CHUYÊN ĐỀ: KĨ NĂNG LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÃ
HỘI TƯ MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
Nguyễn Thị Việt Hà
Trường THPT Nguyễn Tất Thành, Yên Bái
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, tư duy bằng ngôn ngữ; bày tỏ và bảo vệ chính kiến bản
thân; tranh luận, phản biện một vấn đề; thuyết phục người khác bằng lí lẽ là những
kĩ năng vô cùng cần thiết, thậm chí là một năng lực quan trọng để đến với thành
công trong cuộc sống. Chính vì vậy, trong chương trình Ngữ văn trung học phổ
thông, kĩ năng làm văn nghị luận được đặc biệt coi trọng, nhằm trang bị cho học
sinh những năng lực đã nói ở trên;
Một yêu cầu bức thiết đối với việc dạy - học văn hiện nay là phải hướng đến
thực tế cuộc sống, dạy văn là dạy Người, dạy cách sống, kĩ năng sống. Người học
văn không chỉ cảm nhận, thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, quan trọng hơn phải
thấy được ý nghĩa xã hội, vấn đề nhân sinh được gửi gắm trong tác phẩm ấy; biết
liên hệ, vận dụng biến bài học thành kinh nghiệm, vốn sống, kĩ năng cần thiết trong
cuộc sống. Kiểu bài nghị luận vấn đề xã hội từ một tác phẩm văn học là kiểu bài
gắn chặt mối quan hệ giữa đọc hiểu văn bản văn học với thực tế cuộc sống; nhằm
đáp ứng yêu cầu dạy - học văn nói trên.
Từ thực tế giảng dạy, người viết nhận thấy: So với hai kiểu bài nghị luận về
một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống, kiểu bài này khó hơn,
nhưng lại không có tiết lí thuyết dạy kĩ năng làm bài, học sinh vẫn chưa được học
cách làm dạng bài này. Trong chương trình Nâng cao, học sinh chỉ được học một
tiết: Luyện tập nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học ( Lớp 12);
còn trong chương trình chuẩn, dạng đề này có trong phần bài tập dù học sinh không
được học. Khó khăn nhất đối với học sinh là không phân biệt được đây là nghị luận
văn học hay là nghị luận xã hội, không biết phải bắt đầu triển khai vấn đề từ đâu và
triển khai như thế nào?
suy nghĩ và trình bày, sự thuyết phục của lập luận. Vận dụng các thao tác như giải
thích, phân tích, chứng minh, bác bỏ, so sánh…” (Sách giáo khoa Ngữ Văn 11, tập
2).
Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về xã hội, chính trị, đời sống. Đề tài
của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng mở. Nó gồm tất cả những vấn đề về
tư tưởng, đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc
sống hàng ngày, vấn đề thiên nhiên môi trường, vấn đề hội nhập, toàn cầu hoá…
Nghĩa là, ngoài những tác phẩm nghị luận văn học (lấy tác phẩm văn học, nhà văn
làm đối tượng), tất cả các dạng văn bản viết khác đều có khả năng được xếp vào
dạng nghị luận xã hội, chính trị.
2. Những yêu cầu của một bài nghị luận xã hội
Một bài văn nghị luận xã hội phải đáp ứng các yêu cầu sau
2.1 Đảm bảo kĩ năng nghị luận nói chung: Hướng đến luận đề, làm sáng rõ
vấn đề nghị luận; luận điểm sáng rõ, nhất quán; lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác
đáng, giàu sức thuyết phục; cảm xúc chân thành.
2.2. Đảm bảo kiến thức mang màu sắc chính trị - xã hội: những hiểu biết về
chính trị, xã hội: những hiểu biết về chính trị - pháp luật, những kiến thức cơ bản về
3
truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, tâm lí - xã hội ... những tin tức thời sự cập
nhật.
2.3. Đảm bảo mục đích, tư tưởng đúng đắn, phù hợp với đạo lí, lẽ phải, tiến
bộ, nhân văn thể hiện trách nhiệm người viết với đất, gia đình, xã hội; tư tưởng
trong bài nghị luận xã hội phải là tư tưởng có cơ sở khách quan, góp phần làm sáng
tỏ một vấn đề có ý nghĩa thực tế. Tư tưởng phải trong sáng, lành mạnh có tính xây
dựng, tán thành hay không tán thành phải có lí do xác đáng; điều gì đúng, điều gì
sai phải chỉ ra cụ thể, nêu dẫn chứng có sức thuyết phục. Đó phải là tư tưởng chân
thật, tự nhiên của học sinh, không sao chép trong tài liệu với những sáo ngữ cũ
mòn.
thật trong đời sống. Thường đó là những hiện tượng có ý nghĩa, quan trọng ảnh
hưởng rộng đến đời sống xã hội, thu hút sự quan tâm của dư luận, bao gồm hiện
tượng tích cực (tấm gương người tốt, việc tốt, nghĩa cử cao đẹp...) và tiêu cực (ô
nhiễm môi trường, thói xấu , tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông... )
Ví dụ 1:
Hiện nay, bạo lực học đường đang là tình trạng đáng báo động. Có người cho
rằng cá nhân gây ra bạo lực phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Lại có
người đi tìm nguyên nhân từ gia đình, nhà trường, xã hội. Ý kiến của anh (chị) về
vấn đề trên? (Trình bày trong một bài văn khoảng 600 từ).
Ví dụ 2:
Viết bài văn ngắn (khoảng 600 từ), trình bày suy nghĩ của anh/ chị về hiện
tượng một số bạn trẻ tự tạo scandal để được nổi tiếng.
3.3. Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học
Đây là dạng đề tổng hợp giữa làm văn và đọc văn, đòi hỏi học sinh phải có
kiến thức về cả hai mảng văn học và đời sống; kĩ năng đọc hiểu, phân tích văn học
và kĩ năng phân tích đánh giá các vấn đề xã hội. Nghĩa là có thể kiểm tra được
người viết cả kiến thức văn học và kiến thức xã hội.
Đây là kiểu bài nghị luận xã hội, tác phẩm văn học chỉ là cái cớ khởi đầu,
được khai thác về giá trị nội dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội khái quát trong tác
phẩm. Mục đích chính của kiểu bài này là yêu cầu người viết bàn bạc nghị luận về
một vấn đề xã hội, tư tưởng, nhân sinh, hiện tượng đời sống đặt ra trong tác phẩm
5
văn học. Đó là vấn đề xã hội mang tính thời sự, tính giáo dục sâu sắc, phù hợp với
tâm lí học sinh trung học.
Vấn đề xã hội có khi được nêu sẵn trong đề bài, có khi người viết cần đọc –
hiểu, phân tích văn bản để rút ra vấn đề xã hội và ý nghĩa của vấn đề. Vấn đề xã hội
được lấy từ hai nguồn:
Tác phẩm văn học đã học trong chương trình. Ví dụ:
hoặc chỉ đưa ra dẫn chứng chứ không phân tích dẫn chứng.
Liên hệ quá máy móc, khuôn mẫu, chưa đưa được hướng hành động cụ thể
của bản thân.
Đối với dạng đề nghị luận vấn đề xã hội đặt ra từ một tác phẩm văn học, học
sinh thường:
Nhầm lẫn đề nghị luận vấn đề xã hội đặt ra từ một tác phẩm văn học với đề
nghị luận văn học.
Sa vào cắt nghĩa cái hay, vẻ đẹp của yếu tố ngôn ngữ, hình tượng nghệ thuật
trong văn bản, phần nghị luận vấn đề xã hội làm rất sơ sài, dẫn đến sai lệch trọng
tâm bài viết.
Suy diễn, áp đặt chủ quan, hiểu không chính xác nội dung tư tưởng cũng như
vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm.
III. Kĩ năng làm bài nghị luận về vấn đề xã hội từ một tác phẩm văn học
1. Kĩ năng phân tích đề, tìm ý
Trong các bài nghị luận xã hội, học sinh phải phát biểu những suy nghĩ
nghiêm túc, chín chắn, sâu sắc của mình về một hiện tượng tốt, xấu trong đời sống
xã hội, về những vấn đề của cuộc sống từ chân lí vĩnh hẵng đến thời sự nóng hổi.
Muốn vậy, học sinh phải nhận thức đúng vấn đề mà đề bài yêu cầu, nghĩa là việc
xác định vấn đề phải đúng và trúng. Có thể nói kĩ năng cần thiết đầu tiên trong viết
văn nghị luận là kĩ năng nhận diện, phân tích đề.
1.1. Kĩ năng nhận diện và phân tích đề
Học sinh cần đọc kĩ đề, nhận diện kiểu đề: Nghị luận văn học hay nghị luận
xã hội? Dạng đề nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí? Một hiện tượng đời sống
hay nghị luận về vấn đề xã hội từ một tác phẩm văn học? Nếu là đề nghị luận về
vấn đề xã hội từ một tác phẩm văn học thì vấn đề đó là tư tưởng, đạo lí hay hiện
tượng đời sống? vấn đề xã hội cho sẵn trong đề (đề nổi) hay người viết phải tự tìm
ra (đề chìm). Có nhận diện đúng kiểu đề học sinh mới xây dựng cấu trúc bài, hệ
thống ý phù hợp thuận lợi (vì mỗi dạng đề có mô hình riêng)
7
8
Ví dụ 1 (đề cho sẵn vấn đề xã hội cần nghị luận):
Từ hình ảnh đồng tiền trong "Truyện Kiều" (Nguyễn Du), suy nghĩ về đồng
tiền trong cuộc sống hiện đại.
Vấn đề nghị luận là: vai trò, bản chất của đồng tiền, quan niệm, thái độ ứng
xử cuả con người với đồng tiền.
Ví dụ 2 ( đề văn chưa cho sẵn vấn đề xã hội)
Quả bóng đen
Một cậu bé da đen đang chơi đùa trên bãi cỏ, phía bên kia đường, một người
đàn ông đang thả nhẹ những quả bóng lên bầu trời, những quả bóng đủ màu sắc
xanh, đỏ, tím vàng và có cả qủa bóng màu đen nữa.
Cậu bé khoái chí, chạy tới chỗ người đàn ông hỏi nhỏ:
- Chú ơi những quả bóng màu đen có bay cao như những quả bóng khác
không ạ?
Người đàn ông quay lại, bất giác giấu đi những giọt nước mắt sắp lăn nhẹ
trên đôi gò má, ông chỉ lên những đám bóng bay lúc này chỉ còn những chấm nhỏ
và trả lời cậu bé:
- ...
Cần phát hiện các từ ngữ, chi tiết then chốt, đọc hiểu ý nghĩa các từ ngữ, hình
ảnh đó để rút ra ý nghĩa văn bản - vấn đề xã hội cần nghị luận. Dạng đề này yêu
cầu người viết phải có kĩ năng đọc hiểu văn bản tốt, khả năng tư duy suy luận độc
lập, vì vậy dạng đề này thường dành cho học sinh giỏi, trong thi chọn học sinh giỏi
các cấp. Ở văn bản trên, cần chú ý các chi tiết:
Quả bóng đen màu sắc không hấp dẫn bằng quả bóng khác. Đây là hình ảnh ẩn
dụ cho người da đen, vốn bị coi là hèn kém, bị phân biệt đối xử (khi vẫn còn nạn
phân biệt chủng tộc). Bay lên trời cao tượng trưng cho thành công, hạnh phúc. Tuy
nhiên, sự khác biệt bề ngoài không ngăn cản quả bóng đen bay lên trời cao như
1.3. Lập dàn ý:
Lập dàn ý là sắp xếp các ý theo trình tự hợp lí, lô gic, chặt chẽ, theo bố cục
cảu một văn bản: Nêu vấn đề, triển khai vấn đề, kết luận về vấn đề ( mở bài - thân
bài - kết bài). Mô hình bài nghị luận vấn đề xã hội từ một tác tác phẩm văn học
thường như sau:
10
a. Mở bài
- Dẫn dắt vấn đề
- Giới thiệu tác phẩm có chứa vấn đề xã hội cần nghị luận
b. Thân bài
* Giới thiệu và phân tích vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học:
Phân tích ngắn gọn văn bản văn học, khái quát chủ đề tác phẩm từ đó rút ra
vấn đề xã hội cần nghị luận.
* Nghị luận về vấn đề xã hội dặt ra trong tác phẩm văn học (tùy thuộc và
vấn đề nghị luận)
- Với vấn đề là một tư tưởng, đạo lí, quan niệm nhân sinh ... cần vận dụng mô
hình:
+ Giải thích khái niệm
+ Phân tích, lí giải
+ Bình luận đánh giá.
- Với vấn đề là một hiện tượng đời sống, cần vận dụng mô hình
+ Giới thiệu thực trạng
+ Phân tích và bình luận nguyên nhân
+ Kết quả (hậu quả)
+ Đề xuất ý kiến (giải pháp)
* Rút ra bài học cho bản thân
- Về nhận thức: hiểu và nhận thức đúng về vấn đề xã hội đó.
bày văn bản khoa học, mạch lạc.
Rèn luyện kĩ năng viết bài là khâu công phu đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ, phải
qua rèn luyện, trau dồi mới dần hoàn thiện. Từ cách lập luận, trình bày các ý chính,
đến ý nhỏ; sự kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng; đến cách sử dụng dẫn chứng sao cho
hiệu quả và "nghệ thuật"; cách diễn đạt sao cho vừa khoa học, logic mà vẫn phải
đượm "chất văn".
Cách tốt nhất, học sinh cần luyện viết những đoạn văn ngắn, rồi phát triển
dần dần đến khi viết một bài văn hoàn chỉnh. Nên viết đoạn văn có câu chủ đề.
Đoạn văn cần được thể hiện bằng cách nêu rõ ý chính cần viết là gì, triển khai cho
luận điểm nào, được phân tích, làm sáng rõ bằng lí lẽ, dẫn chứng nào?
12
Bên cạnh đó cần luyện cánh trình bày cho khoa học: viết đúng chính tả,
chuyển ý phải xuống dòng và triển khai thành đoạn khác một cách rõ ràng để người
đọc dễ theo dõi, thể thức trình văn bản.
4. Kĩ năng lựa chọn và sử dụng dẫn chứng
Là việc huy động dẫn chứng, chọn dẫn chứng cho phong phú, đa dạng và sử
dụng hiệu quả. Bao gồm những việc sau:
4.1. Ghi chép, tích lũy kiến thức xã hội:
Các lĩnh vực xã hội làm đề tài cho bài văn nghị luận xã hội rất đa dạng, nên
kiến thức phục vụ cho bài làm của học sinh là rất phong phú. Vì vậy học sinh phải
có ý thức quan sát, tìm hiểu, ghi chép, để vận dụng vào bài viết. Kiến thức có thể
được huy động từ các nguồn:
Kiến thức từ sách vở: Chủ yếu từ báo chí, sách tham khảo về các lĩnh vực của
cuộc sống, từ văn học, lịch sử, khoa học, tôn giáo, sách về gương người tốt việc tốt
…" Hạt giống tâm hồn", "Hạt giống hạnh phúc", "Suy nghĩ của những người trẻ",…
Điều quan trọng cùng các em tìm và lựa chọn sách cần thiết để học, biết cách đọc,
hệ thống hóa kiến thức.
Kiến thức từ đời sống: Hiểu biết, tích lũy hoặc từ đời sống hàng ngày của bản
chứng cần chú ý đến tính hệ thống, sắp xếp theo trục thời gian tuyến tính, không
gian từ xa đến gần ...
Trong bài nghị luận xã hội, cần hạn chế dùng dẫn chứng văn học (nhiều nhất
một dẫn chứng văn học), nên ưu tiên dùng dẫn chứng thực tế. Nêu dẫn chứng cần
ngắn gọn, chính xác tránh kể lể, tối kị kể thành câu chuyện dài dòng. Dẫn chứng
phong phú, mõi dẫn chứng phải giúp làm sáng luận điểm. Cần phân tích dẫn chứng
để làm rõ lí lẽ cần chứng minh. Nên sử dụng nhiều loại dẫn chứng: dẫn chứng lấy từ
thực tế đời sống, dẫn chứng là một câu chuyện ngụ ngôn, có ẩn ý (khái quát ngắn
gọn), dẫn chứng là một danh ngôn, tục ngữ ...
III. Một số đề luyện tập , rèn kĩ năng làm bài nghị luận vấn đề xã hội từ
một tác phẩm văn học
1. Đề số 1: Từ truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu,
anh/chị hãy phát biểu suy nghĩ về nạn bạo hành gia đình.
1.1 Phân tích đề
- Kiểu đề: + Nghị luận vấn đề xã hội từ một tác phẩm văn học đã học.
+ Vấn đề nghị luận là một hiện tượng đời sống
14
- Yêu cầu
+ Nội dung: Từ vấn đề người chồng đánh vợ trong truyện ngắn Chiếc thuyền
ngoài xa của Nguyễn Minh Châu bàn luận về nạn bạo hành gia đình.
+ Thao tác lập luận: giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận
+ Phạm vi tư liệu: Thực tế xã hội
1.2. Tìm ý, lập dàn ý
* Mở bài
- Khái quát thực trạng nạn bạo hành gia đình trong xã hội hiện nay.
- Dẫn dắt vào tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh Châu
* Thân bài
** Nêu hoàn cảnh xuất hiện vấn đề có ý nghĩa xã hội
con chửi rủa ông bà, dùng những lời lẽ không tốt đẹp để nói về nhau…
+ Hậu quả của bạo hành gia đình: Bạo hành gia đình xảy ra để lại hậu quả
đáng thương, con mất mẹ, cháu mất ông bà, cha mẹ con cái từ nhau… gây ra biết
bao tệ nạn xã hội.
- Nguyên nhân:
+ Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa anh hàng chài vì phải lo toan, bươn
chải gánh nặng gia đình, vì đói vì nghèo mà đánh đập vợ con để giải tỏa tâm hồn.
+ Thực tế xã hội phức tạp hơn: Đó là do cái nghèo, cái khổ của cuộc sống xô
bồ của xã hội, do ý thức, đạo đức biến chất tha hóa của một bộ phận người trong xã
hội.
- Giải pháp:
+ Để giải quyết vấn đề bạo lực gia đình cần có sự kết hợp của các cơ quan
đoàn thể, các tổ chức trong xã hội…Đảng và nhà nước cần có biện pháp tích cực
như tuyền truyên vận động mọi người giáo dục mỗi công dân về hạnh phúc gia
đình.
+ Phải trừng trị nghiêm khắc những kẻ có hành vi bạo lực gia đình.
+ Đưa ra những chính sách bảo vệ cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc
sống cho người dân.
16
* * Rút ra bài học cho bản thân
- Nhận thức: Một gia đình hạnh phúc, một xã hội nhân văn khi giá trị con
người được đặt lên hàng cao nhất.
Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thảo mãn
lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ người khác trên vai mình. (Đời thừa - nam
Cao)
- Hành động: Lên án đấu tranh chống bạo hành trong gia đình; Tu dưỡng, rèn
luyện bản thân để biết chung sống, yêu thương, trân trọng con người ....
* Kết bài: Đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội trong tác phẩm
* Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu văn bản và vấn đề cần nghị luận
* Thân bài:
** Khái quát nội dung và ý nghĩa câu chuyện
- Truyện kể về cuộc đối thoại giữa Thượng đế và muôn loài. Người muốn
tặng cho loài người một món quà là khả năng sáng tạo nhưng phân vân không biết
đặt nó vào chỗ nào. Sau vài lời đề nghị, Thượng đế quyết định giấu khả năng sáng
tạo vào bên trong mỗi con người.
- Câu chuyện ngắn gọn, giản dị nhưng lại đặt ra vấn đề rất lớn đối với con
người: ẩn trong mỗi chúng ta đều có khả năng sáng tạo. Đó là một món quà vô giá,
phải biết trân trọng và khơi dậy nó.
** Nghị luận về khả năng sáng tạo của con người
- Giải thích: Sáng tạo là năng lực trong con người đưa ra những ý tưởng,
phát kiến mới.
- Phân tích, chứng minh: khả năng sáng tạo trong con người trong suốt
chiều dài lịch sử tồn tại và phát triển của mình. (lấy dẫn chứng cụ thể để phân tích)
- Bàn luận
+ Khả năng sáng tạo có vai trò rất quan trong trọng sự tồn tại, phát triển của
con người. Nó có trong mỗi con người nhưng không phải ai cũng biết cách khơi dậy
để phục vụ cho cuộc sống của mình.
+ Làm thế nào để khơi dậy sáng tạo? Cần không ngừng học hỏi để có tiền đề
cho sự sáng tạo, luôn lao động chăm chỉ và tích cực ngẫm nghĩ, dành thời gian cho
sự sáng tạo, tìm đến những không gian sáng tạo và người giàu tính sáng tạo…
+ Chỉ ra một số quan điểm sai lầm về khả năng sáng tạo: sáng tạo là chuyện
dễ dàng, sáng tạo chỉ có ở tuổi trẻ, chỉ cần sáng tạo là có thể thành công, phê phán
những người sống ỷ lại, máy móc, trì trệ, hay viển vông, sáo rỗng…
18
* Kết bài: Khẳng định ý nghĩa vấn đề, liên hệ bản thân.
3. Đề số 3
** Nghị luận về sự nỗ lực vận động, phấn đấu vươn lên để bắt kịp và thích ứng
với cuộc sống
- Giải thích: Chạỵ là hoạt động dời chỗ với tốc độ cao, đòi hỏi sự cố gắng
nỗ lực hết sức. Người ta thường chạy khi có sự hối thúc gấp gáp nào đó: thời gian,
hoàn cảnh; sức khỏe, sự sống còn …
- Bình luận:
+ Văn bản trên nêu lên một vấn đề sống còn với con người hiện đại nếu
muốn tồn tại và phát triển. Xã hội không ngừng phát triển, cuộc sống thay đổi từng
giờ, con người không thể đứng yên mà phải chạy – mở mang tri thức, học tập
thường xuyên để không ngừng nâng cao, hoàn thiện bản thân đáp ứng yêu cầu ngày
càng cao, theo kịp thời đại. Nếu không con người sẽ bị tụt hậu, bị đào thải khỏi xã
hội.
+ Việc chạy diễn ra thường xuyên "mỗi ngày"; với tất cả mọi người: mạnh yếu, giàu – nghèo; sang – hèn… tùy theo hoàn cảnh, điều kiện, lí tưởng sống, mỗi
người có điểm đến khác nhau " không phải bạn là linh dương hay sư tử"; hơn nữa
phải chạy một cách nỗ lực, quyết tâm cao ngay từ đầu " khi mặt trời mọc".
+ Để sống, linh dương, sư tử phải chạy; sư tử phải ăn thịt linh dương - bản
năng sinh tồn của loài. Con người chạy, trước hết để sống, tồn tại nhưng không thể
vì hạnh phúc, quyền lợi bản thân mà giẫm đạp lên sự sống, hạnh phúc của người
khác. Con người chạy còn để theo đuổi mục tiêu cao đẹp: phát triển năng lực, hoàn
thiện bản thân; thực hiện mơ ước, hoài bão cao cả, xây dựng cuộc sống tươi đẹp,
thúc đẩy sự phát triển của xã hội …
+ Dù chạy để theo kịp thời đại, song đôi khi con người cũng phải biết “dừng
lại”, để lắng nghe bản thân; cảm nhận và hưởng thụ hạnh phúc mình đang có. Chạy
chính là để sống tốt hơn.
- Bài học liên hệ
+ Định hướng mục đích sống cao đẹp, đích đến rõ ràng, đúng mong muốn,
phù hợp với năng lực bản thân; chuẩn mực đạo đức; lí tưởng chung của cộng đồng.
+ Chuẩn bị hành trang: tri thức, sức khỏe, bản lĩnh, quyết tâm để sẵn sàng
diễn đạt cho học sinh. Luôn nhớ lựa chọn phương pháp, đặt yêu cầu phải phù hợp
với đối tượng học sinh, có kế hoạch dài hơi trong việc rèn kĩ năng viết văn cho học
sinh.
21
Xuất phát từ kinh nghiệm tích lũy trong quá trình giảng dạy, chúng tôi mạnh
dạn đưa ra một số phương pháp hướng dẫn kĩ năng viết bài nghị luận vấn đề xã hội
từ tác một tác phẩm văn học cho học sinh. Do hạn chế thời gian, chuyên đề không
tránh khỏi có chỗ sai sót, chưa thấu đáo. Kính mong nhận được sự đóng góp của các
đồng nghiệp.
22