Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
báo cáo đề ti NCKH cấp bộ
Cơ sở cảnh quan học
của khai thác các yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị Việt Nam
Cơ quan chủ trì đề tài: Trờng đại học Kiến trúc Hà Nội
Chủ nhiệm đề tài: TS. KTS Doãn Quốc Khoa
Tham gia: PGS.TS.KTS Huỳnh Đăng Hy Hội QH phát triển ĐT VN
TSKH Phạm Hoàng Hải Viện Địa lý
ThS.KTS Nguyễn Hồng Diệp Viện QH đô thị & NT Bộ XD
KTS Nguyễn Văn Hoà - Viện Kiến trúc nhiệt đới
KTS Đặng Đình Chính - Viện Kiến trúc nhiệt đới
Hà Nội ngày
tháng năm 2009
Hà Nội ngày
cơ quan chủ trì đề ti
tháng năm 2009
Chủ nhiệm đề ti
TS.KTS Doãn Quốc Khoa
Hà Nội ngày
2
3- Đối tợng nghiên cứu:
2
4- Phơng pháp nghiên cứu
3
5- Các khái niệm cơ bản
3
6- Sơ đồ nghiên cứu
3
7- Những chữ viết tắt
3
Chơng I- tổng quan về khai thác yếu tố tự nhiên trong
quy hoạch xây dựng đô thị v cảnh quan học
4
1.1- Khai thác yếu tố tự nhiên trong QHXD đô thị thế giới
1.2.5- Các nghiên cứu liên quan đến khai thác YTTN trong lĩnh
vực kiến trúc và QHXD Việt Nam
41
1.3- Xu hớng QHXD đô thị với vấn đề khai thác YTTN
48
1.3.1- Xu hớng chung về QHXD trên thế giới
48
1.3.2 Khía cạnh khai thác YTTN trong Định hớng QHXD đô
thị Việt Nam
52
1.4- Cảnh quan học và quy hoạch xây dựng đô thị
55
1.4.1- Lịch sử hình thành phát triển
55
1.4.2- Lý luận cơ bản về cảnh quan
58
84
2.1.3- Các quy luật vận động của cảnh quan đô thị
88
2.2- Vai trò của yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô thị
92
2.2.1- Vai trò của YTTN trong các chức năng của không gian đô
thị
92
2.2.2- Vai trò YTTN trong mô hình cơ cấu không gian đô thị
94
2.2.3- Vai trò YTTN trong bố cục không gian kiến trúcđô thị
96
2.2.4- Vai trò của YTTN trong xây dựng phát triển đô thị
99
2.3- Phân vùng và phân loại cảnh quan tự nhiên Việt Nam phục
vụ QHXD đô thị
cảnh quan
117
2.5.1- Kiến trúc cảnh quan
117
2.5.2- Đồ án quy hoạch cảnh quan
121
125
2.6- Kết luận chơng II
Chơng III- mô hình v giải pháp khai thác yếu tố tự nhiên
trong đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị
127
3.1- Quan điểm, mục tiêu và mô hình cấu trúc đô thị trên cơ sở
khai thác yếu tố tự nhiên
127
3
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
3.2.4- Giải pháp bố cục kiến trúc đô thị trên cơ sở khai thác yếu
tố tự nhiên
144
3.3- Ví dụ ứng dụng đề tài trong thực tiễn
3.3.1- Khai thác yếu tố tự nhiên trong định hớng phát triển
không gian thành phố Hà Nội
146
146
3.3.2- Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch chung xây 155
dựng Đảo Phú Quốc
166
3.4- Kết luận chơng III
Phần Kết luận
167
- Kết luận
167
- Kiến nghị
169
các đờng phố, quảng trờng, các sân vờn công trình ...). Tuy nhiên, còn một
cách hiểu khái niệm cảnh quan khác thờng sử dụng trong ngành địa lý liên
quan đến việc nghiên cứu cấu trúc chức năng và đánh giá tổng hợp điều kiện tự
nhiên phục vụ cho hoạt động khai thác lãnh thổ.
Trong cấu trúc không gian đô thị, yếu tố tự nhiên (YTTN) có vai trò đặc
biệt quan trọng, vừa là nền tảng hình thành đô thị, vừa là thành phần trong tất
cả các không gian chức năng của đô thị. Vấn đề nhận thức, đánh giá đặc điểm
và nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác YTTN là một khía cạnh quan trọng
trong các nội dung thiết kế quy hoạch xây dựng (QHXD) đô thị: đánh giá đặc
điểm hiện trạng; luận chứng các cơ sở quy hoạch; đề xuất giải pháp quy hoạch:
về không gian, hạ tầng kỹ thuật môi trờng ....
Tuy nhiên, trong quá trình lập đồ án QHXD đô thị hiện nay, các yếu tố
tự nhiên thờng nghiên cứu tách rời từng yếu tố, cha thể hiện rõ tính tổng
hợp, đồng nhất cha thấy rõ quan hệ tơng hỗ chặt chẽ giữa các yếu tố và sự
vận động biến đổi theo các quy luật tự nhiên đáng ra không thể tuỳ tiện làm
biến đổi. Đây chính là một trong những nguyên nhân ảnh hởng tiêu cực đến
môi trờng tự nhiên, đến sự phát triển bền vững, giảm hiệu quả kinh tế và
không tạo đợc bản sắc địa phơng.
Môn Cảnh quan học là một chuyên ngành của Địa lý học, chuyên
nghiên cứu cấu trúc cảnh quan lãnh thổ, phân định các đơn vị cảnh quan (các
thể tổng hợp tự nhiên), nghiên cứu cấu trúc chức năng và đánh giá chúng nhằm
đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế lãnh thổ, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên và bảo vệ môi trờng. Việc nghiên cứu cảnh quan không đơn thuần
chỉ là hệ thống tự nhiên mà còn bao gồm các hệ thống tự nhiên - kỹ thuật do có
sự tham gia tác động của con ngời.
Nh vậy giữa QHXD với cảnh quan học có mối liên quan chặt chẽ do
có chung đối tợng nghiên cứu: các yếu tố, điều kiện tự nhiên trên một khu vực
nhất định và các tác động của chúng với hoạt động con ngời cũng nh ngợc
lại. Các kết quả nghiên cứu của cảnh quan học chính là cơ sở cho QHXD, từ
quy hoạch vùng, quy hoạch chung cho đến các quy hoạch chi tiết. Đồng thời,
Địa lý vào thực tiễn QHXD.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu khoa học xác định các Cơ sở cảnh
quan học của khai thác các yếu tố tự nhiên trong quy hoạch xây dựng đô
thị Việt Nam là rất cần thiết để giúp các nhà QHXD và quản lý QH nhận thức,
đánh giá và đề xuất giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý các YTTN, đảm bảo
tính tổng hợp và hài hoà giữa cấu trúc nhân tạo tự nhiên, góp phần nâng cao
chất lợng của đồ án và phát triển đô thị bền vững.
2- Mục đích nghiên cứu:
Xác định các cơ sở lý luận của Cảnh quan học phục vụ cho việc
nghiên cứu đề xuất giải pháp khai thác các YTTN trong QHXD đô thị Việt
Nam. Cụ thể:
- Nhận thức về yếu tố tự nhiên và vai trò của YTTN trong QHXD đô thị
- Phân loại cảnh quan tự nhiên phục vụ QHXD đô thị
- Đề xuất quan điểm, nguyên tắc mô hình và giải pháp khai thác YTTN
trong QHXD
Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý,
các nhà thiết kế quy hoạch xây dựng ở trung ơng và địa phơng và là tài liệu
tham khảo trong giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo kiến trúc s.
3- Đối tợng và giới hạn nghiên cứu:
Đối tợng: Khía cạnh khai thác YTTN trong nội dung đồ án QHXD đô thị
Giới hạn nghiên cứu:
- Khía cạnh khai thác sử dụng các YTTN trong phần quy hoạch không gian
- Loại QHXD: đồ án QH chung đô thị
6
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
thế giới
Xu hớng
QHXD đô thị
với vấn đề
khai thác
YTTN
Cảnh quan
đô thị
YTTN trong
QHXD
phát triển
đô thị
Kết luận
Phân vùng
phân loại
cảnh quan
tự nhiên
trong QHXD
kiến trúc
cảnh quan và
quy hoạch
cảnh quan
Kết luận
- ĐT: đô thị
-
YTTN: yếu tố tự nhiên
- TP: thành phố
-
NCKH: nghiên cứu khoa học
- TX: thị xã
-
CSDL: cơ sở dữ liệu
- NT: nông thôn
-
HTTTĐL: Hệ thông tin địa lý
- CQ: cảnh quan
-
CSDLĐLTH: cơ sở dữ liệu
địa lý tổng hợp
thiên văn học đã đợc vận dụng trong nhận thức về cảnh quan đô thị, ví dụ nh
việc bố trí các công trình đền đài trên 2 bên bờ sông Nil của thành phố Tepbo
liên quan đến mặt trời mọc vào mùa hè, vào mùa đông, liên quan đến một số
sao trời. Đặc điểm YTTN cũng là cơ sở cho bố cục không gian. Các cạnh dài
của đô thị có mạng không gian hình học luôn song song với đờng đi của mặt
trời (thích ứng với điều kiện khí hậu), ví dụ nh mạng không gian của thành
phố Kahun . Đặc điểm địa hình là cơ sở của mạng không gian tự do nh ở
thành phố Tel En Amana, trục không gian chính của thành phố là con đờng
lớn rộng 60m chạy lợn theo sông Nil từ Nam lên Bắc.
b- QHXD đô thị Lỡng hà cổ đại:
Một số yếu tố cảnh quan tự nhiên là cơ sở cho việc chọn địa điểm xây
dựng đô thị nh sông Ơ-phơ-rat đối với thành phố Babilon hoặc địa hình đồi
núi đối với thành phố Hafaga, Hattousa. Yếu tố tự nhiên cũng quyết định giải
pháp tổ chức cơ cấu chức năng đô thị. Ví dụ tiêu biểu là thành phố Babilon với
sông Ơ-phơ-rat chảy ở giữa chia thành phố làm 2 phần, đại lộ Rớc lễ lớn nhất
chạy song song với sông, từ đó chia ra các đờng nhỏ thành mạng lới gần nh
thẳng góc với nhau (Hình 1.02g). Một số đô thị có cấu trúc không gian tự do
phù hợp với đặc điểm địa hình đồi núi ví dụ nh thành phố Hattousa và thành
phố Hafaga (Hình 1.02e và Hình 1.02h)
c- Đô thị Hy Lạp cổ đại:
Về lý luận, vai trò của các YTTN trong xây dựng đô thị thời này đã đợc
nhận thức khá đầy đủ, tiêu biểu nh quan điểm của 2 triết gia nổi tiếng Plato:
(428-348 TrCN) và Aristotl (384 322 TrCN) về việc lựa chọn địa điểm xây
dựng đô thị phải dựa trên hớng gió, các nguồn nớc và tài nguyên yếu tố tự
nhiên, các thành phố nên có rừng và Vị trí thành phố không nên quá xa hoặc
8
hình và mặt nớc, ví dụ nh cấu trúc không gian thành phố Rôma với việc khai
thác các ngọn đồi, thành phố Pompei, thành phố Constantinople ...
e- Đô thị Châu Âu trung cổ
Đây là thời kỳ mà kinh tế - xã hội chịu ảnh hởng nặng nề của Giáo hội
Thiên chúa, Nhận thức về khai thác yếu tố tự nhiên vẫn là sự tiếp tục của truyền
thống HY - LA nhng ở mức độ triệt để hơn trong khai thác cảnh quan cho
chức năng sử dụng của đô thị. Vị trí xây dựng đô thị đợc phân bố rải rác
trong vùng nông thôn và thờng chọn vị trí trên đồi cao (vì mục đích quân sự).
Không gian đô thị ít có dạng hình học mà chủ yếu tự do, nhằm khai thác, kết
hợp chặt chẽ và hài hoà với yếu tố địa hình của cảnh quan tự nhiên. Các yếu tố
nh đồi núi, bán đảo thung lũng... đợc khai thác làm giới hạn và góp phần
định hình không gian kiến trúc cho đô thị. QHXD đô thị Trung đại đợc đánh
giá là thích ứng tinh vi với địa hình, khí hậu, góp phần tạo nên giá trị đặc sắc
của không gian kiến trúc đô thị Trung đại. Điển hình cho các đô thị thời kỳ
9
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
này: Mont Sait Michel với việc khai thác cả quả đồi và mặt nớc xung quanh.
Hầu hết sự hình thành và phát triển các thành phố Châu Âu thế kỷ XIV đều gắn
liền với một con sông nhất định.
g- Đô thị Thời kỳ Phục hng (thế kỷ XV XVI)
Thành tựu đáng kể của lĩnh vực quy hoạch xây dựng đô thị là lĩnh vực
lý luận với các hình mẫu lý tởng về QHXD đô thị. Về nhận thức, vai trò các
yếu tố cảnh quan đợc coi trọng trong QHXD. Leon Battista Alberty (14041472), đã khẳng định đô thị phải đợc thiết kế để thích ứng với các điều kiện
tự nhiên, vừa tiện dụng vừa đẹp. Thành phố và môi trờng xung quanh thành
10
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
1.1.1.2- Đô thị Trung Hoa
a-Về lý luận
Là một trong những cái nôi văn minh của loài ngời, ở Trung hoa các
nguyên tắc TCKG kiến trúc nói chung và đô thị nói riêng đợc xuất phát từ
việc thích ứng với điều kiện tự nhiên, đặc điểm kỹ thuật vật liệu xây dựng, vừa
đáp ứng về chức năng hoạt động đồng thời vừa chịu ảnh hởng và là phơng
tiện biểu hiện các quan niệm, t tởng của văn hoá nhận thức và tổ chức xã hội.
Các nguyên tắc này đợc hình thành gắn với nguyên lý của triết lý âm dơng
ngũ hành, tạo nên một lý thuyết khá hoàn chỉnh: Phong thuỷ (hay thuyết Địa
lý). Thuyết Phong thuỷ đợc vận dụng trong xây dựng từ kiến trúc cho ngời
sống nh nhà cửa, làng xóm, đô thị (dơng trạch) cho đến lăng mộ (âm trạch).
Hầu hết việc xây dựng các đô thị nổi tiếng của Trung hoa thời cổ trung đại đều
ít nhiều liên quan đến việc vận dụng các nguyên tắc của thuyết Phong thuỷ.
Tiêu biểu là kinh đô Trờng An, Bắc Kinh, Nam Kinh
Thông qua hệ khái niệm trong Phong thuỷ nh Khí, Long, Huyệt, Sa,
Thuỷ, Hớng có thề thấy Phong thuỷ chính là khía cạnh khai thác YTTN trong
TCKH kiến trúc nói chung và xây dựng đô thị nói riêng.
- Khái niệm khí: trong thuyết Phong thuỷ khái niệm Khí chính là khái niệm
Khí theo văn hoá nhận thức truyền thống Trung hoa, không chỉ biểu thị các
yếu tố khí hậu (gió, ma, nắng, độ ẩm ...) mà còn thể hiện thành phần không
cảm nhận đợc mà theo triết học cổ chính là bản nguyên của thế giới vạn vật.
ngợc lại . Do có đặc điểm tự nhiên (long, thuỷ) khác nhau mà mỗi vị trí khác
nhau sẽ có chất lợng môi trờng khí tốt xấu khác nhau (đối với con ngời).
Cùng một vị trí nhng ở các hớng khác nhau, môi trờng khí của công trình
kiến trúc cũng có chất lợng khác nhau đối với cuộc sống con ngời.
Hoạt động tổ chức không gian kiến trúc trên cơ sở khai thác yếu tố tự
nhiên thể hiện qua các khái niệm: mịch (tìm) Long, sát (xem xét) Sa, quan
(quan sát) Thuỷ,
- Mịch long là tìm tổ tông cha mẹ, xét khí mạch và phân biệt sinh khí âm
dơng. Tổ tông của núi là nơi xuất sứ của sơn mạch, là nơi khởi nguyên của
dãy núi. Cha mẹ là phần đầu của sơn mạch. Xét khí mạch là xem sơn mạch liền
hay đứt quãng nh vậy mịch long là đánh giá đặc điểm các yếu tố địa hình
- địa chất, đất, thực vật
- Quan thuỷ là quan sát hình thái dòng nớc (thẳng/cong, rộng/hẹp, trong/đục,
nông/sâu, vuông/méo ) làm cơ sở đánh giá chất lợng yếu tố nớc
- Điểm huyệt là từ các đặc điểm của các yếu tố tự nhiên (Long, Sa, Thuỷ) mà
tìm ra vị trí thích hợp cho việc xây dựng công trình, nơi có môi trờng khí hậu
tốt nhất cho cuộc sống con ngời (sinh khí).
- Lập hớng là chọn hớng cho công trình xây dựng sao cho tạo đợc môi
trờng khí hậu có lợi nhất đối với con ngời.
Về phơng pháp, Phong thuỷ có 2 trờng phái chính là Hình pháp và lý
pháp. Theo các nhà nghiên cứu về Phong thuỷ thì Hình pháp là quan sát kết cấu
đất và nớc xung quanh công trình kiến trúc để làm cơ sở bố cục kiến trúc. Lý
pháp là dựa vào 2 phơng diện thời gian và không gian để khảo sát quan hệ
giữa con ngời và môi trờng.
Nh vậy, thực chất của Phong thuỷ chính là khía cạnh khai thác YTTN
trong TCKG kiến trúc: thông qua đặc điểm YTTN để tìm vị trí và xác định
hớng cho công trình kiến trúc (cho đến cả cụm, quần thể và tổng thể đô thị)
sao cho có lợi nhất đối với hoạt động và sức khoẻ con ngời.
b- Về thực tiễn
+ Về lựa chọn vị trí xây dựng đô thị,
khu vực có địa hình bằng phẳng. Ví dụ nh Kinh thành Trờng an, kinh thành
Bắc kinh. Loại cơ cấu bất quy tắc thờng sử dụng ở đô thị có địa hình phức
tạp, phần Đô không nằm ở trung tâm mà chọn vị trí có địa hình cao, các khu
Thị phân bố tự do nhằm khai thác tốt các yếu tố cảnh quan địa hình - mặt
nớc. Ví dụ nh thành Hàng châu. Việc phân khu chức năng với khu Đô đợc
u tiên nhất đã biểu hiện t tởng xã hội tập trung quân chủ của thời kỳ này.
+ Về bố cục không gian kiến trúc.
Sơ đồ mạng không gian đô thị truyền thống Trung hoa cũng có 2 dạng
bố cục chính là hình học và tự do. Một trong những cơ sở cho việc sử dụng
một trong hai dạng bố cục này là dựa trên yêu cầu thích ứng và khai thác cảnh
quan tự nhiên mà quan trọng nhất là sự phù hợp với địa hình và mặt nớc: ở
vùng địa hình bằng phẳng (miền Bắc) không gian đô thị thờng bố cục vuông
vức, các trục không gian trực giao theo hớng Đông Tây, Bắc Nam tạo môi
trờng khí hậu tốt, tiêu biểu là sơ đồ mạng không gian kinh đô Bắc kinh và
Tràng an.
ở miền Nam, địa hình phức tạp chính là một trong những cơ sở hình
thành nên đô thị có mạng không gian tự do, bố cục không theo quy tắc, lựa
theo thế đất đồi núi mà bố trí, ví dụ nh thành Lâm an (Hàng châu) nổi tiếng
về việc kết hợp các yếu tố cảnh quan thiên nhiên nh núi Phợng hoàng, sông
Tiền đờng, Tây hồ trong bố cục không gian. Thành Bình giang (nay là Tô
châu) cũng có cảnh quan trữ tình: Thành phố có một mạng lới kênh đào chảy
qua bên trong nhng đã kết hợp và thích ứng đợc với mạng phố phờng hình
chữ nhật. Thành phố Nam kinh nằm ở hạ lu sông Trờng giang, có cấu trúc
không gian tự do uốn lợn dọc theo đồi núi sông hồ. Vẻ đẹp hào hoa của thành
phố chủ yếu là dựa trên việc khai thác các sông nhánh, đồi núi.
13
thành phố, trong đó bố trí hợp lý rõ ràng các khu nhà ở, khu công nghiệp, khu
vực giải trí, giao thông vận tải và các hệ thống cây xanh gần nh song song với
nhau để khi cần thiết phát triển thì các yếu tố cùng đợc mở rộng theo một
hớng song hành (Đây chính là khởi đầu cho các ý tởng về thành phố tuyến).
Nh vậy, mô hình thành phố công nghiệp đã giới hạn quy mô đô thị và
đa hệ thống cây xanh thành một thành phần trong cơ cấu không gian thành
phố và bố trí các khu chức năng phù hợp với điều kiện khí hậu và cảnh quan
trong
c- Lý thuyết quy hoạch thành phố tuyến và dải
- Lý thuyết thành phố tuyến của Soria y Mata (1844-1921): ý đồ tổ chức không
gian đô thị dọc theo trục giao thông chính với chiều dài không hạn chế, chiều
rộng của dãy công trình 2 bên khoảng vài trăm mét. Nhà ở dạng thấp tầng có
vờn riêng. Sơ đồ này đã đa đô thị tiếp cận nhiều hơn với thiên nhiên, phát
14
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
huy u điểm của hình thức thôn xóm mà vẫn gắn liền với các điều kiện kỹ
thuật đô thị hiện đại.
- Lý thuyết thành phố dải: Sơ đồ này đã đợc Milutin áp dụng cho quy hoạch
thành phố Stalingrat năm 1930 và thành phố Novgorod. KTS Le Coorbusier
cũng đa ra sơ đồ thành phố công nghiệp theo mô hình dải vào năm 1942. Các
công trình đợc tổ chức thành từng dải chức năng khác nhau dọc theo trục giao
thông chính đợc trang bị đầy đủ các công trình kỹ thuật đô thị. Chiều rộng
đợc khống chế còn chiều dài phát triển tuỳ theo yêu cầu của đô thị.
Nh vậy với việc thu hẹp chiều ngang, kéo dài thành phố dọc theo trục
ô vuông, chữ nhật, coi trọng yếu tố thiên nhiên và cây xanh. Ông đã đa ra mô
hình quan hệ tay ba giữa đô thị - các điểm dân c nông thôn và vùng trồng trọt.
15
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
Nh vậy, T tởng của Le Corbusier là tăng cờng khai thác các yếu tố
cảnh quan nh môi trờng khí hậu, cây xanh ... phục vụ cho cải thiện điều kiện
vệ sinh và sức khoẻ cho dân c đô thị.
g- Quan niệm động về phát triển đô thị:
Quan điểm động về đô thị đó là thành phố không thể coi là khối lợng
vật chất cố định bất biến mà phải đợc coi là một cơ thể sống. Khởi đầu của
quan điểm này trong quy hoạch đô thị hiện đại là N.A. Ladovxki với việc đề
xuất sơ đồ cơ cấu quy hoạch thành phố Moxkva của công bố 1930-1933. Quan
niệm động về đô thị đợc Đôxiadis (KTS Hy lạp) nâng lên thành Lý thuyết đô
thị động. Trong mô hình đô thị động này yếu tố thiên nhiên đã không phải là
yếu tố chủ yếu quyết định hớng phát triển đô thị .
Cũng quan niệm động về phát triển đô thị nhng có một cách giải quyết
khác, đó là nghiên cứu của Botxatop (Liên xô cũ). Với nhận xét sự hình thành
phát triển đô thị là cả một quá trình lâu dài, chịu sự tác động thờng trực của
các điều kiện kinh tế, xã hội, kỹ thuật. Botxarov đã đề ra một cách phát triển đô
thị nh sau: Khi xây dựng đô thị không nên bắt đầu từ trung tâm thành phố.
Tiểu khu đầu tiên sẽ có trung tâm công cộng của nó mà cũng là trung tâm của
đô thị mới xuất hiện. Đến khi thành phố có một khu nhà ở thì trung tâm công
cộng thành phố chính là trung tâm công cộng khu ở đó. Cứ thế tiếp tục và cuối
cùng là trung tâm công cộng chung của đô thị sẽ đợc xây dựng giai đoạn cuối
đề xuất một đồ án "Đô thị phân tán" có tên là Broadacro City. Là một thành
phố kết hợp các thành phần nông thôn vào và đô thị, kề bên tòa Thị chính là
trang trại có hoa và cánh đồng. Một số lợng lớn dân c đô thị vẫn ở theo mô
hình trang trại (số ngời ở trong các trang trại lên đến 1800 ngời)
Nh vậy, quan điểm khai thác triệt để tự nhiên, công trình - đô thị phải
gắn bó, hoà nhập với môi trờng cảnh quan tự nhiên là t tởng chủ đạo của
Ông
i- Kurokawa với Hệ thống triết học mang tên là Cộng sinh
Đó là "sự cộng sinh giữa kiến trúc và thiên nhiên , sự cộng sinh giữa con
ngời và kỹ thuật, sự cộng sinh giữa các nền văn hoá, sự cộng sinh giữa quá
khứ và hiện tại, sự cộng sinh giữa nội và ngoại thất, sự cộng sinh giữa kiến trúc
bản xứ và kiến trúc thuần tuý, sự cộng sinh giữa tợng trng và ý nghĩa.."
Nh vậy, sự "cộng sinh"giữa thành phần nhân tạo với tự nhiên và có
tầm quan trọng đặc biệt, nằm ở vị trí đầu tiên trong quan điểm của Ông về vấn
đề kiến trúc và QHXD đô thị.
1.1.2.2- Vấn đề khai thác YTTN trong thực tiễn QHXD đô thị hiện đại
Giai đoạn hiện đại, các YTTN vẫn đợc khai thác cho các chức năng của
không gian đô thị phù hợp với điều kiện phát triển của thời hiện đại. Một số đô
thị mới đợc xây dựng trong giai đoạn hiện đại đã đạt đợc chất lợng cao về
khai thác YTTN, ví dụ nh:
a- Thành phố Luân Đôn: nhằm khắc phục tình trạng phát triển quá mức về
quy mô, Abecrombi đã quy hoạch một vành đai cây xanh xung quanh thành
phố góp phần tăng cờng thành phần thiên nhiên trong không gian đô thị.
b- Quy hoạch thành phố Amsterdam đã thể hiện sự độc đáo của giải pháp
khai thác mặt hồ nớc cho xây dựng với việc phát triển các đơn vị nhà ở mới về
phía đông.
c- Thành phố vờn Letchworth xây dựng 1903 và Welwyn ở Pháp đợc xây
dựng theo mô hình thành phố vờn và vệ tinh, kết hợp tốt giữa công trình kiến
trúc với địa hình và cây xanh. Ưu thế của mô hình này còn đợc vận dụng
nhiều ở nớc Anh sau này, ví dụ nh thành phố Harlou, Cumbecnau....
năng chính là công nghiệp và cảng vẫn có khu ở, cây xanh ...
i- Thành phố Hồng kông:
Là một đô thị phát triển vào loại sớm nhất ở châu á, tổ chức không gian
đô thị hoàn toàn du nhập kiểu tổ chức không gian đô thị của Mỹ, lấy kỹ thuật
làm sức mạnh. Tất cả các khoảng đất hiếm hoi tiếp giáp với mặt vịnh thuận lợi
cho xây dựng đều bị phủ kín bởi những cái hộp giống hệt nhau từ Tây sang
Đông. Theo đánh giá của các nhà kiến trúc, tổ chức không gian đô thị ở đây đã
phá vỡ mối liên kết vốn có giữa con ngời và thiên nhiên, con ngời và con
ngời. Sau những năm 90, đã có những cải biến trong tổ chức không gian đô thị
với việc chú ý hơn đến cảnh quan tự nhiên, đa một số khu xây dựng phân tán
trong các thung lũng và sờn núi phía trong.
1.1.2.3- Ví dụ cụ thể về khía cạnh khai thác YTTN trong đồ án QHXD
TP Matxcơva và Sinhgapo
a- Khai thác yếu tố tự nhiên trong Quy hoạch thành phố Matscơva
Matscơva - thủ đô của Liên Bang Nga, một thành phố Thủ đô đợc quy hoạch
và quản lý quy hoạch xây dựng, bảo vệ môi trờng vào loại tốt của thế giới. Kế
thừa các thành tựu của giai đoạn trớc, năm 1999 Chính phủ Liên Bang Nga đã
phê duyệt đồ án quy hoạch chung phát triển TP Matscơva đến năm 2020, trong
đó nội dung bảo vệ và khai thác cảnh quan tự nhiên khá đậm nét, thể hiện qua
các mục tiêu, biện pháp, tiêu chí nh:
+ Một trong những Mục tiêu chính phát triển xây dựng đô thị M - phát triển
bền vững thành phố và hình thành môi trờng sống thuận lợi cho các thế hệ dân
c M hiện tại và tơng lai đó là An toàn sinh thái môi trờng sống và bền
vững tổ hợp thiên nhiên.
+ Những tiêu chí an toàn sinh thái môi trờng sống và tính bền vững của tổ
hợp thiên nhiên là:
Trên lãnh thổ thành phố không có tổ hợp tự nhiên bị thoái hoá và các vi
phạm thô bạo cảnh quan và thảm thực vật;
b- Khai thác yếu tố tự nhiên trong thực tiễn quy hoạch và phát triển thành
phố Sinhgapo:
Quá trình QHXD và phát triển Singgapo có thể đợc coi là một điển hình
thành công của việc tổ chức mối quan hệ nhân tạo tự nhiên trong không gian
ĐT. Là một ĐT xây dựng trên toàn bộ hòn đảo rộng 600 Km2. Sau thời kỳ đầu,
thành phố có cấu trúc tập trung và phát triển lan toả dần ra xung quanh, sau
quy hoạch 1958, chuyển sang xây dựng các khu ĐT mới phân tán ra ngoại đô.
Các khu ĐT này mang hình thái ĐT vờn, kiểu đang thịnh hành ở nớc Anh và
đợc thiết kế tổng thể hoàn toàn phù hợp với khí hậu nhiệt đới biển ở đây. Các
khu đô thị mới đợc phân tán ra vùng ngoại đô. Các khu ở ổ chuột trong nội
đô đợc thay thế bằng các khu cây xanh, mặt nớc tạo thành các lá phổi nhỏ
ngay trong nội đô.
Chi tiết xem Phụ lục 2
19
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
1.2- vấn đề Khai thác yếu tố tự nhiên trong quy hoạch
xây dựng đô thị Việt Nam
1.2.1- khai thác YTTN trong QHXD đô thị cổ trung đại
1.2.1.1- Vấn đề khai thác YTTN trong lý luận QHXD đô thị
Trong quá trình giao lu văn hoá với Trung hoa thời cổ trung đại (giai
đoạn lịch sử từ trớc đến thế kỷ XIX, khi đất nớc bị Pháp đô hộ), Việt Nam đã
tiếp thu thuật Phong thuỷ và vận dụng trong kiến trúc nói chung và tổ chức
không gian ĐT nói riêng. Trong "Bản sắc văn hoá Việt Nam", GS Phan Ngọc
nhiên, thoáng rộng.
- Thuỷ khẩu: là đoạn sông Hơng phía trớc Kinh thành, một con sông có vẻ
đẹp thơ mộng trữ tình, dòng chảy đoạn phía trớc Kinh thành êm đềm phẳng
20
Báo cáo đề tài NCKH cấp Bộ Cơ sở cảnh quan học của khai thác yếu tố tự nhiên
trong quy hoạch xây dựng đô thị
lặng, mặt nớc trong sáng nh một tấm gơng, đoạn trớc kinh thành không
thẳng mà hơi cong, ôm vòng lấy toàn bộ kinh thành, khi qua Kinh thành thì
quanh lại ôm lấy cạnh phía Đông Bắc. Sông Hơng kết hợp với sông An cựu,
sông Hộ thành tạo thành nhiều tầng lớp thuỷ khẩu, đáp ứng đúng các yêu cầu
về mặt nớc theo nguyên lý của phong thuỷ. Nguyên lý TCKG theo thuyết
Phong thuỷ cũng đợc vận dụng trong bố cục không gian kiến trúc: Trục không
gian chủ đạo (thần đạo) là toạ Càn, hớng Tốn (hớng Tây Bắc - Đông Nam) là
hớng tốt theo nguyên lý Phong thuỷ. Phía trớc có án sơn là núi Ngự bình, hai
bên có 2 cồn đất đóng vai trò Thanh long (cồn Hến) Bạch hổ (cồn Dã viên).
Mặc dù xây dựng theo mô hình VauBan nhng bố cục mạng không gian về cơ
bản vẫn là theo nguyên lý truyền thống (Nếu lấy 4 trục đờng nối với 4 cổng
chính của thành thì thấy đây chính là sơ đồ cửu cung với đặc điểm trung cung
có cạnh dài gấp đôi các ô xung quanh). Không gian trọng tâm chính là khu
Hoàng thành và Tử cấm thành .
Việc vận dụng thuyết Phong thuỷ ở Việt Nam không máy móc dập
khuôn mà có sự sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế của cảnh quan. Mô hình
dựa núi ở Thăng Long chỉ là tợng trng bởi đây là vùng cảnh quan đồng
bằng thấp, các dãy núi gần nhất là Ba vì, Tam đảo cách xa hơn 30 Km đờng
chim bay. Trục thần đạo của kinh đô Phú Xuân không theo hớng chính
Vị trí xây dựng Kinh đô Hoa L đợc chọn nằm trên vùng thung lũng lọt
giữa các dãy núi đá vôi hiểm trở, cạnh bờ Nam của sông Hoàng Long. Núi cao
bao quanh gần nh kín ba mặt Tây, Nam và phía Đông, có thể kết nối tạo nên
tạo nên những bức tờng thành cao vô cùng kiên cố. Cạnh thung lũng về phía
Tây Bắc là Sông Hoàng Long, một con sông lớn thời bấy giờ, bắt nguồn từ
vùng rừng núi Hoà Bình, Nho Quan chảy ra sông Đáy, là con đờng giao thông
thuận tiện từ Kinh thành ra Bắc vào Nam.
Kinh đô Thăng Long đợc chọn xây dựng trên vùng đồng bằng, xung quanh
đợc bao bọc bởi các sông, ao hồ: Phía Đông giáp sông Hồng, phía Bắc giáp
sông Tô Lịch và Hồ Tây, phía Nam là sông Kim Ngu (cũ) và các hồ đầm
nớc. Vị trí trung tâm, thuận lợi giao thông (nhất là đờng thuỷ), địa thế cao
ráo, không gian thoáng rộng cả 4 phía có sông bao bọc che chắn. Chiếu dời đô
của Lý Thái Tổ đã miêu tảđất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân
c không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nớc
Việt, chỗ ấy là hơn cả..."
Vị trí đợc chọn xây dựng kinh thành Phú Xuân là khu vực Kẻ Huế cũ,
là nơi mà theo Ô châu cận lục của Lê Quý Đôn non sông kỳ tú, ruộng đất mở
mang, nhân dân đông đúc, thực là nơi đô hội lớn của một phơng, cảnh vật
tơi vi, phong vật quý giá. Khu vực này thuộc loại cảnh quan đồng bằng
chân núi điển hình của vùng duyên hải miền Trung. Cao độ của khu vực xây
dựng kinh thành cao hơn xung quanh (các vùng đồng bằng phía Đông Bắc và
Tây Bắc). Khu đất nằm giữa sông Hơng và sông Kim Long, Bạch Yến nối
thông ra biển qua phá Tam Giang và cửa T Hiền rất thuận lợi cho giao thông
thuỷ và khả năng khai thác tạo thành các hào nớc quân sự, một yếu tố đặc biệt
quan trọng trong cấu trúc thành của đô thị thời đó.
b- Khai thác YTTN trong tổ chức cơ cấu không gian đô thị
Cơ cấu không gian đô thị Thăng Long gồm phần Đô và phần thị. Phần
Đô của Thăng Long gồm 2 vòng bao bọc lấy nhau. Vòng ngoài gọi là Đại La
thành, vòng thành trong gọi là Cung thành. Các khu thị (khu buôn bán, các
ngoài vào đợc chia thành ba lớp thành bao bọc lấy nhau. Đó là Kinh thành,
Hoàng thành và Tử Cấm thành. Các YTTN đợc khai thác triệt để khai thác sử
dụng trong cơ cấu không gian kinh thành. Nắn chỉnh một số đoạn của sông
Kim Long, Bạch Yến kết hợp với đào mới và sử dụng một đoạn của Sông
Hơng phía trớc tạo thành hệ thống Hộ thành hà bao bọc xung quanh Kinh
thành. Các đoạn sông khác của Kim Long, Bạch Yến đợc khai thác thành Ngự
Hà và các hồ nớc. Khu thị của Phú Xuân bao gồm nhiều khu chức năng phân
bố rải rác về các phía của Kinh thành. Cảng Thanh Hà và Bao Vinh cũng nh
các làng Kim Long, Vĩ Dạ, Phờng Đúc... luôn kề cận và kéo dài dọc theo bờ
sông Hơng hoặc các chi lu của nó.
Nh vậy, cơ cấu không gian đô thị Thăng Long và Phú Xuân chính là mô
hình phân tán, hay chính xác hơn là kết hợp tập trung với phân tán. Phần Đô có
cấu trúc tập trung và là trung tâm của toàn đô thị, phần thị phân tách thành
nhiều khu chức năng phân bố rải rác bên ngoài phần Đô. Đây chính là mô hình
trong thành ngoài thị nh nhiều nhà nghiên cứu lịch sử đã khẳng định. Có thể
thấy đợc những u điểm của mô hình này trong quá trình lịch sử phát triển
của Thăng Long và Phú Xuân: Cơ cấu đô thị có tính chất mềm dẻo, đạt đợc
hiệu quả cao nhất về khai thác các yếu tố tự nhiên cho tổng thể cũng nh từng
khu chức năng, sự phát triển, biến đổi của khu chức năng này không làm ảnh
hởng nhiều đến các khu khác, cấu trúc đô thị duy trì đợc sự cân bằng ổn định
về môi trờng sinh thái khá lâu dài. ở Hà Nội, những u điểm trên đã mất đi
trong giai đoạn gần đây khi cơ cấu của đô thị bị chuyển hoá thành dạng tập
trung. Còn ở thành phố Huế, những u điểm này vẫn còn khá rõ nét nhng có
khả năng cũng mất đi nếu chuyển sang mô hình cơ cấu tập trung.
c- Khai thác YTTN trong bố cục kiến trúc đô thị
Trong bố cục không gian kiến trúc của Thăng Long, trục không gian
chính của phần Hoàng thành (phần Đô) quay hớng Nam, nh vậy mạng
không gian và các công trình kiến trúc cũng đợc bố cục theo hớng Bắc
Nam, đây cũng chính là hớng có lợi nhất để tạo đợc cấu trúc về khí hậu cho
tổng thể cũng nh mỗi công trình ở đây. Vì là vùng đồng bằng, yếu tố địa hình
Bố cục kiến trúc các khu Thị của Phú Xuân nh khu cảng thị Thanh Hà,
Bao Vinh, làng Kim Long, Vĩ Dạ, An Cựu, ... hình thành trên cơ sở dọc theo
sông Hơng, sông An cựu. Các trục không gian chính đều song song với trục
bờ sông tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa không gian tự nhiên và nhân tạo.
Kinh thành Phú Xuân có một giá trị đặc biệt về việc khai thác các yếu tố
tự nhiên trong tổ chức không gian. Năm 1993, Uỷ ban di sản thế giới đã nhận
định và xét chọn Quần thể di tích cố đô Huế vào danh mục Tài sản văn hoá
nhân loại.
Nh vậy: thông qua các đô thị đợc xây dựng giai đoạn này nh Cổ Loa,
Hoa L, Thăng Long, Phú Xuân ... có thể thấy cha ông ta đã khai thác triệt để
các điều kiện tự nhiên trong tổ chức không gian đô thị. Không kể các đô thị đã
bị huỷ haọi do thời gian, riêng đô thị Phú Xuân đã là một bài học tuyệt vời về
khía cạnh khai thác YTTN trong QHXD đô thị truyền thống. Các YTTN không
chỉ là cơ sở cho giải pháp quy hoạch mà còn là thành phần trọng yếu tạo nên
hình thái không gian đặc sắc ở tiêu chí hài hoà nhân tạo nớc- tự nhiên.
1.2.2- vấn đề khai thác YTTN trong QHXD đô thị cận đại
1.2.2.1- Về lý luận
Sau khi bình định xong Việt Nam, để phục vụ cho khai thác thuộc địa
đối với nớc ta. Trên cơ sở các địa danh có các đặc điểm tự nhiên thuận lợi cho
khai thác trong xây dựng phát triển đô thị nh vị trí, tài nguyên khoáng sản,
phong cảnh đẹp... Thực dân Pháp đã xây dựng một loại các đô thị, cải tạo phát
triển các đô thị cũ nh Hà Nội, Sài Gòn, Huế.... ; xây dựng đô thị mới có tính
chất khác nhau nh Hải Phòng (thành phố công nghiệp và cảng), Nam Định,
Vinh, Đà Nẵng (thành phố công nghiệp), Hòn Gai, Cẩm Phả, Lào Cai (thành
phố phục vụ khai thác mỏ), Đà Lạt, Tam Đảo, SaPa, Nha Trang, Đồ Sơn...
24
Cấm, nhà máy Tơ, Thuỷ tinh...). ở Đà lạt, cơ cấu đô thị có dạng nhánh (hình
cây) là mô hình cơ cấu khai thác tốt nhất đặc điểm địa hình và mặt nớc tại
đây. Đa số các đô thị nhỏ có cơ cấu hình dải, nằm dọc theo một vài yếu tố tự
nhiên nh bờ sông, bờ biển hoặc chân núi, thung lũng
c- Về bố cục không gian kiến trúc cảnh quan: các KTS Pháp đã khai thác
và sử dụng triệt để các YTTN trong bố cục kiến trúc ĐT. Đối với quy hoạch TP
Hải Phòng, mạng không gian đợc tổ chức theo dạng ô cờ bám sát hình thái
của sông Cấm, Tam Bạc, sông đào Bonal. Yếu tố bức xạ mặt trời là cơ sở của
việc tổ chức 1 trục chính chạy đúng hớng Đông Tây (trục Điện Biên Phủ
ngày nay). Sông đào Bonal (sau này bị lấp một phần tạo thành dải bunva cây
xanh trung tâm ĐT) là trục bố cục trung tâm cho kiến trúc ĐT. ở thành phố Đà
lạt, mạng không gian đợc tổ chức dạng tự do, uốn lợn theo địa hình và mặt
nớc. Các yếu tố tự nhiên nh các hồ nớc, các mốc địa hình, thảm thực vật ...
là nhứng yếu tố chủ đạo trong bố cục tthh toàn đô thị cũng nh trung tâm bố
cục không gian từng khu vực.
25