy của Bác Hồ dành cho các em thiếu nhi
-Thông qua buổi sinh họat này nhầm đánh giá những mặt là được và những mặt
hạn chế, biểu dương nêu gương điển hình những cá nhân đi học đều, đúng giờ, lớp
đạt tỉ lệ chuyên cần cao, chỉ rỏ những hành vi sai trái nhầm khắc phục sữa chữa để
thực hiện và phát huy tốt hơn đi học đều.
3.3. Các hoạt động chỉ đạo trong nhµ trường
a) Nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên:
Để làm tốt điều này tôi luôn chỉ đạo cho cán bộ giáo viên thấy được trách
nhiệm của mình trong việc giáo dục ư thức cho học sinh về trách nhiệm được đi
10
học và đến trường. Người giáo viên không chỉ thực hiện nội dung bài giảng mà
phải rèn cho học sinh ý thức trong học tập. Học sinh tiểu học rất nghe lời và thầy
cô giáo. Các em coi thầy cô giáo là thần tượng và luôn đúng. Chính vì vậy mỗi
giáo viên phải là tấm gương sáng cho học sinh học tập và noi theo. Mổi giáo viên
cần có thái độ kiên quyết với những học sinh có biểu hiện nghỉ học, bỏ học và cùng
có trách nhiệm phối kết hợp cộng đồng trong việc duy tŕ sĩ số và đảm bảo tỉ lệ
cuyên cần.
b) Nâng cao chất lượng sinh hoạt đầu tuần và sinh hoạt tập thể.
* Chỉ đạo việc thực hiện tốt nội dung sinh hoạt lớp.
Chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả các tiết sinh hoạt đầu tuần và sinh hoạt tập thể
ở từng lớp là việc làm cần thiết của người cán bộ quản lý. Thông qua các nội dung
sinh hoạt hình thành cho các em những chuẩn mực về ư thức và trách nhiệm. Từ đó
các em có thể thực hiện trong thời gian học tập. Như vậy ngươì quản lý phải:
+ Giám sát chặt chẽ việc thực hiện các qui định đối với giáo viên, học sinh.
+Tham gia dự các tiết sinh hoạt tập thể luân phên theo từng lớp.
-Với giáo viên:
Qui định về soạn kế hoạch sinh hoạt khi lên lớp trước một tuần, ký duyệt đúng
lịch sinh hoạt chuyên môn. Bài soạn phải chi tiết thể hiện rõ mục đích yêu cầu của
+Chỉ đạo trong giáo viên sinh hoạt lớp phải thiết thực và hiệu quả
+Chủ yếu là nêu gương
+Điểm lại tỉ lệ chuyên cần phải nhè nhàng trách dùi dập không làm ảnh hưởng
đến tâm lí của học sinh, khuyến khích các em chuyên cần đến lớp.
-Trong học sinh luôn có thái độ thương yêu giúp đở nhau, tránh trêu rẹo trong
các trường hợp học sinh còn yếu kém trong học tập.
12
3.4. Những yêu cầu cần thiết:
Ngoài việc xây dựng cho giáo viên trưc tiếp đứng lớp những phương pháp lấy
học sinh làm trung tâm và kết hợp các hình thức như tạo bầu không khí như gia
đình, cho học sinh tâm sự, phát biểu ý kiến, kể chuyện lòng ghép về chủ đề học tập
để có tri thức giúp ích bản thân, gia đình và xã hội.
Sinh hoạt cho mỗi giáo viên luôn có thái độ đối xử với học sinh hết sức công
bằng và gần gủi, không phân biệt đối xử với học sinh nào để tránh cho các em sự
mặt cảm. Đối với học sinh yếu kém, thiếu điều kiện học tập, thiếu tình cảm gia
đình thì càng được quan tâm chăm sóc hơn, sự dịu dàng làm cho học sinh yên tâm
hơn và ham thích đến trường.
Luôn thương yêu chăm sóc các em, vừa dạy vừa dỗ dành giáo dục các em.
Trong mọi hoàn cảnh không làm cho các em sợ sệt, không ham thích đến lớp, luôn
khuyên răng các em và giúp các em hiểu được sự sâu sắc của việc đi học. Học sinh
bậc tiểu học rất dể nghe lời, luôn dùng lời lẻ dịu dàng, an ủi giáo dục hơn dùng
hình phạt đánh mắng, sĩ nhục các em. Giúp các em phân biệt tầm quan trọng của
việc đi học và hậu quả của việc nghỉ học, bỏ học. Để từ đó các em hình thành trong
tâm trí mình sự ham thích đến trường, say mê học tập và là một người có ích cho
xã hội.
3.5. Tạo môi trường giáo dục tốt
Trong điều kiện cở vật chất của trường TH Võ văn Tần đảm bảo cho hai mùa
Đầu năm điều tra lí lịch học sinh , nắm địa bàn cư ngụ của các em để kết hợp
nhóm đi học, tạo thành nhóm học tập, phân công nhóm trưởng, nhóm phó cùng thi
đua với nhau để giữ tỉ lệ chuyên cần của nhóm mình tạo thành phong trào “Cùng
nhau đi học” Vì thế khi có học sinh nghỉ học là nhà trường biết lí do học sinh nghỉ
học do nhóm trưởng báo. Nếu lí do không chính đáng nhà trường kết hợp các bộ
14
phận liên quan đến tận gia đình nắm tình hình động viên các em đi học, nhờ cha
mẹ học sinh nhắc nhở, và chi hội của lớp động viên gia đình cho con đến lớp. Nếu
học sinh nghỉ, bỏ học vì tài chính, ốm đạo được nhà trường và tập thể lớp hổ trợ
vượt qua cùng đến lớp học tập với các bạn.
Ngoài ra học sinh nghỉ học phải xin phép, và chấp nhận những trường hợp
bênh, tai nạn. còn vài lí do khác phải động viên đi học bình thường.
b) Phong trào cùng bạn học giỏi.
Các em học kém, học yếu có tâm trạng sợ, không ham thích đến lớp, vì vậy việc
khắc phục tình trạng học sinh yếu, kém cũng hạn chế tỉ lệ học sinh bỏ học của các
em. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm năm được tình hình học tập của từng em,
phân công cụ thể học sinh giỏi phụ đạo học sinh yếu, kém cùng tiến bộ tạo thành
mọt phong trào ”đôi bạn học giỏi”
Khi phân công việc này, phải liên hệ gia đình các em để nhờ sự hổ trợ, kiểm soạt
việc học tập của các em ở nhà, lập phiếu theo dõi và đưa ra những hướng dẫn, biện
pháp để các em học tập ở nhà dưới sự quản lý của nhóm. Hàng tháng đều phải tổng
kết phong trào ”Đôi bạn học giỏi” để động viên khen thưởng các em
c) Phong trào giúp bạn vượt khó
Học sinh có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, thiếu điều kiện học tập, thiếu tình
yêu thương của bố mẹ, làm cho các em buồn nản, tủi thân mà không muốn đến lớp.
Tôi phát động phong trào “Giúp bạn vượt khó” Giáo dục các em việc này để giúp
bạn có điều kiện học tập tiến bộ như: Mình thương bạn như thương chính mình,
Kêu gọi các em tiết kiệm tiền, an quà bánh hàng ngày để tiết kiệm tiền mua tập
thêm những hiểu biết bên ngoài cuộc sống và giáo dục cho các em.
16
- Chỉ đạo mỗi giáo viên viết một sáng kiến. Phân công những giáo viên có kinh
nghiệm viết sáng kiến về duy tŕ sĩ số và đản bảo tỉ lệ chuyên cần, phối kết hợp giáo
dục ư thức cho học sinh giữa nhà trường gia đình, xã hội... Sau đó tổ chức cho mỗi
tổ trình bày đề tài của mình để toàn thể giáo viên trao đổi, bàn bạc rút kinh nghiệm
trong công tác chung tay góp phần cùng nhà trường duy tŕ sĩ số và đảm bảo tỉ lệ
chuyên cần.
3.9. Bồi dưỡng nâng cao công tác chủ nhiệm lớp.
Trong công tác chỉ đạo giáo dục ư thức cho học sinh trong việc đi học, thông
qua việc chỉ đạo thực hiện các tiết sinh hoạt tập thể, sinh hoạt dưới cờ và công tác
chủ nhiệm lớp trong nhà trường người cán bộ quản lý phải biết kết hợp nhiều biện
pháp, tiến hành một cách thường xuyên liên tục lâu dài thì mới từng bước đạt được
mục tiêu kế hoạch của năm học, tạo ra những chuyển biến sâu sắc về nhận thức về
hành vi của học sinh. Học sinh ngoan đi học đều, đúng giờ không nghỉ học có nề
nếp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
III. KẾT QUẢ VÀ VIỆC PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG NỘI DUNG VÀO
THỰC TIỂN:
1. Kết quả phổ biến ứng dụng
Với những kinh nghiệm chủ yếu trong những năm qua cũng như đã áp dụng có
hiệu quả năm học qua. Tuy không sâu sắc nhưng đã mang lại kết quả đáng kể
ở trường Tiểu học Võ Văn Tần như sau:
Số lượng, tỉ lệ /năm
Năm học/
TSHS
Nghỉ
283
8
2,82
4
1,41
2,36
2,95
94,69%
5
1,78
5
1,78
0,55
0,85
98,66%
của nhà trường, của lớp.
-Thực hiện tốt các phong trào của nhà trường đề ra.
2. Nguyên nhân thành công và sự tồn tại.
a. Nguyên nhân thành công.
-Cơ sở vật chất được sửa chữa khá tốt để phục vụ cho công tác giảng dạy.
18
-Được sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo trong công tác chỉ đạo sâu sát
cho công tác tuyên truyền ý nghĩa của việc đi học đều, phối hợp vận động học sinh
nghỉ học, bỏ học trở lại lớp.
-Sự phối hợp chặc chẽ, đoàn kết một lòng trong tập thể nhà trường cùng nhau coi
trọng và thực hiện tốt công tác duy trì sĩ số và đảm bảo tỉ lệ chuyên cần hàng ngày.
-Giáo viên ý thức tốt các tiết sinh hoạt tập thể, chào cờ đầu tuần va các hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp.
-Sự đồng tình ủng hộ của hội cha mẹ học sinh, các bậc cha mẹ học sinh với công
tác này.
b. Những vấn đề tồn tại
Bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn một số tồn tại:
Do điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn, kinh phí hạn
hẹp nên nhà trường không thường xuyên cho các em tham gia các buổi sinh hoạt
ngoại khoá.
Việc thực hiện công tác chủ nhiệm lớp trong nhà trường nhiều năm nay được
thực hiện một cách nghiêm túc, nhưng vẫn còn một số giáo viên nhận thức chưa
đầy đủ nên còn coi nhẹ công việc này này mà chỉ tập trung vào giảng dạy các môn
học. Có những giáo viên soạn bài còn sơ sài chiếu lệ, h́nh thức và nội dung sinh
hoạt còn lơ mơ, lộn xộn, phương pháp sử dụng còn cứng nhắc, không linh hoạt
hiệu quả sinh hoạt còn chưa cao.
Còn một số giáo viên chưa thực sự chú trọng đến việc rèn ư thức cho học sinh,
học là một yêu cầu hết sức cấp bách và cần thiết. Việc giáo dục ư thức tốt sẽ góp
20
phần tạo ra những con người có nhân cách phẩm chất đạo đức tốt về ư thức học tập
và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục các môn học. Bởi vậy người cán bộ
quản lý phải có nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò, nhiệm vụ của công tác duy tŕ
sĩ số và đảm bảo tỉ lệ chuyên cần. Trên cơ sở đó phối kết hợp với các lực lượng
trong và ngoài nhà trường cùng tham gia vào công tác giáo dục theo mục tiêu của
Đảng và nhà nước .
Công tác duy tŕ sĩ số và đảm bảo tỉ lệ chuyên cần trong nhà trường tiểu học có vị
trí hết sức quan trọng bởi các em được đến trường và đều đặng đến trường hình
thành cho các em những phẩm chất tốt đẹp và nắm bắc toàn bộ nội dung và chương
tŕnh học tập. Từ đó tạo cho các em có bản lĩnh và trách nhiệm của bản thân trong ư
thức học tập.
Người quản lý phải hiểu rõ và phải xác định cho mình một trách nhiệm lớn lao
nặng nề và phải biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt các biện pháp quản lý. Thực tế
cho thấy nếu hiểu biết đề ra các biện pháp thiết thực khả thi góp phần nâng cao đợc
chất lượng giáo ư thức học tập nói riêng, giáo dục nhân cách toàn diện nói chung.
V. ĐỀ XUẤT KIÊN NGHỊ
Qua quá trình nghiên cứu, áp dụng một số biện pháp trên vào việc chỉ đạo,
nâng cao chất lượng giáo dục ý thức, trách nhiệm đi học cho học sinh ở trường tiểu
học, tôi có một số đề xuất kiến nghị sau:
- Đề nghị các cấp lãnh đạo tăng cường cho nhà trường cơ sở vật chất trang thiết
bị dạy học, tài liệu tham khảo, đồ dùng dạy học, tăng cường đầu sách, truyện đọc
cho học sinh.
Khánh Ḥa, ngày 20 tháng 01 năm 2013
Người viết sáng kiến