Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - Pdf 15

Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
mở đầu
Đất nớc ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất lơng thực
chủ yếu là cây lúa nớc mà một số hoa màu khác nhng phân tán. bên cạnh đó,
nề kinh tế của nớc ta còn gặp nhiều khó khăn, cha có đợcnề tảng để tạo đà
phất triển. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra cho nền
kinh tế nông nghiệp một hớng đi mới với một nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp theo định hớng xã hội
chủ nghĩa dới sự quản lý của Nhà nớc và đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp
đã đợc chú trọng hơn. Từ sau nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và nhiều chính
sách mới đợc ban hành đã giải quyết đợc những ràng buộc phong kiến phi
kinh tế trong nông nghiệp và chỉ thị 100 của Ban Bí th Trung ơng Đảng với
nhân dân khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm ngời và ngời lao động. Đây đợc
coi là chìa khoá vàng để mở ra thời kỳ mới của nông ngiệp. Bởi vì Đảng ta
đã xác định để phát triển đợc nền kinh tế thì trớc tiên là phải phát triển đợc
nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với xu hớng giảm tỷ
trọng cây lợng thực, tăng dần tỷ trọng cây công nghiệp và thuỷ sản và giảm
dần tỷ trọng nông nghiệp trong nông thôn và tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ.
Phát triển nông ngiệp một cách toàn diện nhằm từ đó tích luỹ cho
công nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế.
Việc thực hiện những chiến lợc đó phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả đổ
mới cơ chế quản lý, các chính sach hồ tự phát triển và chuyển dịch cơ cấu
trong nền kinh tế nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp thực
hiện nh thế nào, tập trung vào những gì, thực thi những ngành nào mũi nhọn
và then chốt, xu hớng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là hàng loạt những
vấn đề cần phải đợc tính đến.
Bài viết này đợc chia thành 3 phần:
Phần I. Những vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông ngiệp
Phần II. Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt
Nam từ trớc năm 1985-1988 tới nay.

-Nớc ta đất chật, dân số không ngừng tăng lên lên khả năng mở rộng
quy mô sản xuất nông nghiệp hạn chế.
-Việc chuyển nền nông nghiệp Việt Nam sang sản xuất hàng hoá gặp
nhiều khó khăn về vốn, kỹ thuật, trình độ lao động, khả năng quản lý
Đây là những đặc điểm nổi bật cần phải khắc phục nhanh chóng tạo
tiền đề cho nhiệm vụ công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
nớc ta theo hớng bền vững, tiến lên một nền nông nghiệp mà :
-Đi vào sản xuất hàng hoá
-Năng suất cây trồng và gia súc cao.
-Năng suất lao động cao.
-Sử dụng hệ thống thuỷ canh.
Và khắc phục những hạn chế :
-Sử dụng năng lợng lãng phí
-Chất lợng nông sản kém.
-Môi trờng bị ô nhiễm.
2. Vai trò, vị trí của sản xuất nông nghiệp.
2
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc
biệt đối với các nớc đang phát triển. Bởi vì các nớc này đa số ngời dân sống
dựa vào nghề nông. Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nhân dân,
Chính phủ cần có chính sách tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm nâng
cao năng suất cây trồng và tạo ra nhiều việc làm ở nông thôn.
Trừ một số ít nớc dựa vào nguồn tài nguyên phong phú để xuất khẩu,
đổi lấy lơng thực, còn hầu hết các nớc đang phát triển phải sản xuất lơng
thực cho nhu cầu tiêu dùng của dân số nông thôn cũng nh thành thị. Nông
nghiệp còn cung cấp các yếu tố đầu vào cho hoạt động kinh tế . Để đáp ứng
nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế việc tăng dân số ở khu vực ở khu vực
thành thành thị sẽ không đủ khả năng đáp ứng. Cùng với việc tăng nâng suất
lao động trong nông nghiệp, sự di chuyển dân số ở nông thôn ra thành thị sẽ

nền kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là bộ phận cấu thành rất
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát
triển kinh tế -xã hội ở nớc ta. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là
tổng thể của kinh tế bao gồm mối quan hệ tơng tác giữa các yếu tố của lực l-
ợng sản xuất và quan hệ sản xuất thuộc khu vực kinh tế nông thôn trong
những khoảng thời gian và điều kiện kinh tế xã hội nhất định.
Sau khi nghị quyết 10 của Bộ chính trị và nhiều chính sách mới đợc
ban hành đã giải đợc những khả năng buộc phong kiến phi kinh tế trong
nông nghiệp và nông thôn, tạo cho nông nghiệp đạt đợc những thành tựu to
lớn góp phần từng bớc chuyển nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất
hàng hoá. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng và nông
thôn nói chung đã và đang có sự khởi sắc, sản xuất phát triển đời sống nhân
dân đợc cải thiện. Mặt khác, việc chuyển dịch cơ cấu ngành, theo vùng, lãnh
thổ, theo các thành phần kinh tế, theo cơ cấu kỹ thuật - công nghệ hớng tới
nền sản xuất hàng hoá và đạt đợc nhiều tiến bộ đángg kể.
Thế nhng ở trong phạm vi của từng vùng trong nớc thì không hẳn thế.
Do có sự phát triển không đều giữa các vùng trong nớc, quá trình đó diễn ra
ở các vùng không giống nhau: ở vùng kinh tế phát triển , quá trình đó diễn ra
theo trình tự chung còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó có thể bắt
đầu từ việc phá thế độc canh hoá chuyển sang đa canh lúa, màu phát triển
chăn nuôi và bớc tiếp theô là phát triển các ngành nghề tiều, thủ công nghiệp
và dịch vụ. Xu hớng chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn là: tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm và tỷ trọng các ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng.
Bên cạnh đó, để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông
thôn còn phải có sự quan hệ rất nhiều tới các ngành khác nh phát triển nông
nghiệp hàng hoá phải chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghiệp và nông
nghiệp không thể tự đi lên nếu không có sự tác động trực tiếp của một nền
công nghiệp phát triển. Và đợc các ngành nghề mới trong nông nghiệp.

nông nghiệp rất đa dạng, phong phú nh trồng trọt có lúa nớc, lúa mì, khoai
lâng, khoai tây, lạc, chuối. Về chăn nuôi có lợn, gàm vịt , trâu, bò Ng
nghiệp có điều kiện thuận lợi để phát triển, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải
sản, có những sản phẩm xuất khẩu có giá trị nh tôm, cá
Tuy vậy, cho đến giữa thế kỷ xét xử, nông nghiệp Đài Loan vẫn ở tình
trạng lạc hậu, sản xuất tiểu nông tự cấp, tự túc. Từ đầu những năm 1950 đến
nay cơ cấu nông nghiệp Đài Loan, do có sự tác động của công nghiệp hoá,
đã có một bớc phát triển mạnh mẽ, cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch theo
5
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
hớng sản xuất nông sản hàng hoá, hớng về về xuất khẩu, và đã đạt đợc
những thành tựu to lớn trong thời kỳ công nghiệp hoá. Quá trình đó của Đài
Loan đợc chia làm 3 thời kỳ.
*Thời kỳ thứ nhất:
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh
chuẩn bị công nghiệp hoá (1949-1953).
Trong thời kỳ này, Đài Loan bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất do
chính quyền Quốc Dân Đảng thực hiện trong 4 năm (1949-1953) với nội
dung: giảm tô từ 50-60% xuống 37,5% (1949), chính quyền đem 130.000 ha
ruộng công bán cho 177.000 hộ nông dân thiếu ruộng (1951), ban chấp hành
"luật ngời cày ruộng: (1953), trng mua số ruộng đất quá hạn mức của địa
chủ bán cho nông dân thiếu ruộng.
Điều trên đã tạo điều kiện chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp
phong kiến tiểu nông sang nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hoá T bản
chủ nghĩa, dọn đờng cho công nghiệp hoá. Kết quả, sản xuất nông nghiệp
1952 đạt 129,7% so với năm 1940-19443 (thời kỳ kinh tế thịnh vợng trớc
đây). Cơ cấu nông nghiệp thời kỳ này vẫn là cơ cấu truyền thông. Năm
1953, trong cơ cấu nông nghiệp, giá trị sản lợng trồng trọt chiếm 71,9%,
chăn nuôi chiếm 15,6%, thuỷ sản chiếm 7,4%, lâm nghiệp chiếm 5,1%.
Trong ngành trồng trọt: lua chiếm 58,7 %, mì màu 13,3%, cây công nghiệp

kỳ 1953-1968 đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hớng công nghiệp hoá.
Giá trị sản lợng nông, lâm ng nghiệp năm 1968 tăng 5 lần so với 1953, cơ
cấu giá trị chăn nuôi tăng từ 15,6% lên 23%, ng nghiệp từ 7,4%-10,6%, lâm
nghiệp từ 5,1%-6,3%.
* Thời kỳ thứ ba
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển công nghiệp để hỗ trợ
nông nghiệp (1961 đến nay). Một trong những nội dung chủ yếu trong thời
kỳ này là tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp cho phù hợp với yêu cầu và
khả năng của công nghiệp hoá.
Số trang trại gia đình bắt đầu giảm, lao động nông nghiệp giảm từ 1,6
triệu (1969) xuống 1,09 triệu (1991). Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong
tổng số lao động xã hội giảm từ 38,9% (1969) xuống 12,9% (1991).
Diện tích canh tác giảm 914 ha (1969) xuống 883540 ha (1991). Giá
trị sản lợng nông nghiệp tăng 47731 triệu Đài Loan (1969) lênhà nớc
234185 triệu (1981). Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 297 triệu USD
(1969) lên 10,042 tỷ USD (1991).
Biểu 2: cơ cấu giá trị sản lợng nông nghiệp (1968-1981)
Năm Tỷ trọng giá trị sản phẩm (%)
7
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Giá trị Sl (1)
nông nghiệp
Trồng trọt Chăn nuôi Ng nghiệp Lâm nghiệp
1968 48833 60,1 23 9,5 5,6
1981 234185 47,1 29,5 21,4 2,0
(1) triệu đồng Đài Loan
Kế hoạch của Đài Loan từ nay đến sau năm 2000 là tiếp tục chuyển
dịch nền kinh tế nông nghiệp theo phơng hớng chọn đợc cơ cấu nông
nghiệp hợp lý trong điều kiện công nghiệp phát triển đạt trình độ cao, đất đai
và lao động đất ở trong nớc tập trung và sản xuất. Kế hoạch của Đài Loan từ

Indonesia.
Với hơn 200 triệu dân và 70% dân c sống ở nông thôn, ngành nông
nghiệp Indonesia có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nớc. Vấn
đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nnn1 của Indonesia quan tâm sâu sắc, trong
đó chính sách phát triển nông nghiệp tập trung sản xuất lơng thực, thực
phẩm vì mục tiêu an toàn lơng thực, thực phẩm và đề cao vai trò khu vực
nông thôn.
Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp chính phủ nớc này đã tăng cờng phát triển cơ sở hạ tầng nh đờng sá,
công trình thuỷ lợi, nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản đều đợc
trợ giá ở mức độ khác nhau. Đây chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát
triển cho nền kinh tế nông nghiệp.
Cơ cấu và diện tích cây trồng liên tục đợc mở rộng, chú trọng phát
triển những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở các trang trại nhà nớc và
t nhân. Trong khu vực Đông Nam á, Indonesia thực hiện khá tốt chính sách
phát triển kinh tế trang trại. Nhờ đó, Indonesia trở thành nớc xuất khẩu ca
cao, cà phê, chè hàng đầu thế giới. Chính phủ nớc này luôn cố gắng duy trì
sự cần bằng tơng đối giữa nông nghiệp và những ngành công nghiệp, dịch
vụ đa khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết
các yếu tố đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp.
3. Các nhân tố ảnh hởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn.
+Vị trí đại lý và khí hậu tự nhiên: ở những vị trí địa lý khác nhau và
vùng khí hậu khác , việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau. Xác định
cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn cũng có nghĩa là xác định cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn ở các vùng điều kiện địa lý và khí hậu tự
nhiên khác nhau của nớc ta. Bởi vậy, cơ cấu kinh tế của một nớc, một vùng
bao giờ cũng dựa trên qu thế về điạ lý và khí hậu của nớc đó, vùng đó.
+Các nguồn lợi: bao gồm tài nguyên khoáng sản,nguồn nớc, nguồn
năng lợng, đất đai có hay không có, có nhiều hay có ít các tài nguyên này

ngày càng mạnh mẽ, các ngành kém hiệu quả sẽ bị thu hẹp lại, mà việc chủ
động thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo mục tiêu và nhu
cầu của sự phát triển, gắn với dự báo tiến bộ khoa học công nghệ và thị trờng
là một trong những khâu quyết định tạo ra tăng trởng kinh tế, ở những nớc
có công nghệ tiên tiến thì luôn tạo ra công nghệ mới, còn ở những nớc đang
phát triển thì tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, từ đó hình thành cơ
cấu mới trong công nghiệp và trong nền kinh tế với các ngành nghề mới, sản
phẩm mới, tạo ra sức cạnh tranh cao và tăng trởng nhanh.
Đất nớc ta xuất phát và đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu chính
vì vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp
và nông thôn.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện
đại hoá sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển vợt bậc. Thực hiện công nghiệp
10
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩy đợc nhiều vùng sản
xuất hàng hoá tập trung, chuyên canh nh: lúa, cao su, cà phê, chè Hơn nữa,
với ngành công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ sản đã có những bớc tăng
trởng đáng kể . Đó là điều kiện nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn.
11
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Phần ii: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông nghiệp từ năm 1985 đến nay.
i. Giai đoạn từ trớc năm 1985-1988
Nông nghiệp nớc ta trong giai đoạn này gặp rất nhiều những rào cản,
vợt qua tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài trong những năm 1976-1980.
Đến tháng 1-1980 - Chỉ thị 100 của Ban Bí th Trung ơng Đảng ra đời
lúc đó với nhân dân khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm ngời và hộ lao động
(và đây thực chất là khoán hộ). Chính vì vậy, đã đợc coi là chìa khoá vàng

Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
nền kinh tế nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng. Trong giai đoạn
này, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới bắt đầu đợc hình
thành song vẫn cha đợc quan tâm đúng mức vì do điều kiện kinh tế nớc ta tác
động. Nông nghiệp ta thời kỳ này vẫn độc canh là chủ yếu, cây trồng vật
nuôi mới chỉ là "có sự góp mặt" còn chủ yếu là lúa, hoa màu cho ta năng
xuất thấp khiến nớc ta vẫn phải nk lơng thực, thực phẩm.
ii. giai đoahn từ năm 1989 đến năm 1994
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
a. Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trong giai đoạn này, Đảng ta luôn luôn khẳng định sự phát triển kinh
tế nớc ta phải dựa trên cơ sở kết hợp một cách đúng đắn giữa công nghiệp,
nông nghiệp, dịch vụ.
Trong hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khoá VII họp tháng
12 năm 1993 đã xác định "từ nay đến cuối thập kỷ phải rất quan tâm đến
công nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn
diện nông, lâm ng nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản,
công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu" (Đảng cộng sản
Việt Nam, Văn kiệnn Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII,
Tháng 1 năm 1994). Trớc đó nhà nớc ta đã có chính sách u tiên , phát triển
cho nông nghiệp và nông thôn, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp.
Tháng 1 năm 1980, chỉ thị 100 của Ban chấp hành bí th Trung ơng
Đảng với nội dung khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm và ngời lao động
(thực chất là khoán hộ). Đây là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ mới của nông
nghiệp và kinh tế nông thôn cho nớc ta.
Tiếp đến là Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5-4-1988) về đổi mới
quản lý nông nghiệp với nội dung cơ bản là khoán gọn đến hộ nông dân,
thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Đây là một mốc
mới đánh dấu cho sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông nghiệp và nông

cùng với phơng thức chăn nuôi truyền thống, nông dân đã tiếp thu phát triển
chăn nuôi theo kiểu công nghiệp.
Trong những năm của giai đoạn này, thuỷ sản đã có bớc phát triển
đáng kế, công tác nuôi trồng thuỷ sản đợc co trọng, nhất là vùng ven biển.
Những cơ sở sản xuất giống và nuôi tôm xuất khẩu đợc phát triển , mở rộng
các hình thức tổ chức liên doanh với nớc ngoài để nuôi tôm đợc triển khai ở
ven biển Miền trung. Việc đánh bắt hải sản đang đợc khôi phục và phát triển
ở nhiều địa phơng, tầu thuyền, các phơng tiện đánh bắt đợc tăng cờng, nhờ
vậy mà sản lợng thuỷ hải sản tăng nhanh, sản phẩm xuất khẩu ngày càng
lớn.
Biểu 3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản cả nớc 1991-1994
(%)
1991 1992 1993 1994
Nông nghiệp 84,5 84,7 84,5 85,3
Lâm nghiệp 7,7 6,8 7,0 6,5
Thuỷ sản 7,6 8,5 8,5 8,2
14
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Việc giao đất, giao rừng đợc tiến hành rộng rãi tới ngời dân, việc bảo
vệ, khoanh nuôi và tái sinh rừng tốt hơn, diện tích rừng trồng tăng lên, kết
hợp trồng rừng với trồng cây công nghiệp, làm vờn và chăn nuôi, góp phần
tạo ra sự bền vững về sinh thái và xã hội để phát triển rừng. ở nhiều vùng có
dự án 327 đang triển khai tốt bớc đầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế lâm nghiệp
miền núi. Nhà nớc chủ trơng hạn chế khai thác xuất khẩu gỗ tròn, sản lợng
gỗ và kim ngạch xuất khẩu lâm sản có giảm xuống, những rừng đang từng b-
ớc đợc hồi phục.
Chính nhờ vậy, nông nghiệp đã đóng góp quan trọng việc tăng nguồn
hàng xuất khẩu, tăng thêm nguồn ngoại tệ cho đất nớc. Với quan điểm xuất
khẩu để tăng trởng kinh tế, kinh tế nớc ta đã có những tiến bộ và chuyển
biến tích cực. Năm 1993 tăng gần 3 lần (1500 triệu rúp đola) đến năm 1994

1993 đã có 940 doanh nghiệp đăng ký lại theo nghị định 388/HĐBT.
Gần đây doanh nghiệp nhà nớc về nông nghiệp nổi lên hai vấn đề:
+Một sơ sở nông nghiệp quốc doanh bớc đầu phát huy vai trò trung
tâm khoa học kỹ thuật cho thành phần kinh tế và dân c trên địa bàn nh giống
cây, con, gắn công nghiệp chế biến với vùng sản xuất nguyên liệu: mía đờng,
chè, cao su, cà phê.
+Với khoảng 70% đơn vị chuyển sang khoán gọn cho hộ thành viên
các khoản này đã tạo cho các hộ nhận khoán tiếp thu kỹ thuật mới, yên tâm
đầu t vốn, lao động vào cây trồng, vật nuôi để tăng thu nhập. Trong lâm
nghiệp thực hiện chính sách giao đất, giao rừng và cơ chế khoán giữ đất lâm
nghiêp cho hộ gia đình công nhân sử dụng. Các hộ nông dân đang trở thành
lực lợng chủ yếu sản xuất lơng thực và phát triển đa dạng cây trồng, vật nuôi
kết hợp khai thác nông lâm thuỷ sản, mở rộng và phát triển các ngành nghề
mới
Bốn là: Cơ cấu kỹ thuật trong công nghiệp và nông thôn đã và đang đ-
ợc chuyển dịch một cách mạnh mẽ và rộng khắp. Hệ thống kết cấu hạ tầng
đợc cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới để đáp ứng đợc yêu cầu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Những kỹ thuật truyền thống đang đợc thay thế
bởi những kỹ thuật tiến bộ, rõ nhất là giống cây trồng vật nuôi. Cùng với
cuộc cách mạng sinh học, vấn đề thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, điện khí hoá
từng bớc đợc tăng cờng cho nông nghiệp và nông thôn, công nghệ sau thu
hoạch nhất là công nghiệp chế biến nông sản đợc coi trọng và phát triển
Biểu 4 cơ cấu tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (%) 1991-1994
1991 1992 1993 1994
Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (%) 40,5 33,9 28,9 28,7
Biểu 5: Sản lợng lơng thực 1990-1994 (triệu tấn)
1990 1991 1993 1993 1994
Sản lợng lơng thực quy ra thóc
b. Đánh giá chung về những hạn chế của chuyển dịch cơ cấu kinh
doanh nông nghiệp

nớc trong khu vực cũng nh trên thế giới, nhân dân sống chủ yếu là đồng
ruộng, nền công nghiệp vẫn cha phát triển. Điều đó sẽ tạo ra sự chi viện giữa
các ngành trong nền kinh tế là không hiệu quả (có những không nhiều).
Với những nớc trong khu vực, với một nền công nghệ đa dạng hoá, l-
ơng thực đầy dủ cho nhân dân và xuất khẩu ra nớc ngoài cùng với việc phát
triển các ngành khác nh chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản xuất khẩu thu ngoại
tệ. Bên cạnh đó còn có ngành dịch vụ phát triển mạnh
17
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
+Bốn là: các thành phần kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn tuy
đợc pháp luật thừa nhận song vẫn còn những ràng buộc .
+Năm là: Kinh tế hộ tự chủ đã có bớc phát triển khá, song năng lực
nội sinh của kinh tế hộ còn yếu, cha đủ sức tự vơn lên để phát triển kinh tế
hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
+Sáu là: thị trờng nông sản còn hạn hẹp , cha đợc khai thông sức mua
của nông dân còn thấp.
2. Một số tác động của việc đổi mới trong chính sách chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng ngày càng tiến bộ là một xu thế
tất yếu, khách quan của các nền kinh tế quốc gia nói chung và nông nghiệp
nói riêng.
Nền nông nghiệp nớc ta phải nghiên cứu một hớng đi mới nhằm đa
nông nghiệp phát triển , là điều kiện cho các ngành khác trong nền kinh tế
quốc dân cùng phát triển. Nh vậy, trớc tiên là ta phải thực hiện công nghiệp
hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Công nghiệp hoá nông nghiệp
hớng vào việc thực hiện thuỷ lợi hoá sớm, cơ giới hoá từng phần công việc,
mở rộng điện khí hoá phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản
đồng thời tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn.
Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông nghiệp ý
nghĩa quyết định đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công

yếu trong văn kiện Đại hội Đảng VIII: "Phát triển toàn diện nông, lâm, ng
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ sản và đổi mới cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Cùng với mục
tiêu phát triển nông nghiệp toàn diện, hớng vào bảo đảm an toàn lơng thực
quốc gia trong mọi tình huống, tăng nhanh nguồn thực phẩm và rau quả, cải
thiện chất lợng bữa ăn.
Đảng và nhà nớc ta vẫn tiếp tục thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp và nông thôn một cách có hiệu quả, và dựa trên cơ sở
bảo đảm bảo vững chắc nhu cầu lơng thực, chủ yếu là lúa, mở rộng diện tích
cây trồng công nghiệp, cây ăn quả, tăng nhanh đàn gia súc, gia cầm, phát
triển kinh tế biển, đảo, kinh tế rừng, khai thác có hiệu quả tiềm năng của nền
nông nghiệp sinh thái, tăng nhanh sản lợng hàng hoá gắn với công nghiệp
chế biến và xuất khẩu, mở rộng thị trờng nông thôn
Trong những năm vừa qua, nông nghiệp nớc ta dới sự chỉ đạo của
Đảng và nhà nớc đã đạt đợc những thành tựu đáng kể. Vấn đề chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp đợc phổ biến và là chính sách nhằm phát triển
nền nông nghiệp nhà nớc.
*Một là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm mục đích
phát triển hàng hoá, nâng cao năng suất nông sản hàng hoá.
Thời kỳ này đã thực hiên chính sách chuyển dịch nông nghiệp lạc
hậu, nhỏ, nặng về tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp lớn sản xuất hàng
hoá, là xu hớng phát triển tất yếu của nớc ta nói riêng, nền kinh tế thế giới
nói chung vì vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế luôn đợc
đánh giá hết sức quan trọng. Việc xác định cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù
19
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
hợp với nền kinh tế hiện đại trong giai đoạn hiện nay - nền kinh tế thị trờng
là một sự cần thiết tất yếu.
Xét về phơng diện tổng thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
là sự đa dạng hoá hoạt động nông nghiệp sao hiệu quả kinh tế cao nhất.

Ngành chăn nuôi ở giai đoạn này có sự tăng trởng đáng kể. Trong giai
đoạn này, kết hợp với những thành tựu, kết quả đạt đợc trong giai đoạn trớc,
đa dạng hoá vật nuôi: gia súc gia cầm, thuỷ sản đã tạo ra khả năng tăng tr-
ởng cao và bền vững trong chăn nuôi. Những năm ở giai đoạn này so với
20
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
những năm ở giai đoạn trớc. Nganh chăn nuôi thu đợc kết quả : đàn Trâu
tăng 5%, bò tăng 10%, đàn lợn tăng 20%, đàn gia cầm tăng 25%. Đặc biệt
đàn bò sữa tăng khá nhanh, năm 1999 đạt gần 34.000 con trong đó ở Thành
phố Hồ Chí Minh gần 25.000 con, đã tăng gấp 3 lần so với năm 1994.
Biểu 7: Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp ( 96 -2002)

Năm Tổng số Trồng trọt Chăn nuôi
1996 5,6 6,9 5,3
1997 7,0 7,0 7,9
1998 5,7 6,0 4,8
1999 7,3 7,6 7,0
2000 5,4 5,3 6,4
2001 2,6 2,3 4,2
2002 5,2 4,3 9,9
* Hai là: chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nớc ta trrong giai đoạn này
đã khai thác lợi thế so sánh và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trong nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng ở mỗi quốc gai
đều có những điểm mạnh và điểm yếu. Nh mặt hàng nào đó của ngời khai
thác không thể có đợc về khả năng vợt trội nh chất lợng, mẫu mã, độ bền
Nông nghiệp nớc ta có u thế hơn là do tự nhiên u đại mang lại. Trong
đó, ngành nông sản nớc ta đã và đang khai thác lợi thế để xuất khẩu ra thế
giới nhằm thu lợi nhuận cho đất nớc.
* Ba là: chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 1995-1999 đã gắn liền với
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc mà trớc hết là công nghiệp

khoảng trên 70.000 chiếc với tổng công suất trên 1,2 triệu CV, tàu thuyền
vận tải cơ giới có 98.330 chiếc, trong năm 1997-1999 cả nớc tăng thêm 1000
tàu đánh cá có công suất trên 90CV, đa số tàu đánh cá xa bờ lên 5000 chiếc.
Công nghệ tự động hoá đã đợc ứng dụng trong các dây truyền chế
biến nông sản, nh đánh bóng, phân loại gạo, cà phê chế biến đờng, bánh kẹo,
ơm tơ, chế biến thc ăn gia súc mức độ tự động hoá trong nông nghiệp
nông thôn mới chỉ chiếm khoảng 0,3% riêng khâu chế biến nông sản đạt
khoảng 5%.
Công nghệ sinh học trong 10 năm gần đây đã tạo ra nhiều giống lúa,
ngô, rau, đậu, cây ăn quả, cây lâm nghiệp, năng suất cao phù hợp với các
vùng sinh thái. Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về công nghệ sinh học đợc
áp dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ hải sản, công nghệ chế
biến, công nghệ sản xuất phân vi sinh. Sản xuất nấm
+Thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn đã
thúc đẩy hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh nh:
lúa, cao su, cà phê, chè, điêu, hồ tiêu, lạc, mía, bông, dâu tằm rau quả, lợn,
bò, tôm, cá
+Công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ sản đã có bớc tăng trởng đáng kể.
Giá trị sản lợng công nghiệp chế biến nông, lâm thuỷ sản liên tục
tăng, tốc độ tăng trung bình hàng năm là 12% -14% và là ngành chiếm tỷ lệ
khá lớn trong nông thôn 30%-32%. So với năm 1990 chế biến đờng tăng
22
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
3,4 lần, cà phê 4 lần, cao su (mù khô) 3,2 lần, xay xát gạo 1,9 lần, điều nhân
80 lần giá trị sản lợng công nghiệp chế biến so với tổng sản lợng nông
nghiệp ngày càng tăng, từ 33,8% năm 1990 lên 42% năm 1995 và khoảng
46% những năm gần đây. Một số cơ sở chế biến đã tiếp cận công nghệ và
thiết bị ngang với trình độ khu vực và thế giới nh xay xát gạo, tơ tằm, mía đ-
ờng, bánh kẹo, nớc quả cô đặc, chế biến gỗ rừng trồng, chế biến thuỷ sản
+ Ngành nghề nông nghiệp đang phát triển nhanh đóng góp quan

*Bốn là: chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp gắn với việc nâng cao hiệu
quả xã hội nhằm từng bớc xoá đối, giảm nghèo, tăng ngời giàu, hộ giàu và
xây dựng nông thôn mới.
Cùng với quan điểm hiệu quả kinh tế phải gắn với hiệu quả xã hội, ở
đây ta có thể xem đó là đặc trng của nền kinh tế XHCN để chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp có hiệu quả phải là một sự chuyển dịch mà trong
đó vấn đề xã hội phải đợc giải quyết tốt đời sống văn hoá, xã hội, phúc lợi xã
hội , cơ sở hạ tầng của nền kinh tế nông nghiệp nông thôn phải đợc nâng
cao. Vấn đề này là nhằm nâng cao tỷ suất nông sản hàng hoá, phải gắn liền
với việc chăm lo đời sống nhân dân phát triển nông nghiệp đi đôi với việc
giải quyết một cách căn bản các vấn đề xã hội và môi trờng sinh thái. Tạo
nhiều việc làm, tăng thu nhập của nông dân, tích cực xoá đói, giảm nghèo,
nâng cao số hộ đủ ăn đi lên giàu có, đợc học hành, đào tạo nghề nghiệp, từng
bớc đo thị hoá nông thôn Việt Nam theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc.
23
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
Biểu 10: tỷ trọng hộ nông nghiệp và hộ phi nông nghiệp
Cả nớc TMTD
Bắc bộ
ĐB Sông
Hồng
Khu bốn

Duyên
hải MT
Tây
nguyên
Đông
nam bộ

thôn để thúc đẩy thành nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh
nhng trong nhiều lĩnh vực sản xuất còn phân tán manh mún, quy mô sản
xuất hộ gai đình rất nhỏ, về lâu dài có thể gây trở ngại cho quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng và nhà nớc đa ra nhằm
xây dựng một nền nông nghiệp phát triển theo hớng công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, vấn đề quy mô sản xuất của hộ gia đình còn mới, cho nên nó mới
24
Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
chỉ là thời gian đầu phát triển, còn nhỏ, phân tán và manh mún. Hiện nay với
khoảng hơn 10 triệu hộ nông dân có quy mô diện tích bình quân quá thấp
vào khoảng 0,8 ha/hộ, đất đại lại phân tán, manh mún với trên 100 triệu thửa,
chỉ thích hợp sử dụng lao động thủ công, việc cơ giới hoá hết sức khó khăn.
Điều này nếu không có giải pháp từng bớc tập trung đất đai thì không thể
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp có hiệu quả, nhất là Đồng bằng
Sông Hồng và Miền trung.
+Ba là trong công nghệ chế biến nông, lâm thuỷ sản vừa qua đã có b-
ớc tăng trởng đáng kể nhng nhìn một cách tổng quan còn nhỏ bé phân tán,
trình độ công nghệ thấp, sản phẩm chế biết đạt chất lợng cha cao, khả năng
cạnh tranh còn nhiều hạn chế.
Ta biết đợc nền kinh tế trong thời gian gần đây có sự phát triển nhng
sự phát triển vẫn cha ổn định và bền vững. Cơ cấu ngành đã có sự thay đổi và
đặc biệt trong nông nghiệp đã có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Công nghệ
khoa học kỹ thuật nớc ta còn thấp và lạc hậu, chính điều này làm lên những
ảnh hởng cho các ngành khác, nh ngành chế biến nông sản, ngành này phụ
thuộc rất nhiều vào công nghệ kỹ thuật. Chất lợng chế biến một số ngành
nh chè, mía đờng, rau quả, thịt cha cao, mặt hàng còn đơn điệu, tính cạnh
tranh kém , giá trị thấp, giá xuất khẩu thờng thấp hơn giá thị trờng thế giới
cùng loại 10-15 %.
Mặt khác là do quy hoạch và đầu t mới cho công nghệ chế biến cha t-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status