Giáo trình lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Biên soạn: ThS. NGUYỄN THỊ NHU
ThS. LÊ THANH HÀ

LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2004


LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội có giai cấp đối kháng, có tình trạng người áp bức bóc lột người thì ước nguyện
về một xã hội công bằng và sự vươn tới tư tưởng bình đẳng xã hội, khát vọng hạnh phúc cũng như
những cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau để thực hiện những ước vọng sẽ tất yếu nảy
sinh trong đời sống tinh thần của những người nghèo khổ và của tất cả những ai đứng về phía lợi
ích của họ. Tư tưởng xã hội chủ nghóa chính là những tư tưởng phản ánh ước nguyện ấy- ước
nguyện về một xã hội không còn sự áp bức bóc lột, không còn sự phân chia giai cấp, không có
chiến tranh, mọi người được ấm no, bình đẳng và hạnh phúc. Tư tưởng xã hội chủ nghóa cũng
phản ánh quan niệm về con đường, giải pháp và những điều kiện để đến xã hội tốt đẹp.
Những tư tưởng xã hội chủ nghóa đã thể hiện qua nhiều nội dung, khuynh hướng khác nhau,
dưới nhiều hình thức do điều kiện lòch sử cụ thể của mỗi thời kỳ quy đònh. Lòch sử của những tư
tưởng xã hội chủ nghóa ấy là một bộ phận của lòch sử tư tưởng nhân loại. Nó nghiên cứu chính
quá trình nảy sinh, hình thành và phát triển của các tư tưởng xã hội chủ nghóa. Lòch sử tư tưởng
xã hội chủ nghóa cũng nghiên cứu quá trình chủ nghóa xã hội phát triển từ không tưởng trở thành
khoa học.
Về phương pháp nghiên cứu, cần lưu ý đến việc tìm hiểu hoàn cảnh xuất thân và sự chuyển
biến lập trường của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghóa. Đối với môn Lòch sử tư tưởng xã hội chủ
nghóa, việc sử dụng phương pháp lòch sử là cần thiết nhằm tái hiện một cách trung thực quá trình
phát sinh, hình thành và phát triển của các tư tưởng xã hội chủ nghóa qua những thời kỳ, giai
đoạn, từ những biểu hiện sơ khai cho đến khi chín muồi, từ chỗ chưa thành văn cho đến khi trở
thành quan điểm, cương lónh, học thuyết... Tuy nhiên, cần phải gắn lòch sử với logic. Phương pháp

những yếu tố tư tưởng xã hội chủ nghóa tiêu biểu cho thời kỳ này.
1. Mầm mống tư tưởng xã hội chủ nghóa ở Hy Lạp cổ đại

Hy Lạp cổ đại nằm giữa châu Âu, châu Á và châu Phi, bao gồm vùng lục đòa Hy Lạp,
vùng Tây Tiểu Á và các đảo thuộc biển Egiê. Nền kinh tế Hy Lạp có khuynh hướng
thiên về thủ công nghiệp. Việc buôn bán trên biển rất phát đạt.
Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp tuy xuất hiện muộn hơn nhiều nước khác nhưng
phát triển rất nhanh và có tính chất điển hình. Vào thế kỷ XI- IX TCN, những yếu tố giai
cấp, nhà nước đã xuất hiện. Tình hình kinh tế- xã hội này của Hy Lạp được phản ánh
trong hai tập sử thi Ôđixê và Iliát. Hai tập sử thi này tương truyền là của Hôme- một nhà
thơ mù người Tiểu Á. Trong hai tập sử thi ấy có nhiều tư liệu lòch sử quan trọng, giúp
chúng ta hình dung đầy đủ hơn về thời kỳ này. Tầng lớp nô lệ đã xuất hiện. Nhìn chung
chế độ nô lệ còn mang tính chất gia trưởng. Tuy nhiên nô lệ phải chòu những hình phạt dã
man và bò ràng buộc chặt chẽ vào quyền thống trò khắc nghiệt của chủ nô.
Vào thế kỷ VIII TCN, sự phân hoá giai cấp diễn ra sâu sắc. Ba tầng lớp xã hội đã
hình thành: chủ nô, bình dân và nô lệ. Trong xã hội, lực lượng nô lệ ngày càng đông đảo.
Ngoài nô lệ vốn là tù binh chiến tranh thì những người lao động bò tước đoạt ruộng đất
cũng phải bán thân làm nô lệ. Chúa đất, thợ cả và lái buôn lớn đều sử dụng lực lượng
này. Nhà nước xuất hiện.
Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Những cuộc đấu tranh của nô lệ đã diễn ra dưới
nhiều hình thức: hủy hoại công cụ sản xuất, cướp phá mùa màng, bỏ trốn… Mặc dù bò
trừng trò dã man, nô lệ vẫn tiếp tục đấu tranh với những biện pháp quyết liệt hơn như bạo
động có tổ chức, khởi nghóa. Bên cạnh cuộc đấu tranh của nô lệ là những cuộc đấu tranh
của các tầng lớp khác chống lại thế lực phong kiến bảo thủ. Những cuộc đấu tranh này là


một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy vong của các quốc gia thành thò Hy Lạp cổ
đại. Thế kỷ thứ III TCN tại Xpáctơ đã diễn ra một phong trào cách mạng do nhà quý tộc
Aghít lãnh đạo, phản ánh nguyện vọng của các tầng lớp bên dưới muốn có ruộng đất và
tài sản vào những năm 40. Phong trào không tồn tại được lâu trước phản ứng của bọn

người nô lệ mà được đối xử như người tự do là điều vượt qua lẽ phải thông thường; ông là
kẻ thù của dân chủ,...
Lý thuyết về trạng thái tự nhiên còn làm nền cho những tiểu thuyết viễn tưởng thế kỷ
XVI- XVII.
2. Những mầm mống tư tưởng xã hội chủ nghóa ở La Mã cổ đại

La Mã (Rôma) là tên của một quốc gia cổ đại mà nơi phát nguyên là bán đảo Italia.
Bán đảo này dài và hẹp, nằm ở Nam Âu, vươn ra Đòa Trung Hải, có hình như chiếc ủng.


Vùng bán đảo Italia là nơi hội tụ nhiều luồng văn minh Đông, Tây Đòa Trung Hải, Bắc
Phi, Tiểu Á. Cư dân có mặt sớm nhất và cũng chủ yếu là người Italia (Italotes). Trong đó
bộ phận sống ở vùng Latium gọi là người Latinh. Về sau một nhánh của người Latinh
dựng lên thành La Mã ở bờ sông Tibrơ, từ đó được gọi là người La Mã. Theo truyền
thuyết thì thành La Mã được xây dựng vào năm 753 TCN. Khi mới thành lập La Mã chỉ
là một thành bang nhỏ ở Trung bán đảo Italia. Từ thế kỷ IV TCN, La Mã không ngừng
xâm lược ra bên ngoài. Hơn 100 năm sau, La Mã đã chinh phục toàn bộ bán đảo.
Ở bán đảo Italia thường xuyên nổ ra các cuộc chiến tranh giữa các thành bang và
nhiều cuộc đấu tranh giữa nô lệ và chủ nô, giữa bình dân và quý tộc, giữa đế chế La Mã
với các miền bò nó xâm lược. Chế độ chiếm hữu nô lệ ở đây không kém tàn bạo so với
Hy Lạp. Lao động nô lệ được sử dụng một cách phổ biến. Chợ nô lệ mọc lên khắp nơi.
Theo Hiến pháp La Mã thì nô lệ không có tính người. Dưới ách áp bức bóc lột của đế
chế La Mã, nhân dân và nô lệ đã vùng lên đấu tranh. Đặc biệt là khởi nghóa của nô lệ ở
đảo Xixin vao thế kỷ II TCN, và khởi nghóa của Xpáctaquýt1 vào khoảng đầu thế kỷ I
TCN.
Những cuộc đấu tranh của nhân dân lao động trong đó có nô lệ nhìn chung đều thất
bại, ngay cả cuộc khởi nghóa hàng vạn người do Xpáctaquýt lãnh đạo. Không tìm được
lối thoát hiện thực, quần chúng lao khổ đã tìm lối thoát trong tôn giáo - trong Cơ đốc
giáo. Cơ đốc giáo nẩy sinh trong lòng Palestin. Palestin nằm trên bán đảo Italia, là nơi
hội tụ của nhiều luồng văn minh của các nước vùng Tiểu Á. Những quan hệ kinh tế hàng

cuộc đời ông, những lời giảng đạo… được tập hợp thành sách giáo lý của Cơ đốc giáo.
Cơ đốc giáo sơ kỳ đã có thái độ phê phán người giàu, và khẳng đònh người nghèo sẽ
được Chúa đền đáp, như trong tác phẩm Kinh phúc âm:
“Sung sướng thay những người hành khất
Vì rằng giang sơn của anh là giang sơn của Chúa.
Sung sướng thay những người đang đói
Vì rằng các anh sẽ no nê
Sung sướng thay những người đang khóc
Vì anh sẽ được cười.
Còn buồn thay, những kẻ giàu
Đã được no nê rồi sẽ đói
Đã được cười rồi sẽ khóc…”
Trong Sự nghiệp các thánh tông đồ, những công xã Cơ đốc giáo sơ kỳ được mô tả như
những công xã cộng sản tiêu dùng. Trong công xã có quỹ chung để tiêu dùng và tổ chức
những bữa tiệc chung. Các thành viên trong công xã đều bình đẳng. Quyền lãnh đạo
thuộc về các sứ đồ. Điều này cho thấy mẫu mực xã hội lý tưởng của họ chính là chủ
nghóa cộng sản tiêu dùng.
Tư tưởng xã hội của Cơ đốc giáo sơ kỳ đã để lại một kiểu cách mơ ước về tương lai
tốt đẹp. Tương lai ấy là “Giang sơn ngàn năm của Chúa”, với niềm tin vào “Ngày Chúa
giáng thế lần hai”, “Ngày phán xét cuối cùng của Chúa”… Tư tưởng này thể hiện rõ
trong Khải huyền thư. Một nguyện vọng thực tế- nguyện vọng thủ tiêu Đế chế La Mã- đã
mượn tính hoang tưởng của tôn giáo để thể hiện. Như vậy, Cơ đốc giáo sơ kỳ với tư tưởng
cộng đồng nguyên thủy trong thế kỷ đầu sau công nguyên là hình thức thể hiện tinh thần
phản kháng của quần chúng bò áp bức.
Đến thế kỷ II các công xã Cơ đốc giáo liên hiệp lại và tổ chức thành Giáo hội. Từ
đây Giáo hội Cơ đốc giáo có nhiều thay đổi. Trong Cơ đốc giáo sơ kỳ ngày càng có
những người thuộc tầng lớp bên trên gia nhập. Quyền lãnh đạo Giáo hội thuộc về những
người thuộc tầng lớp bên trên. Giáo hội nêu ra nguyên tắc: vương quốc thì trả cho vua,
thiên quốc thì trả cho chúa Trời. Do có những thay đổi ấy nên đến đầu thế kỷ III các
hoàng đế La Mã ra lệnh ngưng sát hại các tín đồ Cơ đốc giáo. Năm 313 Cơ đốc giáo

sản xuất độc lập. Chính trong những phường hội này lợi ích giữa những người thợ bạn và
thợ cả tư sản hoá là đối lập nhau.
Thương nghiệp còn tác động đến nông thôn dẫn đến tình hình một bộ phận nông dân
có thể mua tự do để thoát sự ràng buộc của quan hệ sản xuất phong kiến. Đa số những
người nông dân tự do này bò rơi vào tình trạng bần cùng phải đổ xô vào các thành thò
kiếm sống. Những phường hội thủ công nghiệp thành thò nhỏ bé thời trung cổ không đủ
sức dung nạp lực lượng đông đảo này. Tầng lớp tay trắng ấy không khỏi mang tâm trạng
chống đối xã hội đương thời. Chính tầng lớp tiền vô sản ngoài phường hội là lực lïng
tích cực nhất trong các cuộc bùng nổ cách mạng.
Như vậy sự phát triển của nền kinh tế hành hóa - tiền tệ trong nửa sau thời trung đại
đã tạo ra một tập đoàn xã hội có thái độ thù đòch với chế độ xã hội đương thời và tập
đoàn ấy đã hướng đến lý tưởng xã hội chủ nghóa theo kiểu riêng của họ.
Những trào lưu có khuynh hướng xã hội chủ nghóa thời trung đại đa dạng, phong phú
nhưng giữa chúng có nhiều điểm chung.
+ Một là, trào lưu có khuynh hướng xã hội chủ nghóa thời trung đại mang mầu sắc tôn
giáo. Điều này là hiển nhiên khi mà thế giới quan tôn giáo chiếm ưu thế trong đời sống
tinh thần của xã hội lúc bấy giờ.
+ Hai là, trào lưu có khuynh hướng xã hội chủ nghóa thời trung đại thường xuất hiện
dưới hình thức những phong trào “dò giáo”. Những trào lưu chống áp bức bóc lột và mơ
tưởng đến cuộc sống tốt đẹp hơn đã không chỉ chống lại nền quân chủ chuyên chế mà
còn chống lại Giáo hội. Bởi vì lúc này Giáo hội câu kết với thế lực phong kiến, và bản


thân nó cũng là một thế lực áp bức bóc lột.Theo Ăngghen, những phong trào này là “sự
đối lập có tính chất cách mạng chống chế độ phong kiến”4. Các phong trào dò giáo này
lấy công xã Cơ đốc giáo sơ kỳ làm mẫu mực lý tưởng để đối lập với xã hội đương thời.
Theo họ, con người có thể trực tiếp với Chúa mà không cần đến trung gian là Giáo hội.
Họ đòi thuần khiết hóa tôn giáo.
Các phái dò giáo có những quan điểm không phù hợp với gíao điều của giáo hội Cơ
đốc giáo sơ kỳ. Các phái này có xu hướng nhò nguyên luận. Họ quan niệm thế giới là kết

trọng. Theo ông, cuộc sống ở Anh sẽ không tốt hơn chừng nào mà chưa co chế độ tài sản
chung, chưa hết quý tộc và nông nô, chưa có sự bình đẳng… Dựa vào Kinh thánh, Giôn
4

C. Mác - Ph.Ăngghen: Tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội, 1981, t.2, tr.206


Bôn phê phán sự bất bình đẳng. “Quyền hành của họ từ đâu ra- Giôn Bôn nói về quý tộc,
nếu như họ không phải là những kẻ tiếm quyền? Bởi vậy thời am đào đất còn Eva dệt
vải thì đâu đã có quý tộc.”5. Cuộc khởi nghóa cũng chỉ tồn tại khoảng một năm. Giôn Bôn
bò kết án tử hình.
- Phong trào Taborít là đỉnh cao của chủ nghóa cộng sản dò giáo trung cổ nổ ra vào
thế kỷ XV ở Tiệp Khắc. Lúc bấy giờ Tiệp Khắc là một trong những nước phát triển nhất
châu Âu và tập trung những mâu thuẫn gay gắt giữa các tập đoàn xã hội. Tại đây Giáo
hội Cơ đốc giáo đã cùng giới thương nhân gắn chặt với nhà nước quân chủ chuyên chế áp
bức bóc lột nhân dân lao động một cách tàn nhẫn. Khi nhà truyền giáo Ian Gaxơ bò Hội
nghò Giáo hội thiêu sống đã trở thành nguyên cớ trực tiếp của cuộc cách mạng năm 1419.
Những người khởi nghóa chia làm hai phái: phái ôn hòa (trung tâm là thành phố Praha),
phái dân chủ cấp tiến (trung tâm là thành phố Taborơ).
Phái dân chủ cấp tiến còn gọi là phái Taborít. Nguyên tắc chung của phái này vẫn là
những nguyên tắc của các phong trào dò giáo cộng sản chủ nghóa trước đó. Khẩu hiệu
chung vẫn là “giang sơn ngàn năm của Chúa”, “mọi người đều bình đẳng, mọi của cải
đều là của chung”… Ph.Ăngghen nhận xét rằng ở phái Taborit “ đã xuất hiện xu hướng
cộng hòa dưới cái vỏ thần quyền, xu hướng đó sau này được tiếp tục phát triển ở những
đại biểu của bình dân Đức vào cuối thế kỷ XV và đầu thế kỷ XVI”6.. Trong quá trình
phát triển của cách mạng từ năm 1419 -1434 phong trào Taborít lại phân hóa thành phái
hòa bình và phái cực tả.
+ Phái hòa bình chủ trương không chống nhà nước bằng vũ khí mà bằng cách không
tham gia vào nhà nước.
+ Phái cực tả phủ nhận chế độ tư hữu, phủ nhận hôn nhân gia đình, chủ trương không

phiếm thần luận. Ông cho rằng: thần linh không tồn tại ngoài con người. Thần linh chính
là lý tính của con người. Lòng tin là sự thức tỉnh của lý tính. Khi con người có niềm tin và
lý tính thì con người giống với thần thánh và có thể giành lấy hạnh phúc cho mình. Các
tín đồ của Chúa phải thiết lập thiên đường trên mặt đất. Không có thiên đường, đòa ngục
nào sau khi mất. Không có quỷ dữ nào ngoài dục vọng xấu xa của con người. Chính vì
thế Ăngghen nhận đònh: tôn giáo của Muynxơ là gần với thuyết vô thần. Cương lónh
chính trò của ông đã đề ra những điều kiện để giải phóng cả những phần tử vô sản bắt
đầu xuất hiện trong đám bình dân chứ không chỉ dừng lại ở yêu sách thiết lập “giang sơn
ngàn năm của Chúa”. Cương lónh chính trò ấy gần với chủ nghóa cộng sản.
Chính Muynxơ tổ chức hiệp hội ở nhiều vùng và cho xuất bản những văn kiện đả kích
bọn áp bức, bóc lột, dựng lên một bức tranh xã hội bình đẳng và kêu gọi: “Hãy chiến
đấu! Thắng lợi của chúng ta sẽ dẫn bọn bạo chúa đến chỗ diệt vong”. Muynxtơ đã trở
thành nhà tiên tri của cách mạng và kêu gọi lật đổ chế độ đương thời “bằng sự phê phán
của vũ lực”7 Phong trào cách mạng của quần chúng ngày càng dâng cao, đỉnh điểm là
cuộc khởi nghóa tháng Tư năm 1525. Nhiều nơi hưởng ứng, như vùng Sơvaben,
Phơrăngken, Thuyrinhken và Dăcsen. Muynxơ là một trong những lãnh tụ của cuộc cách
mạng. Năm 1526, phong trào thất bại. Muynxơ bò thương và bò bắt tra tấn dã man. Cuối
cùng ông bò chém vào năm 38 tuổi. Theo Ăngghen, “chỉ ở Muynxtơ, những tia tư tưởng
cộng sản mới lần đầu trở thành biểu hiện của những khát vọng của một bộ phận hiện
thực trong xã hội, chỉ ở ông ta lần đầu tiên chúng mới được diễn đạt rõ rệt đến một mức
độ nhất đònh, và bắt đầu từ ông ta chúng ta thấy chúng dần dần hoà thành một với phong
trào vô sản hiện đại; cũng giống như trong thời trung cổ, cuộc đấu tranh của nông dân tự
do chống sự thống trò phong kiến đang ngày càng ràng buộc họ, hòa làm một với những
cuộc đấu tranh của nông nô và nông dân phụ thuộc để thủ tiêu hoàn toàn ách thống trò
phong kiến”8 ,”Muynxtơ là một nhà dân chủ chân chính có thể có vào lúc bấy giờ”ø 9.
Chủ nghóa xã hội chủ nghóa dò giáo ở Đức tiếp tục với phái “Rửa tội lại”. Tinh thần
của phái “Rửa tội lại” đã thể hiện trong cuộc khởi nghóa ở thành phố Muynxtơ vào những
năm 40 của thế kỷ XVI. Những người khởi nghóa đã giành được chính quyền và thực hiện
nhiều cải cách chính trò- xã hội theo cương lónh của phái “Rửa tội lại”. Sau hơn một năm,
thành bang Muynxơ đã sụp đổ trước sự tấn công của nhà nước quân chủ chuyên chế và

nhà tư sản nông nghiệp cũng là biểu hiện của yếu tố tư bản chủ nghóa trong nông nghiệp.
Những nhà tư sản này vốn là nông dân giàu có hoặc là thò dân khá giả, thuê đất của lãnh
chúa lập ra trại ấp. Như vậy, kinh tế nông nghiệp phong kiến dần được thay thế bởi nông
nghiệp tư bản chủ nghóa.
Trong thủ công nghiệp có thêm nhiều ngành nghề với kỷ thuật mới, đặc biệt là ngành
công nghiệp dệt len dạ. Quy mô lẫn số lượng công trường thủ công ngày càng tăng.
Công trường thủ công là hình thức sản xuất mang tính chất tư bản chủ nghóa đầu tiên
trong lónh vực công nghiệp. Công trường thủ công có hai dạng chính: công trường thủ
công phân tán và công trường thủ công tập trung. Về bản chất hai dạng này là giống
nhau. Sự xuất hiện của công trường thủ công phân tán gắn liền với hoạt động của lái
buôn bao mua. Những thợ thủ công làm việc tại nhà theo yêu cầu của lái buôn nên trên
thực tế thì những người thợ này hợp thành tập đoàn sản xuất. Tuy công trường này vẫn
mang hình thức sản xuất nhỏ nhưng đã bước đầu có sự phân công lao động: mỗi loại thợ
thủ công chỉ làm một khâu trong quá trình hoàn thành sản phẩm. Còn công trường thủ
công tập trung ra đời chủ yếu là do những thợ thủ công khá giả. Những người thợ này mở
rộng quy mô sản xuất, thuê các thợ thủ công không có tư liệu sản xuất. Tính chất tập
trung của lao động thể hiện rõ. Sự phân công lao động trong những công trường này đã
đến mức tỉ mỉ. Công cụ sản xuất được cải tiến thường xuyên. Những công trường này đặt
cơ sở cho việc thiết lập nền đại công nghiệp tư bản chủ nghóa sau này.
Sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghóa phát triển kéo theo sự phát triển của thương
nghiệp và nghề hàng hải. Thương nhân Anh đi khắp nơi. Sự giàu có về tài nguyên cùng


sự dồi dào sức lao động ở các châu Á, châu Phi, châu Mỹ đã góp phần thúc đẩy sự phát
triển của chủ nghóa tư bản ở Anh.
Như vậy thời kỳ tích luỹ ban đầu của chủ nghóa tư bản đang diễn ra tại Anh gắn liền
với quá trình thay thế quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu bằng quan hệ sản xuất tư bản
chủ nghóa tiến bộ hơn.
Về xã hội, sự phát triển của kinh tế tất yếu dẫn đến sự biến đổi của cơ cấu giai cấp.
Trong xã hội Anh khi ấy giai cấp quý tộc phong kiến đang suy yếu nhưng vẫn nắm giữ

II. “KHÔNG TƯỞNG” - SỰ MỞ ĐẦU CÁC TRÀO LƯU XHCN VÀ CỘNG SẢN CHỦ
NGHĨA THỜI CẬN ĐẠI
1. Thôma Morơ và tác phẩm Không tưởng

Thôma Morơ (Thomas More, 1478- 1535) sinh trong một gia đình trí thức và là người
có học thức sâu rộng, là nhà văn xuất sắc, có tinh thần nhân đạo cao cả. Năm 26 tuổi ông
tham gia hoạt động chính trò, trúng cử vào nghò viện và phụ trách về ngoại giao. Năm
1529 ông trở thành Huân tước tể tướng nước Anh. Morơ tìm cách thay đổi các chính sách
hà khắc lúc bấy giờ. Đó là nguyên nhân gây mâu thuẫn giữa ông và nhà vua. Những
quan điểm nhân đạo và tiến bộ của ông bò vua Henry VIII quy kết thành tội “phản quốc”.
Sau 15 tháng bò giam cầm, Morơ bò xử tử vào ngày 6-7-1535.
Nhiều tác phẩm của Morơ đã ảnh hưởng đến đời sống tư tưởng lúc bấy giờ. Trong số
đó tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Cuốn sách nhỏ vừa lý thú vừa bổ ích nói về chế độ
nhà nước nhà nước tốt đẹp nhất và hòn đảo Không tưởng. Không tưởng – utopi - theo
nguyên nghóa tiếng Hy Lạp là “không tồn tại ở đâu cả”. Tác phẩm này được viết vào
năm 1514, xuất bản bằng tiếng Latin sau đó 2 năm tại thành phố Luven (Bỉ), thường được
gọi tắt là Không tưởng. Đây là tác phẩm văn học viễn tưởng- một hình thức văn học phổ
biến đương thời. Tác phẩm đã thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trình độ học thức
cao, kinh nghiệm thực tiễn phong phú, sự nhạy cảm về chính trò cùng với tấm lòng nhân
đạo cao cả của tác giả.
2. Những quan điểm XHCN trong tác phẩm Không tưởng

Xét về nội dung, tác phẩm gồm hai phần.
Nội dung thứ nhất trong Không tưởng là phê phán xã hội đương thời. Đó là xã hội
phong kiến suy tàn với những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghóa đang nẩy sinh. Đối với
chế độ phong kiến, Morơ lên án chính sách đối nội hà khắc và chính sách đối ngoại xâm
lược của bọn vua chúa. Những cuộc chiến tranh xâm lược đã tàn phá những nước bò xâm
lược đồng thời nó cũng gây tai họa cho nhân dân trong nước. Ở một mức độ nhất đònh,
More đã đoán ra bản chất của nhà nước. Ông viết: “qua việc nghiên cứu nhiều lần và kỹ
lưỡng những nhà nước phồn hưng thời này, tôi có thể khẳng đònh chắc chắn rằng chúng

ấy không có hiệu lực. Một con đường duy nhất đi tới hạnh phúc của xã hội là thừa nhận
nguyên tắc bình đẳng về tài sản. Nhưng bình đẳng và tư hữu là không dung hòa với nhau
được. Vì vậy cần thủ tiêu chế độ tư hữu. Những trang cuối cùng của phần thứ nhất trong
Không tưởng bàn luận về chế độ tư hữu là kết luận chung sau khi Morơ phê phán xã hội
đương thời cũng chính là tiền đề để ông miêu tả xã hội công bằng Không tưởng.
- Nội dung thứ hai của tác phẩm tạo nên sức hấp dẫn chủ yếu của Không tưởng là ở
dự án tổng thể về xã hội tốt đẹp mà nền văn hóa cổ đại chưa thểå phác họa. Xã hội
Không tưởng là một khối kinh tế thống nhất dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản
xuất và tư liệu tiêu dùng được tổ chức theo nguyên tắc cai trò bình đẳng. Khác với các
phong trào xã hội trước đó thường tuyên truyền sự cộng đồng là hợp với ý Chúa, Morơ
đã chứng minh sự cộng đồng là tốt đẹp nhất vì hợp lý trí nhất, và phù hợp nhất với lợi ích
trần thế của con người. Ở đây, Morơ đã giải thoát tính cộng đồng khỏi cái vỏ tôn giáo.
Trong xã hội Không tưởng, thành phố là nơi tổ chức trực tiếp sản xuất. Trong thành
phố, nghò viện là cơ quan tối cao của nhà nước có trách nhiệm tổ chức sản xuất, kiểm kê,
phân phối sản phẩm, phân bố và điều tiết lao động, làm công việc ngoại thương…
Tế bào kinh tế trong Không tưởng là gia đình – kinh tế, có thể bao gồm cả những
người không cùng huyết thống miễn là cùng làm một nghề thủ công nhất đònh. Hệ thống
kinh tế bao trùm trong xã hội Không tưởng là hệ thống thủ công nghiệp. Nghề thủ công
là công việc chủ yếu của người lao động. Trong xã hội Không tưởng nền nông nghiệp
bao gồm cả chăn nuôi lẫn trồng trọt. Lao động nông nghiệp là nghóa vụ chung của mỗi
công dân. Thời gian lao động nông nghiệp là 2 năm dưới hình thức luân phiên. Như thế
trong xã hội Không tưởng không còn nông thôn đúng nghóa mà chỉ có những trang trại để
người thành phố đến lao động nông nghiệp theo nghóa vụ. Hết thời hạn họ trở về thành
phố để làm những ngành nghề khác (thường là nghề thủ công).
Trong Không tưởng tất cả mọi người đều lao động một cách hăng say nên sản phẩm
lao động rất dồi dào. Mọi sản phẩm đều được nộp vào kho công cộng. Theo Morơ, nhờ


vậy có thể thực hiện phân phối theo nhu cầu. Tất nhiên trong điều kiện sản xuất còn ở
trình độ thấp như lúc bấy giờ, Morơ chỉ có thể dừng lại ở quan niệm thoả mãn những nhu

nghiệp.
Trong lónh vực hôn nhân gia đình, xã hội Không tưởng quy đònh tuổi thành hôn của nữ
là từ 18 tuổi, của nam là từ 22 tuổi trở lên. Morơ nêu lên quan điểm hôn nhân tự do, mọi
người có quyền lựa chọn vợ hoặc chồng. Chế độ hôn nhân 1 vợ –1 chồng được xã hội
bảo vệ. Quyền ly hôn được thừa nhận nhưng rất ít khi xảy ra bởi vì xã hội Không tưởng
luôn giáo dục quan niệm“ đi tìm một cuộc hôn nhân mới ít có lợi hơn việc củng cố tình
yêu vợ chồng”.
Xã hội Không tưởng là xã hội có tôn giáo nhưng là một tôn giáo được duy lý hóa tức
tôn giáo đã gạt bỏ những yếu tố mà lý trí cho là có hại đối với cuộc sống xã hội và cá


nhân. Điều lý thú là khi cuộc cải cách tôn giáo chỉ mới bắt đầu nhưng Morơ đã đưa vào
xã hội Không tưởng những đường nét dò giáo như: thực hiện chế độ bầu cha cố, tôn thờ
những người có đạo đức…
Thể hiện ước mơ của Morơ - cũng là của nhân dân lao động, xã hội Không tưởng là
một xã hội yêu chuộng hòa bình. Những cư dân của Không tưởng rất căm ghét chiến
tranh xâm lược. Họ xem đó là điều dã man tàn ác, và sẵn sàng “tiến hành chiến tranh để
bảo vệ bờ cõi của mình, để đuổi kẻ thù, hoặc vì lòng nhân ái đối với nhân dân một nước
nào đó bò chế độ tàn bạo áp bức, họ cần dùng lực lượng của mình để giải phóng nhân dân
nước đó khỏi ách tàn bạo và nô lệ”.
Như vậy, Morơ đã bênh vực những con người cụ thể- những con người lao động bò áp
bức bóc lột đang chết dần mòn trong xã hội tối tăm ngột ngạt đương thời. Với sự phẫn nộ,
Morơ đã vẽ lên một bức tranh toàn cảnh của xã hội phong kiến phản động đang suy tàn
và đưa vào đó những chi tiết mới do chủ nghóa tư bản đem lại. Cũng với tấm lòng vì con
người, Morơ đã dành cho con người những gì tốt đẹp nhất trong xã hội Không tưởng của
mình. Trên mọi lónh vực của xã hội này Morơ đều hướng đến việc đem lại cho con người
cuộc sống đầy đủ, tự do và hạnh phúc. Có thể nói, không có cái gì thuộc về con người mà
Morơ không quan tâm một cách sâu sắc.
Tất nhiên Không tưởng còn nhiều hạn chế. Không tưởng chỉ là một tác phẩm văn học
viễn tưởng, không phải là tác phẩm lý luận, càng không là cương lónh cách mạng. Trong

tầng lớp phức tạp: quý tộc phong kiến, Giáo hội - tăng lữ, tư sản mới, nông dân, thợ thủ
công… Mâu thuẫn giữa các giai cấp tầng lớp về mặt lợi ích ngày càng gay gắt, đối
kháng.
Thực dân Pháp, Đức, Tây Ban Nha giành nhau quyền bá chủ Italia và đã xâu xé đất
nước này. Cuối cùng miền Nam Italia bò thực dân Tây Ban Nha chiếm. Kinh tế khủng
hoảng, chiến tranh tàn phá, những cuộc xung đột nội bộ… đã đẩy nhân dân lao động
Italia vào tình cảnh khốn cùng nhất châu Âu.
Mặc dù chính trò không ổn đònh, kinh tế thăng trầm nhưng trong khoảng thời gian từ
thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII về phương diện tư tưởng - văn hóa ở Italia có sự phát triển
rõ rệt với nhiều nhà khoa học, nhà tư tưởng nổi danh như Đantê (1265-1321)â, Galilê
(1564-1642)â, Lêôna Đơ Vanhxi (1452-1519), Tômô Campanenla (1568-1639),…
2. Tômô Campanenla và tác phẩm Thành phố Mặt Trời

Tômô Campanenla (Tommaso Campanella, 1568 -1639) sinh ở Calabri thuộc miền
Nam Italia trong một gia đình thợ thủ công làm giày. Tuy vậy ông đã được gia đình cố
gắng cho ăn học. Ông đã nghiên cứu thần học, triết học, văn học… trong các tu viện. Tác
phẩm đầu tay của ông là một tác phẩm triết học mang tên Triết học dựa trên cảm giác rất
nổi tiếng, xuất bản khi ông 23 tuổi. Chính vì những quan niệm chống lại triết học kinh
viện thời trung cổ thể hiện trong tác phẩm này mà ông bò toà án Giáo hội kết án 2 năm
tù. Từ năm 1598, ông tổ chức khởi nghóa chống thực dân Tây Ban Nha. Cuộc khởi nghóa
được chuẩn bò khá chu đáo, thu hút nhiều giai cấp tầng lớp nhân dân yêu nước. Tuy nhiên
âm mưu bại lộ, ông bò bắt giam 27 năm. Mặc dù bò tra tấn dã man, ông vẫn kiên cường
“… bò giam cầm mà vẫn tự do, một mình mà không đơn độc…” như ông viết. Ông tiếp
tục viết nhiều tác phẩm trong tù và bí mật chuyển ra ngoài. Năm 1626 khi ra tù ông lại
mưu sự khởi nghóa. Chỉ sau một tháng ông lại bò bắt giam 2 năm. Sau đó Campanenla bò
quản thúc trong tu viện. Cuối cùng ông buộc phải sống lưu vong ở Pháp để tránh sự giám
sát ngặt nghèo của kẻ thù. Trong những năm cuối đời ông vẫn phải luôn trốn tránh sự săn
đuổi âm mưu bức hại của Giáo hội.



nghiên cứu khoa học, và nghề thủ công là việc chung của đàn ông và đàn bà; chỉ có một
điểm khác nhau là những nghề nặng nhất như cày bừa, gieo trồng, đập lúa, mộc rèn… thì
đàn ông làm; còn những việc vắt sữa, dệt, khâu vá, hội hoạ, âm nhạc… là của phụ nữ.”
Ngoài ra, Campanenla cho rằng con người cần bình đẳng nhưng mỗi người có những đặc
điểm, phẩm chất, năng khiếu, sở thích khác nhau do đó có thể làm việc và đóng góp cho
xã hội khác nhau. Vì vậy nhà nước phải có sự phân công, sử dụng, đãi ngộ… khác nhau.
Trong xã hội Thành phố Mặt trời, các ngành thủ công nghiệp, thương mại đều được
chú ý phát triển. Đặc biệt, việc nghiên cứu khoa học được chú trọng để góp phần nâng
cao đời sống của nhân dân.
Lao động nông nghiệp được coi là nghóa vụ, mọi người lần lượt thay nhau thực hiện.


Thời gian lao động trong xã hội Thành phố Mặt Trời chỉ là 4 giờ/ ngày, thời gian còn
lại dành cho hoạt động nghiên cứu khoa học, nghệ thuật…
Xã hội tôn trọng mọi ngành nghề, “Mỗi người dù được đặt vào công việc nào cũng
coi công việc của mình là vẻ vang nhất”. Thước đo giá trò chính là năng lực: những ai tài
giỏi đều được xã hội tôn trọng đến mức được xã hội gọi là “ vua”.
Hình thức lao động và quản lý là tổ chức tập thể (công xã). Những người giỏi, có uy
tín nhất được cử làm quản lý. Nhiều biện pháp quản lý được sử dụng: thi đua, tuyên
dương, trừng phạt…
Trong xã hội Thành phố Mặt Trời mỗi người đều nhận những thứ cần thiết cho nhu
cầu của bản thân ở các kho chung trong sự giám sát của nhà chức trách để đảm bảo cho
ai cũng “.. vừa giàu vừa nghèo…”- vì giàu có thì con người ngạo mạn, kiêu căng còn
nghèo nàn sẽ làm cho con người trở nên đê tiện, quỷ quyệt, gian lận. Theo Campanenla
việc phân phối bình quân theo nhu cầu như trong xã hội Thành phố Mặt Trời sẽ làm cho
ai cũng có tất cả (giàu) và cũng không ai có gì của riêng mình (nghèo). Quan niệm phân
phối này của Campanenla thể hiện rõ nét tính không tưởng, nó chỉ có thể tồn tại trong trí
tưởng tượng.
Trong xã hội Thành phố Mặt Trời mọi người đều thương yêu, tôn trọng nhau như
trong một gia đình. Không ai là nô lệ của ai. Những người già nua, neo đơn, tàn tật được

Thành phố Mặt Trời thể hiện quan điểm dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội.
Quan điểm của Campanenla về văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, nghệ thuật
cũng thể hiện rõ tính chất xã hội chủ nghóa mà đến nay vẫn còn nguyên giá trò. Chẳng
hạn về giáo dục, ông chủ trương thực hiện chế độ giáo dục phổ cập toàn xã hội, vừa giáo
dục văn hóa cơ bản vừa chú ý giáo dục nghề nghiệp gắn với thực hành sản xuất. Xã hội
quan tâm đến việc giáo dục, bồi dưỡng tình yêu lao động, yêu tổ quốc, yêu con người với
phương châm sống: Điều gì anh không muốn thì đừng làm cho người khác và điều gì anh
muốn người khác làm cho mình thì hãy làm cho người khác. Trong xã hội Thành phố Mặt
Trời, việc chăm sóc sức khoẻ, từ ăn, mặc, ở... đều được xã hội lo chung (ăn tại nhà ăn tập
thể, ở trong những ngôi nhà được cấp để sử dụng cứ 6 tháng một lần, y phục mọi người là
như nhau…)
Trong xã hội Thành phố Mặt Trời, nam nữ có quyền tự do tìm hiểu và kết hôn. Ở đây,
không ai được có con trước 21 tuổi (nam), và 19 tuổi (nữ) và tuy trong cư dân không qui
đònh sự chung vợ chung chồng nhưngï chế độ ấy được chấp nhận tự nhiên bởi lẽ đơn giản
là ở họ có quan niệm tất cả đều là của chung….
Như vậy, với những quan niệm đặc sắc phản ánh khát vọng tự do, bình đẳng xã hội,
những tư tưởng nhân đạo phê phán ách áp bức bóc lột và chế độ tư hữu, bảo vệ lợi ích
nhân dân lao động, Campanenla là một nhà tư tưởng xã hội chủ nghóa xuất sắc trong thế
kỷ XVII. Tất nhiên Campanenla không tránh khỏi những hạn chế nhất đònh, như Ăngghen
nhận đònh, là còn “thô kệch”, “chưa được đẽo gọt”. Ông có những quan điểm chính trò xã hội duy tâm, quan niệm công bằng xã hội thô thiển, máy móc (chủ nghóa bình quân,
chủ nghóa tập thể), chủ nghóa cộng sản mang tính chất trại lính…
II. NHỮNG TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA GIÊRẮC UYNXTENLI (1609 - 1652)
1. Hoàn cảnh lòch sử của nước Anh vào nửa sau thế kỷ XVII

Bước vào thế kỷ XVII, thành phần kinh tế tư bản chủ nghóa ngày càng phát triển
mạnh mẽ trong nền kinh tế ở Tây Âu. Trong cuộc cách mạng tư sản ở Anh, như C. Mác
nhận đònh, “giai cấp tư sản, liên minh với tầng lớp quý tộc mới, đã đấu tranh chống chế
độ quân chủ, chống giai cấp quý tộc phong kiến và chống Giáo hội thống trò” 1 Cách
mạng tư sản Anh thắng lợi vào năm 1640 nhưng chưa thật triệt để. Nước Anh tiếp tục trải
qua hai cuộc nội chiến (1642 -1646 và 1648 -1649). Đến đầu năm 1649, vua Sáclơ I bò xử

nhân rộng mô hình này. Cuối cùng không phải chỉ những người nghèo mà toàn thể nhân
dân Anh sẽ đi theo con đường đó – tự nguyện xóa chế độ tư hữu, không mua bán đất và
sức lao động. Phái “ Đào đất” tuyên bố là không có ý đònh cướp quyền sở hữu của ai.
Phái “Đào đất” quan niệm Chúa tạo ra đất đai là để cho con chiên của Ngài canh tác sinh
sống do đó tin rằng việc họ làm sẽ được Giáo hội tán thành vì hợp ý Chúa. Tuy nhiên
phái “Đào đất” đã không nhận được sự ủng hộ của Gíao hội. Những trang trại do họ lập
nên đã bò tàn phá bởi những người nghe theo lời xúi giục của thế lực tư sản, phong kiến.
Năm 1650 phong trào bò thất bại hoàn toàn. Nhiều người cầm đầu phái này bò lùng bắt.
May mắn, Giêrắc Uynxtenli trốn thoát. Ông tiếp tục hoạt động. Thực tế đã cho những
người thuộc phái Đào đất nhận ra rằng quan niệm của họ là hết sức ngây thơ. Nhiều tác
phẩm của Uynxtenly ra đời trong giai đoạn này như Ngọn cờ của những người chủ trương
bình đẳng chân chính dựng nên, Món quà năm mới gởi nghò viện và quân đội… Đặc biệt
là trong Luật tự do (1652), Uynxtenly đã trình bày rõ nét nhất những tư tưởng xã hội chủ
nghóa của ông.
Mặc dù lập trường triết học của Giêrắc Uynxtenli là duy tâm chủ quan và có mầu sắc
tôn giáo nhưng trong thực tiễn ông là một người chống Gíao hội nổi tiếng. Ông cho rằng
có chân lý tôn giáo, và để nhận thức chân lý ấy không cần đến kinh thánh, không cần
đến trung gian là Gíao hội. Toàn bộ huyền thoại Cơ đốc giáo, ở Uynstenli, có tính chất
tượng trưng. Theo ông, thiên đường, đòa ngục, Chúa, quỷ dữ… không nằm ngoài con
người mà là lực và phản lực thường xuyên chống nhau trong tâm hồn con người. Đó là


cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Cuối cùng cái thiện sẽ chiến thắng vì ánh sáng
bên trong do Chúa đặt vào con người không thể bò dập tắt. Nước Anh sẽ là nước đầu tiên
giải phóng khỏi quyền lực của quỷ dữ, thực hiện trên trái đất giang sơn của tình yêu
thiêng liêng. Giáo hội nói Chúa, thiên đường, đòa ngục chờ đợi con người sau khi mất chỉ
là sự tưởng tượng, là thủ đoạn để khuất phục quần chúng nhân dân. Các tăng lữ đưa ra
mọi lý lẽ để chứng minh Chúa ngăn cấm quần chúng không đụng đến của cải tư hữu là
để bảo vệ quyền lợi của bọn quyền quý mà trước hết là quyền chi phối ruộng đất. Đối
với Giêrắc Uynxtenli thì những nghi lễ tôn giáo chỉ là trò phù thủy.

xã hội huấn luyện kỷ thuật cho sản xuất gia đình. Sản phẩm lao động của gia đình được
nộp vào kho chung và nhà nước sẽ phân phối cho toàn xã hội theo nguyên tắc bình quân


chủ nghóa. Tuy nhiên không phải mọi của cải gia đình đều là của chung như Campanenla
đã từng quan niệm.
Giêrắc Uynxtenli hình dung trong xã hội mới nhờ chú ý cải tiến kỷ thuật mà thời gian
lao động mỗi này được giảm dần nhưng năng suất lao động vẫn tăng. Không ai phải lao
động quá 40 tuổi. Thời gian sau đó là để mỗi người nghỉ ngơi, hưởng thụ, và hoàn thiện
bản thân.
Như vậy, tư tưởng bình đẳng của Giêrắc Uynxtenli trước hết là bình đẳng trong kinh
tế.
Những quan điểm chính trò - xã hội, văn hóa của Giêrắc Uynxtenli cũng có nhiều yếu
tố tiến bộ. Trong các tác phẩm của mình Uynxtenly luôn lên án nhà nước đương thời là
“công cụ của bọn nhà giàu”, còn pháp quyền là “xiềng xích trên cơ thể nhân dân”. Ông
viết: “Vương quyền nước Anh hiện nay là vương quyền của sự tham lam … là quyền lực
của sự ích kỷ… do dó phải gọi nó là tên giết người… Dân lao động mong muốn một
chính phủ công bằng… Nước Anh hiện nay là nhà tù. Những luật sư là bọn cai ngục, còn
dân nghèo là tù nhân…”. Như vậy ông đã nhận thức tính chất giai cấp của nhà nước và
pháp quyền bóc lột. Thay cho nhà nước ấy, cần phải thiết lập nhà nước cộng hòa - tự do dân chủ chân chính cho mọi người. Điều này là phù hợp với ý Chúa. Nhà nước cộng hoà
ấy là do dân bầu, có nhiệm kỳ một năm. Đứng đầu nhà nước là nghò viện. Trong nhà
nước không có sự tham gia của Gíao hội và tăng lữ. Các đạo luật do nó thông qua sẽ có
hiệu lực nếu trong vòng một tháng không có sự phản đối của nhân dân. Các biện pháp
trừng phạt nghiêm khắc (tử hình, lao động cải tạo, nhục hình…) được áp dụng cho những
kẻ mưu toan phục hồi chế độ tư hữu, những kẻ sát nhân, những kẻ ăn bám…
Về giáo dục, Giêrắc Uynxtenli đề cao hệ thống giáo dục nhà trường. Phương châm
giáo dục của ông là học đi đôi với làm, khuyến khích sự sáng tạo, phát huy sáng kiến.
Trong vấn đề hôn nhân gia đình, cũng như nhiều nhà không tưởng khác, Giêrắc
Uynxtenli có những quan niệm tiến bộ như: tự do kết hôn, hôn nhân dựa trên tình yêu, tự
nguyện, hôn nhân 1 vợ – 1 chồng, mỗi gia đình có đời sống riêng, chống bạc đãi phụ nữ

công nghiệp phổ biến là công trường thủ công, trong đó hình thức công trường thủ công
phân tán là áp dụng rộng rãi trong cả nước. Thương nghiệp cũng có những bước tiến.
Nước Pháp mở rộng buôn bán với nhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ… Trong khi đó thì
chế độ phong kiến áp dụng những quy chế khắt khe như thuế nặng, hạn chế số lượng
công nhân và sản phẩm… Điều này đã ngăn cản sự phát triển của công thương nghiệp.
Xoá bỏ những ràng buộc ngặt nghèo của phong kiến đối với nông công thương nghiệp
trở thành một yêu cầu khách quan và tất yếu của lòch sử.
Sự xuất hiện của những yếu tố tư bản chủ nghóa đã dẫn đến sự ra đời của giai cấp tư
sản. Giai cấp này bao gồm nhiều tầng lớp khác nhau, đông đảo nhất là tầng lớp tư sản
công thương nghiệp. Giai cấp này muốn tham gia chính quyền, muốn xóa những luật lệ
ngặt nghèo của nhà nước quân chủ chuyên chế, muốn mở đường cho công thương nghiệp
phát triển. Ở thành thò, thợ thủ công, những công nhân, người buôn bán nhỏ… cũng là
một lực lượng bất mãn sâu sắc đối với chế độ xã hội đương thời. Họ bò khinh miệt về sự
nghèo khổ của bản thân và không có một quyền chính trò nào. Ở nông thôn, nông dân là
giai cấp đông đảo nhất nhưng cũng là giai cấp cùng khổ nhất trong đẳng cấp thứ ba.Họ
chòu ba tầng áp bức bóc lột của chế độ phong kiến. Đó là lãnh chúa, nhà nước và nhà thờ.
Trước cách mạng, nền kinh tế nông nghiệp ngày càng suy sụp, nông dân bò phá sản phải
lang thang để kiếm sống, nạn đói diễn ra liên tiếp. Tất cả những giai cấp tầng lớp ấy hợp
thành đẳng cấp thứ ba. Trong khi đó giai cấp quý tộc Pháp vẫn tiếp tục sống xa hoa trụy
lạc. Quần chúng ngày càng khốn khổ về mọi mặt bởi sự thống trò của nhà thờ Cơ đốc
giáo và nhà nước quân chủ chuyên chế. Chính vì vậy xã hội Pháp vào thế kỷ XVIII đã
chia thành hai trận tuyến đối lập: một bên là phong kiến và bên kia là đẳng cấp thứ ba.


Những đại biểu của giai cấp tư sản có thể tự nhận không phải là đại biểu của một giai
cấp riêng biệt nào mà là đại biểu của toàn thể nhân loại đau khổ.
Vào những năm 50 của thế kỷ XVIII cách mạng đã lên men sôi sục. Trong bối cảnh
ấy xuất hiện nhiều tư tưởng, quan niệm mới về chính trò, xã hội, trong đó đáng chú ý là
những tư tưởng xã hội chủ nghóa với các đại biểu Giăng Mêliê, Phrăngxoa Môrenli,
Gabrien Bonnô Đơ Mabli, Grắccơ Babớp.

La Mã. Thơ ông ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của triết học duy vật thời Phục hưng.
2
Misen đơ Môngtenhơ (1533-1592), nhà triết học người Pháp thời Phục hưng. Tác phẩm chính: những kinh nghiệm
(1580). Điểm xuất phát của học thuyết của ông là chủ nghóa hoài nghi.
3
Vônte (Voltaire,1694-1778) – nhà triết học Khai sáng, nhà sử học, nhà văn lớn của nước Pháp. Tác phẩm chính:
Triết học bỏ túi (1764), Zich (1747), Chất phác (1767),...


Trích đoạn Vai trò của Câc Mâc vă Phơđrich Ănghen với tư câch lă những nhă sâng lập chủ nghĩa xê hội khoa học Acnôn Rugơ (1802-1880), lă nhă chính luận cấp tiến, thuộc phâi Híghen trẻ, nhă dđn chủ tiểu tư sản Tiểu sử Ăngghen,tập1, NXB Khoa học xê hội, Hă Nội, 1977, tr Chế độ nông nô: hình thức lệ thuộc của nông dđn văo lênh chúa phong kiến về nhiều phương diện (con người, điền thổ, hănh chính) Tại Nga, chế độ năy được xâc lập từ năm 1497, bị tuyín bố thủ tiíu văo năm 1861. Plíkhanốp (1856-1918), nhă hoạt động nổi tiếng của phong trăo công nhđn Nga vă quốc tế Plíkhanốp lúc đầu thuộc phâi Dđn tuý, nhưng khi ra nước ngoăi tiếp xúc với chủ nghĩa Mâc thì đoạn tuyệt với phâi Dđn tuý.Từ năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status