cảm hứng đạo đức trong tiểu thuyết quốc ngữ nam bộ những năm đầu thế kỷ xx - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN NGỮ VĂN

VÕ TRÚC XINH

CẢM HỨNG ĐẠO ĐỨC TRONG
TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ NHỮNG
NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

Luận văn tốt nghiệp đại học
Nghành Sư phạm Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn:

HUỲNH THỊ LAN PHƯƠNG

Cần Thơ, tháng 05-2009


ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Giới hạn vấn đề
5. Phương hướng và phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:

2.2. Không gian hòa quyện thời gian

PHẦN KẾT LUẬN
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Lí do chọn đề tài:
Văn chương Quốc ngữ Nam Bộ là một bộ phận văn học vô cùng độc đáo. Đó là
những viên gạch đầu tiên để nền văn học Việt Nam hiện đại vươn lên tỏa sắc. Trong đó,
tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ là một thành tựu độc đáo khi mà những năm đầu thế kỷ XX,
phong trào viết và đọc tiểu thuyết trở nên rầm rộ ở vùng đất này. Mọi lứa tuổi từ già đến trẻ,
mọi hạng người từ thành thị đến nông thôn…luôn say mê tìm đọc mỗi khi một quyển tiểu
thuyết mới xuất hiện. Tiểu thuyết Quốc ngữ đã sớm trở thành một món ăn tinh thần không
thể thiếu trong đời sống của người dân nơi đây. Đến với tiểu thuyết Quốc ngữ, người đọc
không phải chỉ xem nó là một trò giải trí tinh thần đơn thuần mà cái chính là tìm thấy ở đó
những giá trị độc đáo.
Các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ không chỉ gợi lên những sự thương cảm ở người
đọc qua những mối tình éo le, trắc trở trong những tiểu thuyết ái tình hay cuốn người
đọc vào không khí huyền bí, li kì của những tiểu thuyết trinh thám, hoặc hòa mình vào
không khí hào hùng trong tiểu thuyết lịch sử….mà hơn hết là giúp người ta tìm thấy ở
đó những bài học đạo đức sâu sắc - Những cái mà rất cần trong buổi ngọn gió Âu Tây
đang tấn công mạnh mẽ vào bức tường luân lý truyền thống của dân tộc mà không ít
kẻ đã bị lai căng, mất gốc. Với ý thức thân phận của một người dân mất nước, các nhà
văn Nam Bộ tuy không trực tiếp đứng lên cầm vũ khí chống giặc nhưng họ lại tự đặt
lên đôi vai mình trọng trách giữ gìn nền đạo lý truyền thống của dân tộc. Họ luôn cố
gắng thông qua những tác phẩm của mình có thể chỉ cho quần chúng độc giả đâu là
nẻo ngay đường chánh mà noi theo, đâu là nẻo đường tăm tối mà xa lánh…Có thể nói,
các nhà tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đã bằng cả tấm lòng nhiệt huyết mà ra công bảo
tồn những giá trị đạo đức truyền thống quý báo của dân tộc. Họ đã say mê gởi gắm đến

Giáo dục, trong phần Văn học với tư tưởng và đạo đức, tác giả đã phân tích mối quan hệ chi
phối lẫn nhau giữa tư tưởng của người viết sách tác động đến việc xây dựng tác phẩm và
tác động của tác phẩm văn chương đến tư tưởng người đọc. Đồng thời, tác giả còn khái
quát cái nhìn của các nhà văn đối với vấn đề: văn chương và đạo đức - cần phân biệt rạch
ròi hay đồng nhất khi sáng tác tác phẩm. Tác giả đã khẳng định: với hiện thực đời sống
những năm đầu thế kỷ XX, nền giáo lí Nho gia không còn phù hợp mà dần thay thế bằng
quan niệm đạo đức của nhân dân.
- Mã Giang Lân trong Quá trình hiện đại hóa văn học Viêt Nam 1900 - 1945,
NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, 2000, đã có cái nhìn khá toàn diện về những đặc điểm
nổi bật của nền văn học Viêt Nam giai đoạn 1900 - 1945. Riêng phần văn chương
-2-


Quốc ngữ Nam Bộ, ông đã có những nhân xét sâu sắc về Hồ Biểu Chánh. Ông khẳng định,
những vấn đề đạo đức trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh đã “đáp ứng được nhu cầu tâm lý
của người đọc Nam Bộ: trọng nhân nghĩa, thương người hoạn nạn, thẳng thắng mà chung
thủy”…trên cơ sở của sự kế thừa truyền thống.
- Cao Xuân Mỹ và Mai Quốc Liên trong Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ 20, 2 tập,
NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, đã cung cấp
một lượng lớn văn bản tác phẩm. Đồng thời, các tác giả đã có cái nhìn tổng quan, sâu sắc
về việc nhìn nhân giá trị của các tác phẩm cũng như đóng góp của các tác giả Nam Bộ.
Đây là những định hướng và điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu và thực hiện đề tài.
- Hoài Anh - Thành Nguyên - Hồ Sĩ Nghiệp trong Văn học Nam Bộ từ đầu đến
giữa thế kỷ XX ( 1900-1954), NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, các tác giả đã nêu
lên sự vân động của văn học Nam Bộ cùng với những biến động của lịch sử, xã hội
theo từng thời kì từ 1900 - 1954. Ngoài ra, các tác giả cũng nhấn mạnh giá trị đạo đức
trong một số tác phẩm của các tác giả như: Phạm Minh Kiên, Tân Dân Tử, Hồ Biểu
Chánh…Đặc biệt, các tác giả đã nhận xét quan niệm đạo đức trong tiểu thuyết Hồ Biểu
Chánh là sự kết hợp giữa đạo đức Nho gia với những chi tiết hiện thực đời thường “với
thái độ đồng cảm với người nghèo khổ gặp cảnh ngộ không may, lên án kẻ giàu sang

khác xoay quanh những vấn đề của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế
kỷ XX. Nhưng nhìn chung đến nay vẫn chưa có một công trình nào thật sự có một
cách nhìn thật toàn diện và sâu sắc về vấn đề “cảm hứng đạo đức” trong bộ phận văn
học này.

3. Mục đích yêu cầu
Như đã trình bày ở trên, khuynh hướng đạo đức là một đặc điểm riêng, mang tính phổ
biến trong các tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ. Đó như trở thành một kim chỉ nam, mục đích
hướng tới trong việc sáng tác của các nhà văn. Họ đã luôn cố gắng lồng ghép vào tác phẩm
của mình những bài học đạo đức sâu sắc để “cảnh tỉnh” lòng người. Do đó, trong bài
nghiên cứu này, người viết hi vọng sẽ làm sáng tỏ “cảm hứng đạo đức trong tiểu thuyết
Quốc ngữ Nam Bộ” thông qua tìm hiểu:
- Quan niệm sáng tác của các nhà văn
- Những điều kiện tác động đến quan niệm sáng tác của các nhà văn
-4-


- Các yếu tố nghệ thuật góp phần thể hiện những nội dung đạo đức
- Những vấn đề đạo đức được các nhà văn phổ biến trong tác phẩm.

4. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ những năm đầu thế kỷ XX là một bộ phận văn
chương ra đời trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Đó là buổi chuyển giao: nền văn
chương cũ đã kết thúc vai trò trên văn đàn mà cái mới vẫn chưa khẳng định được chỗ
đứng vững chắc. Tiểu thuyết Quốc ngữ ra đời đã đáp ứng được nhu cầu thưởng thức
văn chương của quần chúng độc giả mới nên nó nhanh chóng được chào đón và tiếp
nhận. Điều đó đã tạo nên một phong trào viết và đọc tiểu thuyết rầm rộ ở Nam Bộ
những năm đầu của thế kỷ XX. Có thể nói chỉ hơn 30 năm mà bộ phân văn học này đã
có một lực lượng tác giả cũng như số lượng tác phẩm khá đồ sộ. Hơn thế, do nhiều
nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, đến nay phần nhiều tài liệu về tác giả



Chương 1: VÀI NÉT VỀ TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ NAM BỘ

GIAI ĐOẠN ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Hoàn cảnh ra đời của tiểu thuyêt quốc ngữ Nam Bộ
1.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội Nam Bộ những năm đầu thế kỷ xx
1.1.1.1 Tính hình chính trị
Năm 1958, lấy cớ triều đình nhà Nguyễn ngăn cản việc thông thương và giết
các giáo sĩ, ngày 01 tháng 09, Thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên vào bán đảo Sơn
Trà (Đà Nẵng) - mở đầu cuộc tiến công chính thức xâm lược Việt Nam. Cảng Đà
Nẵng là cửa ngỏ triều đình nhưng không phải là một căn cứ địa thuận lợi nên sau 5
tháng dặm chân tại chỗ trước sự kháng cự quyết liệt của quân và dân ta, Pháp quyết
định mở cuộc tấn công vào Gia Định vào ngày 10-02-1859. Đến ngày 17-02-1859,
Pháp chiếm thành Gia Định. Nhân dân Nam Bộ trong tinh thần cả nước đã kiên cường
chống giặc ngoại xâm. Trong khi đó, triều đình lúc đầu còn cùng nhân dân chống giặc
nhưng dần về sau càng tỏ ra ương hèn, thỏa hiệp và cuối cùng là đầu hàng giặc. Với
Hòa ước ngày 5-06-1862, triều đình đã nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Đến
1867, Pháp cưỡng chiếm luôn ba tỉnh miền Tây. Năm 1874, lại kí Điều ước và thương
ước nhường toàn bộ Nam Kỳ cho Thực dân. Đền Hòa ước 1884, chủ quyền của Việt
Nam nằm hoàn toàn trong tay Thực dân Pháp, Việt Nam trên thực tế đã không còn là
một nước độc lập. Với việc chia Việt Nam ra ba đơn vị hành chính: Bắc kỳ, Trung kỳ
và Nam kỳ, chính sách chia để trị của Thực dân Pháp được cụ thể hóa. Riêng Nam kỳ
chính thức trở thành thuộc địa của Pháp với những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội so với Bắc và Trung kỳ.
Sau khi chiếm được Nam kỳ, Thực dân Pháp đã tiến hành thiết lập chính quyền
quân sự, đứng đầu là các đô đốc, các chủ tỉnh và phủ huyện cũng đều là những sĩ quan
Pháp. Năm 1880, chúng đặt chức thống đốc và Hội đống quản hạt Nam Kỳ được thành
lập gồm 12 ủy viên người Pháp và 6 ủy viên người Việt. Với âm mưu biến Nam Kỳ

lượng này không đủ khả năng để chuyển sang đường hướng Duy Tân của cụ Phan. Bù lại
trong chuyến đi này Phan Bội Châu đã tìm được một lực lượng yêu nước mạnh mẽ. Họ là
những tri thức tiến bộ hết lòng tham gia và ủng hộ phong trào Duy Tân. Đó là: Đặng Thúc
Liêng, Hội đồng Nguyễn Thành Hiến, Trần Chánh Chiếu, Trương Duy Toản…
-8-


Đầu năm 1905, phong trào Đông Du mở đầu bằng cuộc đi sang Nhật đầu tiên
của Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, kế đó là một số chí sĩ khác trong đó có Cường Để.
Năm 1907, Phan Bội Châu soạn Ai cáo Nam Kỳ phụ lão để làm tài liệu vận động đồng
bào Nam Kỳ. Phong trào Đông Du phát triển một cách mạnh mẽ ở Nam Kỳ vào
khoảng những năm 1907-1908, trong số du học sinh cả nước khoảng 200 riêng Nam
kỳ đã chiếm hết 100. Lúc này ở Nam Kỳ có nhiều tổ chức mà người Pháp gọi là “Hội
kín”. Hội thu hút mạnh mẽ nhân dân ở chỗ đối tượng trừng trị của hội là bọn quan lại
tham nhũng và cường hào gian ác, bọn tay sai của Thực dân. Cơ sở của hội mạnh mẽ
nhất là ở các vùng như: Gia Định, Chợ Lớn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Bến Tre và
Châu Đốc. Trong các hoạt động của hội nổi bật nhất là cuộc khởi nghĩa tiến công vào
Sài Gòn của 600 người vào ngày 23 rạng 24-3-1913 do Nguyễn Hữu Trí và Phan Xích
Long lãnh đạo và cuộc nổi dậy tại khám lớn Sài Gòn vào đêm 14 rạng 15-2-1916. Mặc
dù những phong trào này đều bị Thực dân Pháp nhanh chống dập tắt nhưng âm vang
của nó vẫn tác động mạnh mẽ đến không khí chung của buổi đương thời.

1.1.1.2 Về mặt xã hội:
Sau khi chiếm được Nam Kỳ Lục tỉnh, Pháp tăng cường khai thác thuộc địa để
phục vụ mẫu quốc. Sau chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer và Albert
Sarrut đã làm thay đổi sâu sắc xã hội Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói riêng.
Xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX ngoài những giai cấp của xã hội cũ
đã bắt đầu xuất hiện một số giai cấp, tầng lớp mới làm cho cơ cấu xã hội trở nên vô
cùng phức tạp. Một bộ phận nông dân bị bần cùng hóa phải từ bỏ ruộng vườn ra thành
thị kiếm sống bằng đủ mọi nghề, hình thành nên tầng lớp dân nghèo thành thị với đời

đầu cần đến một nền văn chương chứa đựng nhiều yếu tố thông tục và bình dân, đáp
ứng được nhu cầu thưởng thức của đại đa số công chúng bình dân thành thị. Độc giả
lúc này không chỉ biết tiếp nhận những gì nhà văn hướng đến mà họ còn đề ra những
yêu cầu mà nhà văn phải cố gắng đáp ứng nếu muốn tồn tại. Chính tầng lớp công
chúng thành thị đã góp phần thúc đẩy các tác giả mạnh dạn tìm đến cái mới, cái phù
hợp với bước tiến của thời đại.

1.1.1.3 Chính sách giáo dục
Ngay sau khi đặt nền cai trị lên vùng đất Nam kỳ, bên cạnh những hoạt động về
chính trị, kinh tế…Pháp còn đặc biệt chú ý về lĩnh vực văn hóa giáo dục. Với ý định
triệt tiêu ảnh hưởng của giới sĩ phu cũng như nền giáo dục, văn hóa Nho gia truyền
thống, Pháp đã dần dần loại bỏ chữ Hán và chế độ thi cử cũ. Thay vào đó, chúng dần
thiết lập một hệ thống giáo dục mới dùng chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ngày 21-09- 10 -


1861, phó thủy sư đô đốc Sacner (Charner) ký nghị định mở trường Pháp - Việt đầu
tiên ở Nam Kỳ mang tên Bá Đa Lộc. Ngày 16-07-1864, Pháp cho mở trường Thông
ngôn ở Sài Gòn…Những thay đổi của Pháp trong việc thi cử cũng như chính sách
“nhồi sọ” với tham vọng là dạy cho người Việt nói tiếng Pháp rồi đi đến bị đồng hóa
trong văn hóa Pháp, đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của giới sĩ phu và nhân dân yêu
nước. Do đó, mặc dầu rất nhiều trường Pháp Việt ra đời nhưng rất ít con em người
Việt theo học. Chính vì vậy, ngày 17-11-1874, Pháp ban hành chế độ giáo dục mới với
những điều khoản nhằm khuyến khích dân Việt theo học như: học sinh được học tự do,
miễn phí tại các trường thuộc địa, các trường dạy chữ Nho nếu dạy thêm Quốc ngữ thì
thưởng mỗi năm thêm 20 Franc…Đến ngày 06-04-1878, nghị định của Thống đốc
Nam kỳ quy định: các loại giấy tờ, văn kiện đều phải dùng tiếng Annam bằng mẫu tự
Latinh và những người được tuyển dụng vào guồng máy hành chánh đều phải biết
Quốc ngữ hoặc tiếng Pháp…. Với những điều kiện ấy, Pháp thu hút được một số
lượng lớn những người tham gia học hành, thi cử theo chế độ giáo dục mới của Pháp.
Đến ngày 17-03-1879, sở Học chính Nam Kỳ ra đời đã đánh dấu một chặng đường

chính sách khuyến khích đã dùng các biện pháp cưỡng chế mạnh mẽ để mong thực
hiện nhanh chóng chính sách đồng hóa. Chúng bắt buộc thiếu niên Việt Nam phải đi
học mà lúc này hệ thống trường dạy bằng chữ Pháp và Quốc ngữ đang dần chiếm ưu
thế. Mặt khác “theo nghị định ngày 6-4-1878 của Thống đốc Nam Kỳ Lafont: kể từ
ngày 1-1-1882, các loại giấy tờ, văn kiện trong guồng máy hành chính đều phải dung
tiếng Annm bằng mẫu tự Latinh. Người được tuyển dụng vào phải biết Quốc ngữ”[3;
tr.3]. Do đó những người biết chữ Pháp và Quốc ngữ đều rất dễ dàng tìm được công
việc có địa vị trong xã hội, một số khác lại được pháp cử đi học ở nước ngoài như:
Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn Cương…Vì vậy, có thể nói một bộ phân không ít
người đã tìm đến với thứ chữ này vì lợi ích mưu sinh.
Mặt khác, chữ Quốc ngữ với ưu thế dễ đọc, dễ viết, không theo hướng “chữ
nghĩa” Nho gia mà theo hướng nôm na bình dị, câu văn dùng “tiếng Annam ròng”, trơn
tuột

như lời nói, đã dần chiếm được sự quan tâm của người dân Việt Nam. Đặc biệt,

những nhà Nho tiến bộ đã sớm nhìn thấy chữ Hán và hệ thống thi cử cũ là những vật cản
đến việc tiếp thu những luồng tư tưởng tiến bộ mới, đến công cuộc Duy tân của dân tộc.
Nên từ sự phản ứng gay gắt họ bắt đấu cổ động mọi người dùng chữ Quốc ngữ như một công
cụ giao tiếp tiện ích và hiện đại:
“Trước hết phải học ngay chữ Quốc ngữ
Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau

- 12 -


Chữ ta, ta đã thuộc làu
Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài”
( Nguyễn Phan Lãng - Đông kinh nghĩa thục)
Tác giả Văn minh tân đọc sách cũng khẳng định: “Phàm người trong nước đi học nên lấy

giả bình dân…Do đó, nó dễ dàng được chào đón và tiếp nhận một cách nồng nhiệt ở Nam kỳ
trong giai đoạn sơ khai.
Có thể nói báo chí còn là “một bà đỡ mát tay” của nền văn học Nam Bộ nói
chung và tiểu thuyết Quốc ngữ nói riêng. Đây chính là nơi phổ biến và lưu giữ những
tác phẩm văn chương Quốc ngữ khi mà hoạt động in ấn, xuất bản chưa có ở Nam Kỳ.
Hầu hết những tác phẩm văn chương Quốc ngữ đều được đăng trên báo chí hoặc để lại
những dấu ấn thông qua những bài giới thiệu sách, phê bình văn học tranh luận văn
học trên báo. Với cuộc thi viết tiểu thuyết đầu tiên trên báo Nông cổ mín đàm vào số
262, ngày 23-10-1906 với nhan đề Quốc âm thí cuộc, báo chí đã chính thức khai sinh
nền tiểu thuyết Quốc ngữ ở Nam kỳ. Ở buổi đầu, tiểu thuyết Nam Bộ thường xuất hiên
dưới dạng các bài viết đăng nhiều kỳ trên báo. Sau đó, mới được xuất bản thành sách
nếu tạo được một chỗ đứng trong lòng độc giả. Báo chí phát triển đã tạo điều kiện hình
thành nên một bộ phận những người chuyên viết văn và viết báo. Báo chí cũng chính
là môi trường khắc nghiệt để họ rèn luỵện, nâng cao ngòi bút của mình để có thế đáp
ứng được nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của độc giả. Cho nên ta không phải ngạc
nhiên khi phần lớn những nhà văn Nam Bộ đều xuất thân từ nghề viết báo như: Trần
Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Phú Đức, Bửu Đình…Như vậy báo
chí ngay từ buổi đầu đã là một: “mảnh đất ươm mầm cho một thể loại văn học mới
phát triển, đơm hoa kết trái: đó là tiếu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ” [3; tr.101].

1.1.2.3. Dịch thuật:
Khoảng những năm cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự hình thành
từng bước của chữ Quốc ngữ, văn học dịch đã từng bước phát triển ở miền Nam. Những bản
dịch bằng chữ Quốc ngữ của các tác phẩm văn học cận đại, tác phẩm của Trung Hoa và
Pháp đã sớm trở thành món ăn tinh thần độc đáo của công chúng độc giả trước khi những sáng
tác bằng Quốc ngữ chính thức ra đời.
Mở đầu của phong trào này là việc các nhà văn Nam Bộ dịch những tác phẩm
chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ như: Janneaux phiên âm Lục Vân tiên sang Quốc ngữ
năm 1873; Trương Vĩnh Ký với: Đại Nam quốc sử diễn ca (1875), Kim Vân Kiều
(1878), Phan Trần (1889), Lục Vân Tiên (1889), Lục súc tranh công (1887), Gia


ngữ cũng như nền văn hóa, văn chương mới và dần

tách khỏi ảnh hưởng của nền văn

hóa, văn chương truyền thống để dễ bề đồng hoá, cai trị.
Dù động lực thúc đẩy là nguyên nhân nào đi nữa thì việc dịch thuật cũng đã góp
một phần quan trọng vào nền văn học Nam kỳ nói chung, tiểu thuyết Quốc ngữ nói
riêng. Đó là trong quá trình dịch thuật các nhà văn Nam Bộ đã vay mượn một vốn từ
phong phú vào nền văn học dân tộc, học hỏi được những cách thức sáng tác mới từ
những tác phẩm phương Tây cũng như những tác phẩm hiện đai của Trung Quốc. Từ
mảnh đất dịch thuật, các nhà văn Nam Bộ đã từng bước từ việc dịch thuật để đi đến
- 15 -


phóng tác và cuối cùng là sáng tác. Do đó, ta thấy trong sự nghiệp văn chương của
mình các nhà văn Nam Bộ thường bắt đầu bằng việc dịch thuật rồi phóng tác những
tác phẩm nước ngoài trước khi bắt tay vào sáng tác như: Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu
Chánh… Đó cũng là môi trường để họ “ươm mầm”, thử nghiệm cho công việc sáng
tác sau này.

1.1.2.4. Nghề in và hoạt động xuất bản:
Trước khi Pháp sang xâm lược, lúc chữ Hán và chữ Nôm đang thịnh hành, ở
Nam Bộ và cả nước nói chung việc lưu giữ các văn bản bằng các bản khắc gỗ hoặc
dùng những chữ rời của Trung Quốc rồi sắp dưới dạng thủ công. Đến cuối thế kỷ XIX,
cùng với bước chân sang xâm lược, Pháp cũng đồng thời mang sang Sài Gòn những
máy in với kỹ thuật in hiện đại. Năm 1862, nhà in đầu tiên của chính quyền thuộc địa
được thành lập tại Sài Gòn là Impériale; đến 1864, nhà in

Nhà Chung, sau đổi là nhà

tác phẩm chữ Quốc ngữ. Nhiều nhà xuất bản lần lượt ra đời như: F.H.Schneider de
I’Union, Nguyễn Văn Viết, Xưa Nay, Bảo Tồn, Đức Lưu Phương, Tín Đức Thư Xã…đã
góp phần không nhỏ trong việc đưa tác phẩm đến độc giả và tạo động lực thúc đẩy các nhà
văn sáng tác.

1.2 Một số thành tựu:
1.2.1 Lực lượng sáng tác
Vùng đất Nam Bộ là vùng đất sanh sau đẻ muộn của Tổ quốc. Kể từ khi
Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng đất Thuận Hoá (khoảng tháng 2-1558) và mở mang
khu vực này thành một vùng phên dậu phía Nam Tổ quốc lo phòng thủ, chống chúa
Trịnh ở Thăng Long. Nhưng mãi đến đời chúa Sãi - Nguyễn Phước Nguyên mở rộng
dần thế lực về miền Nam thì khu vực này mới bắt đầu được khai sinh. Như vậy tính ra
miền Nam chỉ trải qua hai thế kỷ khai sanh lập địa. Tuy vậy, thành tựu văn học ở vùng
đất này không thể không đáng trân trọng. Ngay từ thế kỷ trước Nam bộ đã sản sinh ra
một đội ngũ trí thức Hán Nôm hùng hậu với: Mạc Thiên Tích, Trịnh Liên San, Lê Bá
Bình, Võ Trường Toản, Đặng Đức Truật, Chỉ Sơn Trịnh Hoài Đức, Nhử Sơn Ngô Gia
Tịnh, Kỳ Sơn Diệp Minh Phụng, Phục Sơn Vương Kế Sinh, Hối Sinh Huỳnh Ngọc
Uẩn, Lê Quang Định, Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt…Mặc
dù, số lượng không nhiều nhưng cũng đủ làm cho nền văn hoá Nam Bộ đậm đà bản
sắc dân tộc.
Đến những năm đầu thế kỷ XX, khi mà nền văn học Hán Nôm đang dần lùi
bước trước gót giày xâm lược và chính sách cai trị của thực dân, thì cũng chính vùng
- 17 -


đất này lại là cái nôi để dòng văn học Việt Nam hiện đại ươm mầm, nảy lộc. Chính lực lượng
trí thức - những đứa con được đẻ ra từ chế độ giáo dục của thực dân ở Nam Kỳ đã trở thành một lực lượng sáng tác mới đầy sức sống. Với sự tiếp xúc văn hoá phương Tây,
họ đã mạnh dạn tiếp thu cái mới trên nền tảng truyền thống để từng bước đưa nền văn học
dân tộc tiến trên con đường hiện đại hoá.
Nếu như ở cuối thế kỷ XIX, với những tác phẩm ghi lại những câu chuyện cổ


định, phê bình và đánh giá khi mà văn chương đã chính thức được thừa nhận như là một
cái nghề trong xã hội.

1.2.2 Lực lượng độc giả
Với những chính sách “khai thác thuộc địa”

về kinh tế, văn hoá, giáo dục của

Pháp trong những năm đầu thế kỷ XX đã gây cho Việt Nam nói chung, Nam Kỳ nói
riêng những biến động to lớn. Nhưng nó cũng đã vô tình tạo ra những điều kiện thuận
lợi cho dân tộc ta bước dần trên con đường hiện đại hoá. Đặc biệt là trên lĩnh vực văn
chương, khi mà một lực lượng dân chúng thành thị hùng hậu ra đời bên cạnh lực lượng
trí thức tân học. Chính lực lượng dân chúng thành thị là động lực mạnh mẽ để nhà văn
Nam Bộ tiến dần đến nền văn chương nôm na, bình dân. Họ không chỉ là đối tượng để
các nhà văn sáng tác và không chỉ là người chỉ biết tiếp nhận mà họ còn là người đề ra
những yêu cầu để các nhà văn điều chỉnh cách thức sáng tác của mình. Ta thấy đây là
giai đoạn mà rải rác trên các báo có những ý kiến đóng góp cũng như trao đổi giữa độc
giả với các tác giả. Đây cũng chính là động lực tiếp thêm sức mạnh để các nhà tiểu
thuyết Quốc ngữ không ngừng trao dồi “ngòi bút” của mình để tiểu thuyết trở thành
một món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống quần chúng độc giả. Các nhà văn
như được tiếp thêm sức mạnh khi mà tác phẩm của mình được độc giả đón nhận nồng
nhiệt. Có thể nói, tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ đã có được một lực lượng độc giả vô
cùng hùng hậu. Sự tiếp nhận đánh giá của họ chính là nơi để các nhà văn kiểm tra và
nâng cao năng lực, kỹ năng sáng tác của mình. Đồng thời, đó cũng là lực lượng đề ra
những yêu cầu để nhà văn mạnh dạn thay đổi quan điểm, tư tưởng cũng như phương
thức sáng tác phù hợp với hoàn cảnh thời đại mới.

1.3. Những đóng góp tiêu biểu của tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ ở những năm
đầu thế kỷ XX

gái tên Trịnh Phương Lang trong cơn hỏa hoạn đã bị lạc mất lúc sáu tuổi. Từ đó biệt
tích vắng tăm ngót đã 12 năm. Ông đăng báo tìm con nhưng lại bị bọn Lâm Trí Viễn
và Đào Phi Đáng nhờ thủ thuật tạo bết son giả của Cao Quấc Thủ đã âm mưu mạo
nhận Trịnh Phương Lang nhằm chiếm đoạt gia tài; trong Lòng người nham hiểm - câu
chuyện về gia đình quan Huyện Nguyễn Trọng Luận ở Vĩnh An Hà vốn “thanh liêm
cang trực, giàu chẳng sợ, khó chẳng khinh” vì muốn giúp bạn mà “bảo lãnh liên can”
chịu “biến mãi gia sản để trừ đủ số nợ 5000 đồng”, còn bạn ông là Phan Mẫn Đạt
đang buôn bán thuận lợi “chẳng dè vận thời điên đảo, phú quí tợ phù vân, một nhà
buôn vốn liếng ước 5, 3 muôn, mà trong giây phút hóa ra tro bụi”… Tất cả đếu phản
- 20 -


ánh khá trung thực một vài khía cạnh của hiện thực xã hội Nam Bộ những năm đầu thế kỷ
XX. Đó là xã hội buổi giao thời, đang trên con đường tư sản hóa đã làm đảo lộn cuộc
sống của nhiều gia đình, thay đổi nhiều thân phận nhất là đối với tầng lớp quan lại, trung
lưu - những đứa con còn sót lại của chế độ cũ.
Tác phẩm Ai lỗi lầm của Tuấn Anh thông qua mối tình của Cao Hoài Châu và Mười
Cầm, đã dựng lên bức tranh xã hội mà trong đó không ít những thanh niên chạy theo lối
sống Âu Tây, tự do luyến ái thái quá đã vày đạp lên luân thường đạo lí ngàn đời của tổ
tiên mà chẳng giúp ích gì cho đời.
Nguyễn Bửu Mộc với Mạng nhà nghèo đã dựng lên bức tranh nông thôn mà ở
đó cuộc sống của dân nghèo vô cùng cơ cực, bị khinh rẻ, ức hiếp thông qua gia đình
Năm Vạn - Thị Bần, còn bọn có quyền có thế như Hương chủ Phồn, Diệt Tộc, Hương
chánh Cò…độc ác, ỷ vào quyền thế mà chà đạp lên nhân nghĩa, khinh bạc kẻ nghèo
hèn. Trong Cô giáo Yến Hoa luỵ vì tình, tác giả đã miêu tả cuộc đời của Yến Hoa vì
những ham mê, đua đòi theo lối sống mới đã xô đẩy cô từ một tầng lớp trên xã hội
được trọng vọng xuống tận hố sâu tội lỗi. Qua đó, tác giả đã phản ánh hiện thực xã hội
khi mà lối sống Âu Tây đã làm không ít trí thức bị tuột dốc thảm hại về mặt đạo đức,
phẩm chất.
Nguyễn Ý Bửu với Cô Ba Tràh đã tao nên một bước đột phá mới khi nhân vật chính

Ai lỗi lầm - Tuấn Anh, Lỗi bước phong tình - Nguyễn Thành Long, Hổ thầm Nguyễn Bửu Mộc…), hãm hiếp (Chúa tàu Kim Quy - Hồ Biểu Chánh, Tình duyên
xảo ngộ - Phạm Minh Kiên…) và án mạng thường xuyên xảy ra trong các tác phẩm

Ta thấy, hiện thực cuộc sống hiện lên trong các tác tiểu thuyết Quốc ngữ Nam Bộ thật
sự phong phú, đa dạng và sinh động. Các tác giả đã đưa tất cả cảnh đời, hạng người với
những biến động, sự việc diễn ra trong cuộc sống vào trang sách của mình. Các tác giả đã
vạch trần mặt trái của xã hội với những tiêu cực - hệ quả của một xã hội trên con đường tư
sản hoá. Các tác giả không đặt ra vấn đề tìm phương cách để giải quyết nó mà chỉ muốn
dùng đạo lý để chấn chỉnh, sửa đổi để xã hội tốt hơn. Tuy vậy, ta không thể phủ nhận những
đóng góp to lớn của họ đối với nền văn học dân tộc buổi sơ khai. Họ đã từ bỏ những câu
chuyện tuồng tích ảnh hưởng từ Trung Quốc, với những tấm gương đạo đức chung
chung, những bậc kỳ nhân theo kiểu “Lê Huê pháp thuật, Kim Đính thần thông, Khương
Thượng phong thần, Thế Hùng tróc quỷ…” để thay vào đó là những con người Việt Nam
với những cảnh đời chân thực. Đây là một đóng góp mở đầu cho dòng văn học hiện thực
sau này.
- 22 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status