Vài suy nghĩ về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của các đô thị vừa và nhỏ ở tỉnh Lâm Đồng - Pdf 33

Vài suy nghĩ về
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
CỦA CÁC ĐÔ THỊ VỪA VÀ NHỎ Ở TỈNH LÂM ĐỒNG.
Để thực hiện Quyết định 1462/QĐ-TTg ngày 23 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng
Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng đến
năm 2020” (gọi tắt là QĐ 1462/QĐ-TTg) và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội
Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh đề ra; nhiệm vụ quy hoạch, chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế (CCNKT) nói chung và ở các đô thị nói riêng - nhất là các đô thị quy mô vừa và nhỏ
của tỉnh - có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Thực tiễn cho thấy, kinh tế của các đô thị là hạt nhân phát triển của từng địa phương và
của nền kinh tế quốc dân. Trong đó, CCNKT của các đô thị đóng vai trò quyết định, là tiền đề
tạo ra động lực để thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững nền kinh tế đô thị.
Việc hình thành nên CCNKT ở các đô thị chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, nhưng nhân
tố quan trọng nhất đó là vai trò quản lý của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch CCNKT.
Chính vì vậy, trong nhiều năm qua, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được Đảng và Nhà nước
ta quan tâm, xác định là hướng đi tất yếu để phát triển kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng
lạc hậu, chậm phát triển; đồng thời, đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp đổi mới
công tác QLNN đối với quá trình chuyển dịch CCNKT nói chung và ở các đô thị nói riêng.
Lâm Đồng là một tỉnh có vị thế rất quan trọng đối với vùng Tây nguyên và cả nước. So
với 5 tỉnh Tây nguyên, Lâm Đồng chiếm 17,9% diện tích, xấp xỉ 24,4% dân số, đóng góp
khoảng 31% GDP, thu nhập bình quân đầu người cao gấp hơn 1,2 lần bình quân của Tây
nguyên. So với cả nước, Lâm Đồng chiếm 2,97% diện tích, 1,42% dân số, đóng góp 1,77%
GDP, thu nhập bình quân đầu người bằng 71,6% bình quân của cả nước.[1]. Trên địa bàn tỉnh
có 15 đô thị, trong đó Tp. Đà Lạt là đô thị lớn (loại 1) và 14 đô thị vừa và nhỏ (loại 3, 4, 5).
Đảng bộ và chính quyền tỉnh đã có nhiều giải pháp tích cực thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh nói chung và CCNKT của các đô thị vừa và nhỏ trên địa bàn nói
riêng theo hướng hiện đại. Đến năm 2010, tổng sản phẩm địa phương (TSPĐP) (tương
đương GDP) bình quân đầu người đạt 19 triệu đồng, gấp 2,8 lần so năm 2005; tỷ trọng nông
nghiệp chiếm 49%, công nghiệp và xây dựng 20%, dịch vụ 31% trong TSPĐP.[2].
Chuyển dịch CCNKT có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình đô thị hoá và tăng trưởng
kinh tế. Trong gần 15 năm qua, dân số thành thị toàn tỉnh tăng hơn 1,5 lần (năm 2009 là

(huyện Di Linh), thì mức độ giảm tỷ trọng của khu vực I trong CCNKT ở các đô thị vừa và
nhỏ trong tỉnh bình quân hàng năm chỉ đạt 1,13%, trong khi mức độ tăng tỷ trọng của khu
vự c II và III còn thấp hơn, bình quân tăng 0,35% và 0,97%/năm. Như vậy, mục tiêu tăng
nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ trong CCNKT đang gặp khó khăn.
Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2011 – 2015 và Quyết định 1462/QĐ-TTg
đều xác định phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng tăng trưởng và
sức cạnh tranh của kinh tế địa phương. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế
so sánh của các lĩnh vực, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản
phẩm hàng hóa và dịch vụ; với các mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là: Tốc độ tăng trưởng kinh
tế (GDP) bình quân hàng năm thời kỳ 2011 - 2020 đạt 14,5 - 15%. Tỷ trọng ngành nông
nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế vào năm 2015 là 36,8 - 37%, 26,8 - 28%,
35,2 - 35,8%; đến năm 2020 cơ cấu kinh tế tương ứng là 27 - 28%, 35 - 36%, 36 - 37%;[3].
Tập trung đầu tư xây dựng thành phố Đà Lạt trở thành thành phố du lịch chất lượng cao và là
một trong những trung tâm về giáo dục - đào tạo, nghiên cứu khoa học của khu vực và cả
nước... Phát triển Bảo Lộc trở thành đô thị công nghiệp gắn với các ngành dịch vụ giữ vai trò
hạt nhân khu vực phía Nam của Tỉnh…Nghiên cứu đầu tư xây dựng đô thị Liên Khương Prenn và các thị trấn đạt đô thị loại 4, 5 khi có đủ điều kiện theo quy định để từng bước hình
thành hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị từng bước đồng bộ, hiện đại.[3].
Để thực hiện các mục tiêu trên, xin nêu một số vấn đề có tính tham khảo sau đây:
Một là, Bên cạnh quy hoạch, kế hoạch tổng thể, cần có một kế hoạch trung, dài hạn cho
hệ thống các đô thị vừa và nhỏ trong tỉnh, xem như là một chiến lược phát triển hệ thống đô thị
của tỉnh cùng với các cơ chế, chính sách về đầu tư, phát triển kinh tế và xây dựng kết cấu hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội nhằm phát huy hiệu quả vai trò là hạt nhân, động lực thúc đẩy
kinh tế địa phương và từng tiểu vùng kinh tế trong tỉnh phát triển nhanh, bền vững.
Hai là, Ngoài vai trò đô thị cấp vùng, cấp quốc gia của Đà Lạt, cần coi trọng vai trò đầu
tàu phát triển kinh tế của các đô thị vừa và nhỏ trong tỉnh như là giải pháp chủ yếu để thực
hiện mục tiêu chuyển dịch CCNKT của toàn tỉnh.
Một mặt, tìm giải pháp để thúc đẩy nhanh hơn quá trình chuyển dịch CCNKT đối với c ác
đô thị có tỷ lệ cơ cấu hiện nay của khu vực công nghiệp và dịch vụ trong TSPĐP còn thấp dưới
65% như: Thị trấn Di Linh, Madaguoi, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Thạnh Mỹ, Đ’Ran, Đam Ri, Nam
Ban, Đam Rông, Lạc Dương.

cửa ngành dịch vụ công cộng cho khu vực tư nhân trong nước và kể cả ngoài nước tham gia
mạnh mẽ vào lĩnh vực kinh doanh này;
(iv) Có cơ chế tận dụng lợi thế, huy động nguồn thu ngoài thuế từ đất đai đô thị để tái
đầu tư mở rộng, thúc đẩy nhanh chuyển dịch CCNKT, xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng đô
thị theo hướng hiện đại.
Năm là, Chuyển đổi và chuyển dịch CCNKT ở các đô thị vừa và nhỏ phải có sự lựa chọn và
định hướng của Nhà nước. Hiện nay cả nước có gần 650 đô thị loại V, chiếm 86% tổng số

đô thị các loại trong cả nước nhưng trong Chương trình cấp đô thị quốc gia đến năm
2020 (Quyết định 758/2009/QĐ-TTg) Chính phủ không đề cập đến việc nâng cấp các
đô thị loại V mà chỉ giới hạn phạm vi nâng cấp các đô thị từ loại IV trở lên trên toàn
quốc. Vì vậy, kiến nghị Chính phủ nghiên cứu bổ sung Chương trình nâng cấp đô thị quốc
gia đến năm 2020 đối với các đô thị nhỏ loại V, góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược
phát triển đô thị Việt Nam../.
Thạc sĩ NGUYỄN VÂN HẬU
Thường trực HĐNDTP BẢO LỘC
CHÚ THÍCH
[1]. UBND tỉnh Lâm Đồng, Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020, Đà Lạt, 1997, tr.47.
[2]. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh khóa IX, Đà Lạt, 2010, tr.2.
[3]. Quyết định 1462/QĐ-TTg ngày 23 tháng 8 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Lâm Đồng đến năm 2020”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. PGS.PTS.Phạm Ngọc Côn (1999), Kinh tế học đô thị, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
2. . Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ TP Bảo Lộc vả các huyện: Bảo Lâm, Đức Trọng, Di Linh, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Lâm Hà, nhiệm kỳ
2011-2015.
3. Cục Thống kê Lâm Đồng (2001,2009), Niên giám thống kê 2001,2009.

3




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status