LỜI CAM
BỤ GIAO
DỤCĐOAN
VA ĐAO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIẸP HÀ NỘI
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận
văn này đã được cảm
on vàVŨcác
thôngLONG
tin trích dẫn trong luận văn
NGUYỄN
HOÀNG
đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày.... thảng.... năm 2008
Tác giả luận văn
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MỘT SỐ LOẠI HÌNH sử DỤNG
ĐÁT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG SẢN XUẤT HÀNG
HÓA Ở VÙNG VEN THÀNH PHỐ SƠN TÂY - HÀ NỘI.
Nguyễn Vũ Hoàng Long
LUẬN VĂN THẠC sĩ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành
: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
V
Danh mục bảng
vi
Danh mục hình ảnh
vii
Danh mục biếu đồ
1. MỞ ĐẦU
viii
ỉ
Đặc điếm tự nhiên
35
4.1.3
Nguồn tài nguyên
36
4.1.4.
Điều kiện kinh tế - xã hội có tác động tới
sản xuất nông nghiệp 44
4.1.5.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp
48
4.2. Thực trạng sản xuất nông nghiệp và kết quả chuyến dịch cơ cấu
cây trồng, vật nuôi
4.2.1.
54
Hiện trạng và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
Danh mục các chũ’ viết tắt
CAQ
BỌ
CN-XD
CNH-HĐH
DV
DV - TM - DL
ĐBSH
FAO
GDP
GTSX
HTX
KHKT
LMU
Cây ăn quả.
Bình quân.
Công nghiệp - xây dựng.
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa.
Dịch vụ.
Dịch vụ - thương mại - du lịch.
Đồng bằng sông Hồng.
Tố chức Nông nghiệp và lương thực thế giới.
Tổng thu nhập quốc nội.
Giá
trị
Hợp tác xã.
Khoa học kỹ thuật.
45
Giá trị thu nhập và cơ cấu ngành nông nghiệp (giá hàng hóa)
46
Tổng hợp phân vùng theo biện pháp tiêu thành phố Sơn Tây
51
4.4.
4.5.
4.6.
4.7.
4.8.
Một số chỉ tiêu bình quân của thành phố so với tỉnh Hà Tây (cũ) 55
Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp của Sơn Tây 57
vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
STT
Tên bảng
Trang
4.1. LUT cây rau đậu thực phẩm tại phường Viên Sơn
4.9. Cảnh trang trại chăn nuôi gà của hộ ông Lập tại xã Sơn
59
73
viii
Đông
1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với tất cả các quốc gia, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặc biệt, là bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường
sổng, là địa bàn phân bố và tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng. Trong nông nghiệp, đất đai không những là đối tượng lao động
mà còn là tư liệu sản xuất không thế thay thế.
Do sức ép của gia tăng dân số và nhu cầu phát triển xã hội, đất nông
nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng.
Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa có nhiều các biện pháp hợp
lý đế bảo vệ đất đai. Hiện nay, việc sử dụng đất đai một cách hiệu quả, bền
vũng đang là vấn đề mang tính toàn cầu.
Nen sản xuất nông nghiệp nước ta với những đặc trưng như: sản xuất còn
manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng còn chưa cao, khả năng hợp
tác, liên kết cạnh tranh trên thị trường và sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng
hóa còn yếu. Diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp do sức ép của
quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá là hướng đi hết
sức cần thiết nhằm tạo ra hiệu quả cao về kinh tế đồng thời tạo ra tính đột phá
trường. Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới [43], cho thấy gần 20% diện tích
3
2.1.1.2. Nông nghiệp vũng khỉ hậu nhiệt đới
Nông nghiệp nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích
đất nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha. Điều kiện khí hậu - đất đai đặc biệt
với hoàn cảnh kinh tế xã hội tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng
biếu hiện trên các hệ thống cây trồng, vật nuôi. Vùng nhiệt đới nóng ấm, mua
nhiều và tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng. Đất đai so với
vùng ôn đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn và bị khoáng hoá mạnh. Khí hậu
và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, chè, ca
cao và các loại cây ăn quả nhiệt đới. Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa,
đất giàu chất hữu
CO'...
rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn
ngày, cây lương thực. Hiện nay, tại các vùng nhiệt đới, việc sử dụng đất nông
nghiệp theo đã hướng vào thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ. Áp dụng
mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Đây là những nguyên
nhân gây tình trạng thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất. Điều đó đặt ra
vấn đề là phát trien sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây
dựng nông nghiệp bền vũng [43].
Khi nghiên cứu sự chuyến đối cơ cấu nông nghiệp của một số nước
Đông Nam Á cho thấy [5]:
- Các nước đang chuyển đối nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông
nghiệp theo hướng tập trung phát triến ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tố đế
5
trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt
nguồn gen thiên nhiên. [2]
* Nông nghiệp sinh thái: đưa ra nhằm khắc phục những nhược điếm
của nông nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm
bảo tuân thủ những nguyên tắc về sinh học trong nông nghiệp, với mục tiêu:
Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn; Nâng cao độ phì nhiều của đất bằng
phân bón hữu cơ, tăng chất mùn trong đất...; Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi
trường với đất, nước, môi trường, thức ăn.
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nghiệp bền vững, đó là
một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi đôi
với giữ gìn bảo vệ môi trường đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững,
lâu dài.
Trong thực tế đã có những khuynh hướng phát triển trong sản xuất
nông nghiệp được coi như những cuộc cách mạng làm thay đổi cục diện của
nền sản xuất nhằm đáp ứng cho nhu cầu của con người. Cụ thế như :
- “Cách mạng xanh” đã được thực hiện ở các nước đang phát triến ở
châu Á, Mỹ la tinh và đâ đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó
vào những năm của thập kỷ 60. Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu
vào việc áp dụng các giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa
mì, ngô...) xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học.
“ Cách mạng xanh” đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá
học và cả thành tựu của công nghiệp.
- “Cách mạng trắng” được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia
6
Nam
7
nông nghiệp là 9.412,2 nghìn ha. Bình quân diện tích đất sản xuất nông
nghiệp đạt 1.118,42m2/người (chi tiết được trình bày ở phụ lục số ỉ).
Những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã
gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang dần
tòng bước xóa bỏ tính tự’ cấp, tự' túc, chuyến dần sang sản xuất hàng hoá và
phục vụ xuât khâu
Phương hướng chủ yếu phát triến nông nghiệp Việt Nam những năm
tới sẽ là:
- Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm
sản phấm [12], xuất phát tù' cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong
nước, thế giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng [40].
- Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo đế xác định
cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm họp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản
hàng hoá [12].
- Chuyến dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn
nuôi, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực. Giảm tỷ
trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 50% [12]. Tăng quỹ đất nông nghiệp
bình quân trên một lao động nông nghiệp [40]. Đồng thời đẩy mạnh công
nghiệp hoá, phát triến ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp.
Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông
nghiệp đế giải quyết lao động nông nhàn.
đai, nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động, các nguồn lợi và đặc trung
khác trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tuỳ theo sở thích, khả năng và
kỹ thuật có thể có.
Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó
con người đóng vai trò trung tâm, con người quản lý và điều khiển các hệ
thống theo những quy luật nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao cho hệ
thống nông nghiệp.
Trong hệ thống nông nghiệp có 3 đặc trưng đáng quan tâm sau:
- Tiếp cận từ “dưới lên” và xác định các vấn đề cần can thiệp đế giải
quyết cản trở.
- Coi trọng mối quan hệ xã hội như những nhân tố của hệ thống.
- Coi trọng sự phân tích động thái của sự phát triến.
* Hệ thong canh tác
Theo Sectisan M. 1987 [17] hệ thống canh tác là sản phẩm của 4 nhóm
biến số: môi trường vật lý, kỹ thuật sản xuất, sự chi phối của nguồn tài
nguyên và điều kiện kinh tế - xã hội. Trong hệ thống canh tác vai trò của con
người được đặt vào vị trí trung tâm của hệ thống và quan trọng hon bất kì
nguồn tài nguyên nào kể cả đất canh tác. Muốn phát triển một vùng sản xuất
10
hình sử dụng đất (LUT). Như vậy (LUS) có một hợp phần đất đai và một hợp
phần sử dụng đất đai. Trong đó họp phần đất đai là các đặc tính đất đai của
LMU ví dụ như thời vụ cây trồng, độ dốc, thành phần cơ giới đất... Họp phần
sử dụng đất là sự mô tả LUT bởi các thuộc tính. Các đặc tính của LMU và các
thuộc tính của LUT đều ảnh hưởng đến tính thích hợp của đất đai.
Cấu trúc hệ thống sử dụng đất được thế hiện qua sơ đồ 2.1 sau:
Loại hình sử dụng đất (Land Ưse Type - LƯT) là loại hình đặc biệt của
Quá trình vận động, biến đổi chính là quá trình điều chỉnh, chuyển dịch cơ cấu
cây trồng, vật nuôi.
Việc xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi cho một vùng hay một khu vực
đảm bảo hiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống
cây trồng, vật nuôi với các điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, quần thế sinh vật,
12
Quan điếm chuyến đôi hệ thống cây trồng, vật nuôi:
- Chuyến đối hệ thống cây trồng, vật nuôi trên quan điếm sản xuất hàng
hoá và đạt hiệu quả cao.
- Sản xuất luôn luôn phải gắn với thị trường, do đó trong cơ chế của
kinh tế thị trường, yếu tố sản xuất hàng hoá đòi hỏi phải có một hệ thống cây
trồng phù hợp. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng sẽ quyết
định việc chuyến đối hệ thống cây trồng. Quá trình sản xuất nông nghiệp phải
gắn với chuyên môn hoá và tập trung hoá. Chuyên môn hoá đòi hỏi người sản
xuất phải đạt trình độ cao, tập trung vào một vài sản phẩm chủ yếu. Những
sản phâm đó chứa một dạng tri thức khoa học kỹ thuật và tố chức quản lý,
nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh và
tiêu thụ được sản phẩm [11].
- Trong nền kinh tế thị trường, hộ gia đình trở thành một đơn vị kinh tế
tự chủ độc lập, người dân tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh
doanh. Điều đó đã kích thích các hộ gia đình khai thác hết mọi tiềm năng về
đất đai, vốn và con người của mình nhằm tạo ra hiệu quả cao trong sản xuất,
nâng cao được tỉ suất hàng ho á thông qua việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đa
dạng hoá cây trồng. Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, do đó vấn đề áp đặt
một hệ thống cây trồng là không hợp lý, mà chỉ khuyến khích vận động đế họ
chủ động nắm bắt và nhanh chóng áp dụng những mô hình canh tác tiến bộ.
Các hộ nông dân căn cứ vào khả năng của gia đình mình đế quyết định lựa
vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở các vùng sinh thái ven đô,
tưới tiêu chủ động. Đã có những điển hình về chuyến đổi hệ thống cây trồng,
trong việc bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế như: hoa,
14
Việc quy hoạch tống thể vùng ĐBSH, nghiên cứu đa dạng hoá sản phẩm
nông nghiệp và phân vùng sinh thái nông nghiệp của nhiều tác giả và các nhà
khoa học nhu: Vũ Năng Dũng, Trần An Phong, Hà Học Ngô, Phùng Văn Phúc
[10], [20], [24], [26]. Các tác giả đã chỉ ra mỗi vùng sinh thái có đặc điếm khí
hậu thòi tiết, điều kiện tụ’ nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau cần phải quy hoạch
cụ thể và nghiên cứu ở từng vùng sinh thái thì hiệu quả các biện pháp kinh tế
kỹ thuật trong sản xuất mới phát huy tác dụng và đạt kết quả tốt.
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế
sản xuất tố chức ngành hàng trong nông nghiệp cũng nhu trong nông hộ của:
Phạm Vân Đình, Nguyễn ích Tân, Đỗ Văn Viện... [13], [28], [33]
Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên
đây là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử
dụng và bảo vệ đất, cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá sử dụng đất,
quản lý đất đai bền vững trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tóm lại, trong nguyên cún đánh giá các hệ thống sử dụng đất nông
nghiệp cần xuất phát từ những cách tiếp cận chính sau:
- Nghiên cứu cấu trúc của hệ thống sử dụng đất nông nghiệp và hệ
thống canh tác thích hợp từ lý thuyết hệ thống kết hợp với phương pháp tiếp
cận hệ thống và tống hợp cả 2 hình thức nghiên cứu là vĩ mô và vi mô.
- Sự hình thành các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp phải được bắt
đầu bằng việc đánh giá các yếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp đến hệ
thống như những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và những yếu tố bên trong:
đất đai, lao động, tiền vốn, kỹ năng nghề nghiệp của người nông dân.
Thái Lan, Malaixia, Philipin-các nước có tiềm năng tương tự Việt Nam, họ đã
đạt và vượt mức này từ lâu. Maiĩaixia đạt kim ngạch xuất khẩu 14 tỉ USD từ
16
Ớ Việt Nam, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã chiếm tới 30-40% tổng
kim ngạch xuất khấu cả nu'ớc [24]. Một số mặt hàng tăng truởng cả về số
lượng và kim ngạch xuất khẩu như cà phê 7% về lượng và 56% về kim ngạch
xuất khấu, cao su tăng lần lượt là 45% và 121%...[24]. Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê, diện tích trồng rau trên đất nông nghiệp cả năm 2006 của Việt
Nam là 644,0 nghìn ha, tăng 29,5% so với năm 2000. Năng suất cao nhất từ
trước tới nay (149,9 tạ/ha). Tống sản lượng rau cả nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt
144 nghìn tỷ đồng, chiếm 9% GDP của ngành nông nghiệp, trong khi diện
tích chỉ chiếm 6%.
Sản xuất hàng ho á phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế xã hội, tự
nhiên, môi trường, do đó khả năng rủi ro trong sản xuất là không thế tránh
khỏi. Mặt khác chúng ta chưa hình thành một nền nông nghiệp hàng hoá theo
đúng nghĩa cũng như chưa có công nghệ đế giải quyết vấn đề này. Chuyển
sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là sự tiến hoá họp quy luật, đó là quá
trình chuyến nông nghiệp truyền thống, manh mún, lạc hậu thành nền nông
nghiệp hiện đại. Sản xuất hàng hoá là quy luật khách quan của mọi hình thái
kinh tế xã hội, nó phản ánh trình độ phát triến sản xuất của xã hội đó [39].
Theo V.I Lênin thì nguồn gổc của sản xuất hàng hoá là sự phân công lao động
xã hội [43]. Vì thế phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì sản xuất hàng
ho á càng phát triển.
Nen sản xuất hàng hoá có đặc trưng là dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật
hiện đại, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ văn hoá của người lao động cao.
Đó là nền sản xuất nông nghiệp có cơ cấu sản xuất hợp lý, được hình thành
trên cơ sở khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp tùng vùng. Vì thế