Rèn luyện kĩ năng nghe, nói cho học sinh lớp 1 trong dạy học tiếng việt - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGÔ HIỀN TUYÊN

RÈN KĨ NĂNG NGHE – NÓI
CHO HỌC SINH LỚP 1
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

HÀ NỘI, 2012


2

RÈN KĨ NĂNG NGHE – NÓI
CHO HỌC SINH LỚP 1
TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số:

62.14.01.11

:
1. PGS. TS.
2. TS.

, 2013

cứu tìm ra những nội dung cũng nhƣ các biện pháp rèn KNNN cho HS nói chung,
HS đầu cấp TH nói riêng một cách hiệu quả là hết sức cần thiết.


4

1.2. Nghe - nói tốt giúp HS nhận thức và khám phá thế giới có hiệu quả
Hoạt động nghe - nói là hoạt động quan trọng trong việc nâng cao chất lƣợng
học tập của HSTH nói chung và HS lớp 1 nói riêng. Nghe - nói tốt sẽ giúp các em
giao tiếp có hiệu quả và cũng là cơ sở quan trọng tạo ra sự thành công trong học
tập. Bên cạnh đó, nghe - nói còn là một phƣơng tiện để HS tƣ duy và nhận thức về
thế giới xung quanh một cách tích cực. Các em sử dụng hoạt động nghe - nói của
mình để giải quyết trực tiếp một vấn đề hay một tình huống nào đó xảy ra trong
môi trƣờng giao tiếp của mình. Chính khả năng sử dụng ngôn ngữ của các em, đặc
biệt là hoạt động nghe - nói, đã ảnh hƣởng mạnh mẽ tới cách tƣơng tác xã hội và
ảnh hƣởng không nhỏ tới hiệu quả trong giao tiếp của các em.
Năng lực ngôn ngữ tốt là cơ sở giúp trẻ phát triển năng lực học tập, năng lực
tƣ duy, năng lực hợp tác. Đồng thời giúp trẻ tự mình tìm hiểu và khám phá thế giới
xung quanh một cách dễ dàng. Vì vậy, chúng ta xác định việc nâng cao năng lực sử
dụng ngôn ngữ thông qua quá trình rèn KNNN sẽ:
- Cung cấp cho trẻ một phƣơng tiện hoạt động hữu hiệu trong nhiều lĩnh vực
khác nhau của nhà trƣờng.
- Giúp trẻ biết tiếp nhận lời ngƣời khác một cách đầy đủ, chính xác; biết chia
sẻ ý kiến, thƣơng lƣợng, quản lí các hoạt động tƣơng tác, biết cách thức giao tiếp
với những ngƣời khác…
- Giúp trẻ biết cách tạo lập lời nói của mình một cách có văn hóa, lễ phép,
phù hợp với những nhân tố khác nhau của hoạt động giao tiếp.
Do tầm quan trọng của nghe - nói trong hoạt động nhận thức và khám phá thế
giới của trẻ nhƣ vậy nên đề tài đi sâu vào tìm hiểu những đặc điểm của hoạt động
nghe - nói và từ đó đƣa ra đƣợc các biện pháp luyện tập phù hợp với đặc điểm tâm

Thứ ba, cách thức tổ chức rèn KNNN trong nhà trƣờng hiện nay còn đơn
điệu, nhàm chán chƣa thực sự lôi cuốn sự tham gia tích cực của HS. Để tăng cƣờng
hiệu quả việc rèn KNNN cho HS, GV cần phải chú ý đến các yếu tố: khả năng bộc
lộ các KN, khả năng thể hiện kiến thức, khả năng xác định nội dung, đối tƣợng,
mục đích và hoàn cảnh giao tiếp phù hợp để giao tiếp hiệu quả. HS cần học cách
nói chuyện với chính bản thân mình, tham gia các cuộc hội thoại, phỏng vấn, thảo
luận theo nhóm nhỏ, nói chuyện với GV và những ngƣời thân xung quanh. Các em
phải học cách nói chuyện phù hợp với các tình huống và đối tƣợng giao tiếp khác
nhau.


6

1.4. Yêu cầu đổi mới việc dạy học TV và rèn KNNN cho HSTH
Nghị quyết đại hội trung ƣơng IV (khoá 7) có ghi: “Sự phát triển của đất
nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra những
thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo của đất nước
ta. Bối cảnh mới tạo cơ hội thuận lợi để giáo dục đào tạo nước ta tiếp cận với xu
thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực
bên ngoài, tạo thời cơ để phát triển giáo dục và đào tạo; tạo điều kiện để đổi mới
căn bản và toàn diện nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi
mới quản lí giáo dục, đào tạo, tiến tới một nền giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiện đại
đáp ứng nhu cầu của xã hội và từng cá nhân người học”.
Theo tinh thần này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành triển khai các nhiệm
vụ nhằm cụ thể hóa những giải pháp mang tính chiến lƣợc trong giáo dục TH, cụ
thể:
- Tiến hành rà soát và điều chỉnh một phần SGK. Chƣơng trình TV đƣợc định
hƣớng tăng cƣờng thực hành và rèn các KN cụ thể nhƣ nghe - nói - đọc - viết.
- Quán triệt tinh thần đổi mới phƣơng pháp dạy học lấy HS làm trung tâm,
khắc phục nhƣợc điểm của lối dạy học truyền thống, tiếp cận với các phƣơng pháp

- Tổng quan nghiên cứu về vấn đề rèn KNNN cho HSTH trong và ngoài nƣớc
thông qua vệc tìm kiếm, tập hợp tƣ liệu tham khảo.
- Hệ thống hóa, phân tích một cách chi tiết, cặn kẽ những cơ sở lí luận khoa
học về tâm lí học, ngôn ngữ học, tâm lí học hoạt động của việc rèn KNNN cho HS
đầu cấp TH.
- Khảo sát chƣơng trình, hệ thống BT rèn KNNN trong SGK TV1; khảo sát
tình hình rèn KNNN cho HS lớp 1 trong thực tiễn dạy học. Trên cơ sở đó, phát
hiện những ƣu điểm và hạn chế của việc rèn KNNN cho HS lớp 1 và xác định
hƣớng đề xuất của đề tài.
- Xây dựng nội dung và biện pháp tổ chức quá trình rèn KNNN.
- Đề xuất HTBT rèn KNNN cho HS lớp 1 và thiết kế một số giờ dạy mẫu
nhằm cụ thể hoá quy trình hình thành KNNN.
- Kiểm chứng khả năng thực thi của các đề xuất đƣợc nêu ra trong luận án
bằng tổ chức thực nghiệm đánh giá để đƣa ra kết luận và kiến nghị cần thiết.


8

3.
3.1. Đối tượng
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án chính là nội dung và cách tổ chức rèn
KNNN cho HS lớp 1 thông qua môn TV. Bên cạnh đó, luận án còn quan tâm
nghiên cứu các biện pháp tổ chức rèn KNNN thông qua các BT thực hành. Trên cơ
sở xác định mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết của hai KN này trong tổng thể các KN
sử dụng ngôn ngữ của HSTH.
3.2. Phạm vi
Một trong những mục tiêu quan trọng của việc dạy TV cho HSTH nói chung
và HS lớp 1 nói riêng là hình thành và phát triển cả bốn KN nghe - nói - đọc - viết
cho các em. Tuy nhiên, đề tài chỉ giới hạn xem xét nghiên cứu hai KN cơ sở ban
đầu là KN nghe và KN nói, trong đó nhấn mạnh KNNN trong hoạt động giao tiếp.

những sự kiểm chứng về tính khả thi của đề tài.
4.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là một phƣơng pháp nhằm kiểm tra, đánh giá và xem xét tính khả thi của
những nội dung, phƣơng pháp rèn KNNN cho HS đã đƣa ra trong luận án. Ngoài
việc lấy ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lí, GV, đề tài còn tiến hành quan
sát thực tiễn dạy học của GV, HS, xử lí số liệu khảo sát một cách tỉ mỉ, công phu
và chính xác. Quá trình thực nghiệm cũng là quá trình thăm dò, kiểm nghiệm từng
bƣớc đi một cách chắc chắn trong suốt quá trình nghiên cứu và triển khai theo định
hƣớng ban đầu của đề tài.
Luận án đã sử dụng các loại thực nghiệm cơ bản sau:
- Thực nghiệm thăm dò nhằm thăm dò khả năng thực hiện các nội dung và
phƣơng pháp rèn KNNN mà luận án đã đƣa ra nhằm tăng cƣờng KN sử dụng ngôn
ngữ cho HS lớp 1.
- Thực nghiệm kiểm tra, đánh giá (thực nghiệm dạy học): nhằm kiểm tra,
đánh giá việc ứng dụng các nội dung và phƣơng pháp rèn KNNN trong quá trình
dạy học môn TV ở đầu cấp TH.
5.
Hiện nay, việc rèn KNNN cho HS đầu cấp TH còn chƣa đƣợc GV chú trọng.
Hình thức luyện tập chƣa thật lôi cuốn, hấp dẫn và đặc biệt là HS còn có tâm lí e
ngại khi đứng trƣớc lớp nên việc rèn KNNN chƣa đạt đƣợc kết quả mà nhà trƣờng


10

mong muốn. Vì vậy, nếu chúng ta dựa trên một cơ sở lí luận khoa học chắc chắn,
việc khảo sát thực trạng đƣợc tiến hành chu đáo và đề xuất đƣợc những nội dung
cũng nhƣ biện pháp, quy trình luyện tập thích hợp thông qua HTBT khoa học, hấp
dẫn, phù hợp với đối tƣợng HS thì chắc chắn chất lƣợng rèn KNNN cho HS đầu
cấp TH sẽ đƣợc nâng cao. Các em sẽ mạnh dạn, tích cực luyện tập hơn và điều đó
sẽ giúp các em thực hiện hoạt động nghe - nói có hiệu quả, tạo cho các em sự tự

cấp TH
Chƣơng 2: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn KNNN cho HS lớp 1 qua
môn TV
Chƣơng 3: Tổ chức rèn KNNN cho HS lớp 1 trong dạy học môn TV
Chƣơng 4: Thực nghiệm sƣ phạm
- Phần Kết luận chung gồm những kết quả đạt đƣợc, những đóng góp mới
và đề xuất của luận án.
Ngoài 4 phần chính, luận án còn có:
- Phần tài liệu tham khảo: Thống kê tài liệu tham khảo đƣợc sử dụng trong
quá trình hoàn thành luận án.
- Phần phụ lục: Giới thiệu phiếu điều tra và kết quả điều tra dành cho cán bộ
quản lí, GVvà HS về vấn đề rèn KNNN ở đầu cấp TH; giới thiệu một số giáo án
mẫu về tiết dạy rèn KNNN cho HS lớp 1.


12

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ
RÈN KĨ NĂNG NGHE - NÓI CHO HỌC SINH ĐẦU CẤP TIỂU HỌC
1.1. Việc nghiên cứu hoạt động nghe - nói và dạy học nghe - nói cho HS đầu
cấp TH ở một số nƣớc trên thế giới
1.1.1. Một số công trình nghiên cứu về rèn KNNN
Hiện nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu về năng lực sử dụng ngôn ngữ
của HSTH nói chung và vấn đề hình thành KNNN cho HS đầu cấp TH nói riêng.
Trong phạm vi và khuôn khổ của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số
công trình có đề cập đến vấn đề rèn KNNN cho HS đầu cấp TH mà đề tài quan
tâm.

- Đầu tiên, cần khái quát về quan điểm dạy Tiếng mẹ đẻ của các nhà khoa

cứu và thực nghiệm trong thực tiễn giảng dạy và mang đến hiệu quả cao cho HS
trong quá trình hình thành và rèn KNNN.
+ Tác phẩm “Toward an analysis of discourse” (Hƣớng đến việc phân tích
diễn ngôn), xuất bản năm 1975 của tác giả Sinclair và Coulthard (Anh) [140] đã
cung cấp và mô tả các mô hình hội thoại của GV và HS trong giờ học, nhấn mạnh
vai trò hình thức hội thoại trong việc rèn KNNN cho HS.
+ Tài liệu “Teaching Speaking and Listening in the Primary School” (Dạy
nói và nghe trong trƣờng TH) (2000) của nhóm tác giả Elizabeth Grugeon, Lyn
Dawers, Carol Smith and Lorraine Hubbard [136]. Tài liệu này đã cung cấp một
cách nhìn tổng quan về vai trò và sự phát triển của KNNN trong nhà trƣờng. Tài
liệu cho thấy các hình thức tổ chức việc rèn KNNN trên sân chơi hay trong lớp
học, tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm dƣới hình thức đối thoại, tổ chức luyện
nói thông qua thảo luận, trò chơi, đóng vai và kể chuyện cũng là những hình thức
mang lại hiệu quả tích cực. Đặc biệt, tài liệu còn khẳng định vai trò tổ chức và
hƣớng dẫn, cách đặt câu hỏi và khuyến khích HS nói, cách lắng nghe và chia sẻ
của GV đối với HS là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công. Tài liệu cũng
đƣa ra một số hình thức tổ chức rèn KNNN thông qua một số những phƣơng tiện
hiện đại: máy tính, phim truyền hình... Điều quan trọng nhất là trong chƣơng 8 của
tài liệu có giới thiệu về cách kiểm soát và đánh giá KNNN trong lớp học. Từ việc
lập kế hoạch cho đến việc thu nhập những kết quả về KNNN của HS trong quá
trình phát triển. Và cuối cùng là việc kiểm tra khả năng nghe - nói độc lập cũng
nhƣ đánh giá mức độ KNNN của các em khi tham gia hoạt động nhóm dƣới các
hình thức khác nhau.


14

Tài liệu giúp chúng tôi hiểu và tiếp cận đƣợc phần nào đó việc giảng dạy và
rèn KNNN trong trƣờng TH nƣớc Anh và có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn trong
việc đề xuất các biện pháp rèn KNNN cho HS đầu cấp TH của mình.


Munro (Australian Council for Educational Resesrch) [134] là cuốn sách rất đáng
đƣợc chú ý. Trong tác phẩm này, tác giả không chỉ đƣa ra những căn cứ thuyết
phục xác định tầm quan trọng của KNNN trong quá trình dạy KN đọc - viết và quá
trình tiếp nhận kiến thức mà còn đề cập đến lí do đặt vấn đề trọng tâm của ngôn
ngữ giao tiếp trong những năm đầu cấp TH thông qua mô hình có tên gọi là
ICPALER. Mục đích của mô hình nhằm trang bị cho GV những nội dung cơ bản
cũng nhƣ cách kiểm soát các KNNN của HS. Trong phần hai, tài liệu miêu tả rất rõ
quá trình giảng dạy nhằm nâng cao ngôn ngữ nói cho HS cấp TH. Việc hình thành
và phát triển ngôn ngữ nói cho HS đƣợc thực hiện qua những hoạt động dạy học
nhằm từng mục tiêu cụ thể phù hợp với từng giai đoạn:
o Dạy các quy ƣớc và nghĩa của từ
o Dạy cách nghe hiểu và diễn đạt câu
o Dạy nghe hiểu và diễn đạt chủ đề
Trên cơ sở đó, cuốn sách còn dạy HS vận dụng cách sử dụng ngôn ngữ
trong học tập và giao tiếp.
- J.A. Foley (2006), “New Dimentions In The Teaching of Oral
Communication” (Anthology series 47 Published by Seameo Regional language
Centre) [138] đã tập hợp 16 vấn đề đã đƣợc lựa chọn để đại diện cho những ý
tƣởng và quan điểm về “Những chuẩn mực mới trong giảng dạy giao tiếp”. Các
vấn đề trên đƣợc chia làm 3 nhóm: lí thuyết nền tảng, ứng dụng thực tế và đánh giá
giao tiếp. Nhìn chung, tài liệu đã đề cập đến vai trò của KN nói trong việc học tập
một ngôn ngữ, trong đó đặc biệt quan tâm tới sự phát triển ngôn ngữ của trẻ.
- R.J. Campbell (2006), “Developing the primary School Curriculum” [139]
giúp ta có cái nhìn tổng quan về chƣơng trình phát triển giáo dục ở TH, bao gồm
các vấn đề: tình hình chính trị, học thuyết về chƣơng trình phát triển giáo dục, vai
trò của giáo viên; cung cấp những kinh nghiệm nghiên cứu về chƣơng trình giáo
dục của một số nƣớc; đƣa ra một mô hình nhà trƣờng lí tƣởng trong đó nhấn mạnh
nhận thức của GV về vai trò của họ và điều kiện môi trƣờng làm việc của GVTH.
Qua đó, ta có một hình dung tổng thể về vị trí vấn đề đang nghiên cứu đƣợc đặt

quả, nên ngôn ngữ nói có vai trò quan trọng ở TH. Khi học xong TH, HS biết sử
dụng ngôn ngữ nói phù hợp với trình độ phát triển của mình”. Tƣơng tự nhƣ vậy,
chƣơng trình Dạy Tiếng mẹ đẻ của Thái Lan cho rằng: “Việc dạy Tiếng phải trau
dồi cho HS KN nghe - nói - đọc - viết và khả năng dùng ngôn ngữ để thông báo và


17

bày tỏ tình cảm một cách có hiệu quả cao, có ấn tƣợng sâu sắc, đúng mực, sáng tạo
và thích hợp” [119].
Trong khi đó, chƣơng trình dạy Tiếng Pháp (1985) cũng đƣa ra những mục
tiêu hết sức rõ ràng là việc thành thạo các KN sử dụng ngôn ngữ quyết định thành
quả học tập của HS ở trƣờng TH. Một mặt nó là sự khởi đầu của mọi môn học, mặt
khác nó hình thành tƣ duy rõ ràng, có tổ chức và chủ động. Hơn thế, chƣơng trình
còn khẳng định dứt khoát rằng: KNNN tiếng Pháp là một trong những yếu tố tạo
điều kiện cho mọi thành công trong học tập và tạo cơ sở cho việc hòa nhập vào xã
hội một cách thoải mái.
Nhƣ ta thấy, mục tiêu rèn các KN nói chung và việc đề cao vai trò của KNNN
trong giai đoạn đầu cấp TH của các nƣớc trên đều khẳng định thông qua việc
chiếm lĩnh ngôn ngữ nhƣ một công cụ sắc bén để tƣ duy và giao tiếp.
Nếu nghiên cứu các chƣơng trình dạy Tiếng mẹ đẻ trên thế giới, ta có thể chia
làm 2 nhóm: nhóm cấu tạo dạy theo phân môn và nhóm cấu tạo dạy theo năng lực
ngôn ngữ.
+ Ở nhóm cấu tạo dạy theo phân môn ta có thể kể tới Cộng hòa dân chủ Đức,
Pháp, Nga, Việt… Dƣới đây là bảng thống kê các phân môn dạy ngôn ngữ nói và
ngôn ngữ viết của Đức và Pháp:
Nƣớc

Các phân môn
dạy ngôn ngữ nói

diện sau: Tiếng Anh (của Anh, của hạt Đê-Von, của xứ Wale, của Ô-xtrây-li-a, của
Xri-lan-ca…). Nhóm này xây dựng chƣơng trình dựa trên các năng lực ngôn ngữ,
chia việc học Tiếng mẹ đẻ thành các KN nghe - nói - đọc - viết hoặc thành các KN:
nghe - nói - đọc và viết. Nhóm dạy Tiếng mẹ đẻ theo năng lực ngôn ngữ đề cao
việc rèn KNNN trong quá trình học tập.
1.1.2.2. Rèn KNNN trong giao tiếp và bằng giao tiếp
Rèn KNNN trong giao tiếp và bằng giao tiếp là phƣơng pháp giảng dạy
Tiếng mẹ đẻ đƣợc một số nƣớc lựa chọn. Theo định hƣớng này, dạy ngôn ngữ nói
là lấy giao tiếp làm môi trƣờng, phƣơng pháp, nhiệm vụ và mục đích của việc rèn
KNNN. Đồng thời làm thay đổi nhiều đến nội dung chƣơng trình nhằm tạo cơ hội
cho trẻ tham dự vào hội thoại, tham gia vào cuộc thảo luận, tranh luận. Chính điều
đó giúp ta hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa lời nói và KN sử dụng lời nói, giữa KN
lời nói và năng lực lời nói.
Trong chƣơng trình dạy Tiếng của Malaixia cho rằng: Những KN cơ bản về
nghe - nói - đọc - viết giúp cho HS sử dụng lời nói vì những mục đích thực tiễn và
sáng tạo. Qua đó, ta thấy năng lực lời nói có ảnh hƣởng tới kết quả của việc sử
dụng lời nói.
Chƣơng trình Tiếng Pháp (Ca-na-đa) khẳng định: việc sử dụng lời nói nhƣ
một công cụ giao tiếp phản ánh hết qua một tổng thể các KN.
Chƣơng trình dạy Tiếng mẹ đẻ của Ấn Độ lại đƣa ra vấn đề khác nhau giữa
KN lời nói và năng lực lời nói. Nói KN lời nói là dừng ở mức độ thành thục của
thao tác lời nói. Nói năng lực lời nói là bao hàm thêm cả sự thành thục trong suy
nghĩ của các thao tác trí tuệ.
- Qua việc tìm hiểu những nghiên cứu chung trên thế giới về vấn đề rèn KNNN
cho HSTH, đề tài xác định:
- Vai trò KNNN đƣợc đặt ngang hàng với KN đọc - viết và là KN nền tảng để
phát triển KN đọc - viết.


19

trong giao tiếp và trong dạy học TV ở TH. Những tài liệu này chính là căn cứ để


20

chúng tôi suy nghĩ về phƣơng pháp dạy KNNN cho HSTH nhằm khắc phục đƣợc
các lỗi sử dụng trong giao tiếp.
- Trong cuốn “Hoạt động giao tiếp với dạy học TV ở TH” [22], hai tác giả
Phan Phƣơng Dung và Đặng Kim Nga đã nghiên cứu đến vấn đề giao tiếp và hoạt
động giao tiếp nhƣ: các hình thức giao tiếp, chức năng của giao tiếp, ngôn bản và
các nhân tố giao tiếp, các dạng lời nói và hoạt động giao tiếp, quá trình sản sinh và
quá trình tiếp nhận lời nói trong hoạt động giao tiếp.
- Tác giả Nguyễn Quang Ninh đã bàn đến việc rèn KN nói và viết theo hƣớng
giao tiếp trong hai công trình “Một số vần đề dạy học ngôn bản nói và viết ở TH
theo hướng giao tiếp” [71] và“Rèn KN sử dụng TV” [70]. Tác giả nhấn mạnh vấn
đề hội thoại theo hƣớng giao tiếp, đồng thời cho rằng: hội thoại là hoạt động giao
tiếp bằng miệng giữa các nhân vật tham dự giao tiếp nhằm trao đổi những thông
tin hoặc trao đổi tƣ tƣởng, tình cảm... theo mục đích đã đƣợc đặt ra.
- Với đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả rèn KN nói cho HSTH ở
môn TV” [58] , tác giả Trần Thị Hiền Lƣơng đã xác định đƣợc biện pháp dạy học
rèn KN nói cho HS xuất phát từ đặc điểm lứa tuổi HSTH, từ lí luận dạy học hiện
đại, đến tăng cƣờng thực hành. Trong đề tài, tác đã đƣa ra các biện pháp rèn KN
nói nhƣ rèn KN phát âm, rèn KN nói độc thoại, nói hội thoại trong đó có KN sử
dụng ngôn ngữ cho HSTH.
- Ngoài ra, một số luận văn và luận án khác cũng đề cập đến vấn đề này từ
các phƣơng diện khác nhau, ví dụ: Lê Thị Thanh Hà - “Phương pháp dạy học Tập
làm văn nói theo hướng giao tiếp cho học sinh lớp 2” [38], Phạm Thị Phƣợng “Giúp học sinh lớp 2 học tốt các bài “Nghi thức lời nói” trong giờ Tập làm văn”
[81], Nguyễn Hồng Thúy - “ Xây dựng hệ thống bài tập rèn KN hội thoại cho học
sinh lớp 4” [104], Tạ Thị Thu Xuân - “Rèn KN nghe - kể chuyện cho học sinh lớp 3
qua phân môn Tập làm văn” [128], Nguyễn Thị Thu Hƣơng - “Dạy học nghi thức


hạn chế của việc nghiên cứu TV. Cách học thời đó vẫn là đánh vần từng tiếng một.
Ngƣời học hoàn toàn thụ động trong việc ghép âm, ghép vần rồi đánh vần, thậm
chí cả “đánh vật” với các tiếng khó. Và đƣơng nhiên, cách thầy đọc - trò chép, thầy
giảng - trò ghi là cách dạy học cơ bản nhất của cả một thời. Giai đoạn này, các nhà
nghiên cứu mới chỉ quan tâm tới việc cung cấp tri thức TV chứ chƣa hề quan tâm
tới vấn đề nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ thông qua việc rèn các KNNN bên
cạnh việc rèn các KN đọc - viết.
-

Từ cuối những năm 50 cho đến năm 1976
Việc nghiên cứu dạy TV nói chung vẫn chƣa đƣợc quan tâm nhiều, mặc dù

lúc này đội ngũ các nhà nghiên cứu đã tiếp cận đƣợc với những thành tựu khoa học


22

của Liên Xô và các nƣớc Đông Âu. Chƣơng trình môn Ngữ văn ở TH bao gồm 2
bộ phận: TV và Văn học.
+ Bộ phận thứ nhất: Tập đọc, Học thuộc lòng, Kể chuyện.
+ Bộ phận thứ hai: Tập chép, Chính tả, Ngữ pháp, Tập làm văn.
Nhiệm vụ của chƣơng trình là giúp HS trau dồi kiến thức ngôn ngữ, kiến
thức văn học, kiến thức đời sống, giáo dục tình cảm thẩm mĩ, bồi dƣỡng tâm hồn…
Bên cạnh đó, chƣơng trình đã bắt đầu đề cập đến việc rèn KN thông qua các phân
môn một cách gián tiếp. Trong đó, KNNN đƣợc chú trọng ở các phân môn Kể
chuyện và Tập làm văn (miệng).

- Những năm 80, 90 của thế kỉ trước
Những nhà nghiên cứu TV cũng đã dành cho môn TV cấp TH sự quan tâm


trình TV chƣa quan tâm đúng mức tới yếu tố văn hoá truyền thống của dân tộc để
dạy văn hoá ứng xử trong giao tiếp.
- Về nội dung
Chƣơng trình TV ở TH trƣớc năm 2000 coi nhẹ việc rèn các KN nghe và
KN nói TV. Hầu nhƣ các chƣơng trình đều chƣa quan tâm đúng mức tới việc dạy
TV trong hội thoại, nâng cao năng lực giao tiếp trong hội thoại cho HS. KN giao
tiếp chỉ đƣợc hình thành một cách tự phát trong quá trình học TV tại nhà trƣờng
cũng nhƣ trong đời sống hàng ngày của HS.
Quan niệm về các KN sử dụng TV chƣa toàn diện, bỏ qua một số KN cần
thiết nhƣ KNNN trong hội thoại, trong giao tiếp ở gia đình, nhà trƣờng, xã hội…
mà chỉ quan tâm đến hai KN chủ yếu là đọc - viết. Bên cạnh đó, quan niệm cũ
chƣa khai thác vốn TV sẵn có của HS trong quá trình dạy học TV. Quan niệm về
các văn bản dùng làm ngữ liệu dạy học chƣa toàn diện, thiên về các văn bản mang
tính nghệ thuật, chƣa coi trọng các loại văn bản khác cần sử dụng trong đời sống.
- Về phương pháp
Các phƣơng pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp chƣa đƣợc sử dụng
trong dạy và học TV. Việc luyện tập các KN chƣa đƣợc đảm bảo độ thành thạo,
thuần thục nên đã hạn chế đến kết quả học TV nói chung.
1.2.2.2. Quan điểm về việc rèn KNNN trong môn TV ở trường TH Việt Nam những
năm gần đây
- Chƣơng trình TV năm 2000 đƣợc biên soạn dựa trên những định hƣớng:
Dạy TV thông qua hoạt động giao tiếp; tận dụng những kinh nghiệm sử dụng TV
của HS; vận dụng quan điểm tích hợp trong dạy TV; kết hợp dạy TV với dạy văn
hoá và dạy Văn. Từ những định hƣớng này, chƣơng trình TV 2000 đã xác định
mục tiêu môn học thông qua 3 lĩnh vực: KN, kiến thức và thái độ. Ngoài mục tiêu


24



25

điều chỉnh, bổ sung và nghiên cứu lại cho phù hợp với thực tiễn dạy học và đáp
ứng tốt nhất cho mục tiêu chƣơng trình đã đề ra:
Thứ nhất, chƣơng trình hiện tại chƣa chú trọng vào phần luyện ngữ âm, đặc
biệt là phần luyện KN phát âm phân biệt các âm- vần khó.
Thứ hai, hình thức rèn KNNN còn đơn điệu, chủ yếu thông qua hình thức
quan sát tranh, nói từ, câu chứa âm - vần đƣợc học. Nội dung rèn KNNN thông
qua giao tiếp còn hạn chế.
Thứ ba, các biện pháp rèn KNNN chƣa phong phú và đa dạng nên chƣa thực
sự hấp dẫn đối với HS lớp 1.
1.2.2.3. Chương trình TV Công nghệ giáo dục
Chƣơng trình đƣợc xây dựng trên quan điểm lựa chọn khoa học ngôn ngữ về
TV hiện đại làm tiền đề và diễn đạt nó dƣới hình thức một môn học theo nguyên
tắc mới: nguyên tắc phát triển, nguyên tắc chuẩn mực, nguyên tắc tối thiểu. Dựa
vào những nguyên tắc trên, chƣơng trình TV Công nghệ Giáo dục đã xác định một
quy trình dạy học tƣờng minh. Thông qua hệ thống việc làm, HS chiếm lĩnh đƣợc
tri thức khoa học cùng với các KN tƣơng ứng.
Việc hình thành và phát triển các KN sử dụng TV luôn đƣợc đặt bên cạnh
mục tiêu cung cấp tri thức TV cho HS. Đặc biệt, khi đề cập đến KN, chƣơng trình
TV Công nghệ giáo dục luôn xem xét các KN trong mối quan hệ chặt chẽ không
thể tách rời. Các KN nghe - nói - đọc - viết có tác động qua lại và ảnh hƣởng lẫn
nhau. KNNN là KN cơ bản ban đầu tạo tiền đề vững chắc cho KN đọc và viết. Cả
bốn KN nghe - nói - đọc - viết sẽ đƣợc tổng hợp và kiểm soát bằng quy trình trong
việc hình thành và phát triển KN viết. Chính vì vậy, dạy học theo quy trình công
nghệ là dạy học theo quy trình 4 việc. Ngoài việc tự chiếm lĩnh các kiến thức qua
hoạt động tự trải nghiệm của mình với HS còn đƣợc hình thành các KN tƣơng ứng
một cách tự nhiên. Ngay tên gọi hệ thống việc làm trong quy trình dạy học đã thể
hiện đƣợc tƣ tƣởng dạy học, cụ thể:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status