LUẬN VĂN:
Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo công tác đào
tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật người dân tộc
thiểu số từ năm 1996 đến 2004
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vấn đề dân
tộc là một trong những vấn đề có tính chiến lược của cách mạng và thực hiện chính
sách dân tộc với những nguyên tắc cơ bản là: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ
nhau cùng phát triển”. Biểu hiện của nguyên tắc đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH,
HĐH là việc tập trung xây dựng vùng dân tộc và miền núi phát triển nhanh về kinh tế,
văn hóa, xã hội, vững mạnh về chính trị, an ninh-quốc phòng, xứng đáng với vị trí
chiến lược đặc biệt quan trọng của cả nước.
Để đưa vùng dân tộc và miền núi phát triển nhanh và bền vững tiến kịp miền xuôi,
làm cho đồng bào DTTS được hưởng ngày càng đầy đủ hơn những quyền lợi về kinh tế,
chính trị, văn hóa thì vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải có đội ngũ cán bộ. Việt Nam
đang ở trong thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH do đó KHKT là một
nguồn lực quan trọng của sự nghiệp CNH, HĐH. Điều này khẳng định, vận hội cũng như
nguy cơ của vùng dân tộc và miền núi gắn liền với công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ
cán bộ DTTS nói chung và cán bộ KHKT người DTTS nói riêng đủ về số lượng đảm bảo
về chất lượng. Chính đội ngũ cán bộ này là lực lượng nòng cốt, hạt nhân đưa đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống, lãnh đạo đồng bào các
DTTS từng bước làm chủ quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Họ đem sự
hiểu biết KHKT của mình truyền bá rộng rãi cho đồng bào DTTS. Họ là những chiến sỹ
trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và KHKT; góp tài góp sức để cải tiến bộ mặt xã hội của
vùng đồng bào DTTS, làm cho đồng bào mình sản xuất và công tác theo khoa học và đời
sống của chính họ được văn minh. Cán bộ KHKT người DTTS còn là cầu nối giữa đảng
và dân, là một trong những “kênh” làm cho Đảng gắn bó với dân, gần gũi với dân. Vai trò
- PGS.TS. Trương Minh Dục (2005), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc
và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- GS.TS. Lê Hữu Nghĩa (2001), Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh
đạo chủ chốt cấp huyện người các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
- PTS. Danh Sơn (1999), Quan hệ giữa phát triển khoa học công nghệ với phát
triển kinh tế-xã hội trong CNH, HĐH ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Ủy Ban khoa học xã hội Việt Nam, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân ĐăkLăk (1990),
Vấn đề phát triển kinh tế xã hội các dân tộc thiểu số ở ĐăkLăk, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
- TS. Lê Phương Thảo, PGS, TS. Nguyễn Cúc, TS. Doãn Hùng (2005), Xây dựng
đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH - Luận cứ
và giải pháp, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
Một số luận văn, luận án chuyên ngành Triết học, Lịch sử có bàn đến nội dung của
đề tài:
- Trịnh Quang Cảnh (2002), Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong
công cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc), Luận án tiến sỹ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Phạm Ngọc Đại (2008), Quá trình lãnh đạo thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng bộ các tỉnh Nam Tây Nguyên từ năm 2001-2006, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Lê Nhị Hòa (2002), Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số trong hệ thống chính trị cấp cơ sở thời kỳ đổi mới (1986-2000), Luận văn
thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Phạm Đức Kiên (2006), Đảng lãnh đạo công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa
học, kỹ thuật ở miền Bắc 1960-1975, Luận văn thạc sỹ Lịch sử, Học viện Chính trị quốc
gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Tứ (1993), Mấy vấn đề chủ yếu của chính sách giáo dục và đào tạo
Nam, Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk về công tác đào tạo cán bộ KHKT người DTTS từ năm 1996
đến 2004.
- Phân tích và làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh ĐăkLăk chỉ đạo công tác đào
tạo cán bộ KHKT người DTTS thời kỳ 1996-2004.
- Nêu lên những thành tựu, hạn chế và tổng kết kinh nghiệm của Đảng bộ trong
quá trình lãnh đạo công tác đào tạo cán bộ KHKT người DTTS ở tỉnh ĐăkLăk thời kỳ
1996-2004.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Thời gian: Từ năm 1996 đến năm 2004.
Nội dung: Đường lối lãnh đạo và tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác đào tạo cán
bộ KHKT người DTTS.
Địa bàn khảo sát chủ yếu: 2 cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk là Trường Đại
học Tây Nguyên và Trường Cao đẳng Sư phạm; cán bộ KHKT người DTTS có trình độ
từ cao đẳng trở lên đang công tác tại các sở, ban, ngành, viện, trường, các tổ chức, đoàn
thể xã hội, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk (trừ các đơn vị lực lượng vũ trang).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về
chính sách dân tộc, cán bộ dân tộc và KHKT, cán bộ KHKT.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, kết hợp
với các phương pháp nghiên cứu khoa học liên ngành như thống kê, so sánh, đồng đại,
lịch đại, phân tích, tổng hợp …
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Giải đáp những vấn đề còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ
tỉnh ĐăkLăk về công tác đào tạo cán bộ DTTS và cán bộ KHKT người DTTS - Một vấn
đề chưa được nghiên cứu nhiều.
- Cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương, chính sách của
ĐăkLăk nằm ở trung tâm Cao Nguyên, với diện tích là 13.125 km2 và ở độ cao
trung bình là 500m so với mặt nước biển, trong đó diện tích đất lâm nghiệp có
1.019.847ha, đất nông nghiệp diện tích 28.906ha, đất trồng cây lâu năm 160.488ha và
hàng vạn hécta đồng cỏ, có nhiều cánh đồng cỏ chạy dài, nhiều đầm hồ rộng lớn (lớn
nhất là hồ Lăk với diện tích 750ha, hồ EaSoup với diện tích 400ha), Hệ thống sông suối ở
ĐăkLăk khá phong phú, lớn nhất là sông Sêrêpốc. Do đó, tiềm năng thủy điện cũng là
một thế mạnh của ĐăkLăk. Việc xây dựng các công trình thủy điện sẽ làm tăng sản lượng
điện, góp phần phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu trên địa bàn tỉnh theo hướng tăng
dần tỷ trọng công nghiệp, tạo tiền đề cho giao thông phát triển, giao lưu văn hóa xã hội, cải
thiện đời sống vật chất và tinh thần, tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho đồng bào các
dân tộc. Quan trọng nhất là nó mở ra cơ hội cho các dân tộc tiếp xúc với đời sống hiện đại và
dần từng bước xóa bỏ các thủ tục lạc hậu.
Vùng Cao Nguyên Buôn Ma Thuột và các khu vực phụ cận có địa hình tương đối
bằng phẳng, đất đai phì nhiêu. Diện tích đất đỏ bazan ở ĐăkLăk có hơn 704.000ha, có
diện tích rừng và đất rừng lớn nhất đất nước với 1.215.000ha (chiếm 62,2% diện tích đất
tự nhiên), có nhiều tài nguyên sinh vật phong phú, đa dạng như Vườn Quốc gia YokĐôn;
Với thế mạnh về tài nguyên đất đai, rừng, lâm sản, ĐăkLăk là vùng đất phù hợp cho phát
triển cây công nghiệp dài ngày, đặc biệt là các loại cây có giá trị xuất khẩu cao như cao
su, cà phê … chăn nuôi đại gia súc và kinh doanh tổng hợp nghề rừng.
Khí hậu ở ĐăkLăk tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 240C.
Lượng chiếu sáng dồi dào với cường độ tương đối ổn định, lượng mưa trung bình 1700 2000mm/ năm. Độ ẩm trung bình 81%, khí hậu phân thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11 chiếm trên 70% lượng mưa cả năm, thuận lợi cho sản xuất nông
nghiệp. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, độ ẩm giảm, gió đông bắc thổi mạnh từ cấp 4
đến cấp 6, lượng bốc hơi lớn gây ra khô hại nghiêm trọng. Vì vậy, yếu tố giữ và cấp nước
trong mùa khô có vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
ĐăkLăk là tỉnh còn trữ lượng lớn tài nguyên, khoáng sản chưa được khai thác
nhiều như: chì, vàng, sét cao lanh, than bùn, … nhưng đáng kể nhất là quặng bôxít tự
nhiên có trữ lượng khoảng 5,4 tỷ tấn với hàm lượng ôxít nhôm khoảng 35-40%, sét cao
điều đó đòi hỏi cần đầu tư xây dựng những nhà máy chế biến những sản phẩm đó ở dạng
tinh để xuất khẩu. Muốn làm được vậy cần quan tâm đến chính sách đào tạo và thu hút
những cán bộ KHKT về lĩnh vực này.
Xã hội Tây Nguyên nói chung và ĐăkLăk nói riêng là sự đan xen giữa những
yếu tố của xã hội truyền thống với hiện đại. Tính chất cư trú đan xen giữa các tộc người
là một hiện tượng phổ biến ở ĐăkLăk, nó không chỉ dừng lại ở cấp độ xã, phường, thị
trấn mà còn xuống tận các buôn, làng, thôn, xóm. Và kéo theo là sự đa dạng, phong phú
về phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, truyền thống với đầy đủ tính chất hai mặt
của nó. Như vậy, sự đa dạng về thành phần dân tộc, sự đan xen về địa bàn cư trú là một
nét nổi bật của các DTTS ở ĐăkLăk.
ĐăkLăk là một trong những tỉnh có số lượng thành phần dân tộc đông nhất nước.
Hiện ĐăkLăk có 44 dân tộc anh em chung sống, chiếm 29,5% tổng dân số cả tỉnh, trong
đó 19,31% là đồng bào DTTS tại chỗ (Êđê, M’Nông, GiaJai). Êđê dân tộc bản địa chiếm
tỷ lệ cao nhất là 14,8% so với các DTTS khác. Trong các DTTS ở nhiều vùng khác nhau
di cư vào thì dân tộc Tày, Nùng chiếm tỷ lệ lớn nhất gần 6%. Có 7 dân tộc có số dân trên
1 vạn người là Êđê, M’Nông, GiaJai, Tày, Nùng, Thái, Mường.
Khoảng cách về trình độ phát triển giữa các dân tộc tương đối cao. Một số dân tộc
đã đạt tới trình độ tiên tiến, nhưng vẫn còn một bộ phận vẫn còn mới chỉ vừa qua giai
đoạn canh tác, đốt, phát, chọc, trỉa. Chính vì vậy, sự phân hóa giữa các dân tộc thể hiện
rõ nét hơn sự phân hóa trong nội bộ từng dân tộc, rõ nét nhất là giữa dân tộc kinh với các
DTTS bản địa. Sự phân hóa đang có xu hướng tăng dần không chỉ giữa các dân tộc và
trong nội bộ một dân tộc, mà còn giữa các khu vực và các vùng trong tỉnh.
Đặc điểm này đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ KHKT người DTTS ở nhiều trình độ
khác nhau, nhiều tộc người khác nhau và phải có khả năng nhạy cảm với các vấn đề về
dân tộc và quan hệ dân tộc, biết giải quyết nhanh, đúng đắn, có hiệu quả trong quá trình
chuyển đổi từ thói quen sản xuất lạc hậu sang vận dụng KHKT vào sản xuất không
ngừng nâng cao hiệu quả của sản xuất tăng năng xuất lao động. Có thể nói đây là một yêu
cầu không thể thiếu được đối với người cán bộ KHKT là người DTTS ở ĐăkLăk.
tập quán được miêu tả cụ thể và sinh động bằng những lời văn vần xúc tích, trau chuốt và
mang tính nghệ thuật cao. Các Sử thi thường được kể trong các lễ hội cầu chúc sức khỏe,
lễ cơm mới, các lễ hội sau mùa gặt hái … phản ánh khát vọng tự do của con người hướng
về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn dân tộc; về ý thức cộng đồng buôn làng. Các nội dung
này có ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ, hình thành mối quan hệ giữa
con người với con người, giữa con người với thiên nhiên một cách hài hòa, góp phần
trong việc tạo dựng phẩm chất khoan dung, sự đoàn kết gắn bó và tính cộng đồng bền
chặt xây dựng quê hương giàu đẹp hơn.
Người Êđê theo chế độ mẫu hệ, con cái tính theo dòng mẹ, lấy họ mẹ. Trong cuộc
sống gia đình, vai trò của người phụ nữ trở thành chính yếu, từ việc nắm giữ kinh tế, nuôi
dạy con cái, tổ chức cuộc sống, còn người đàn ông chỉ lo nương rẫy. Chính sự phân công
xã hội từ bản sắc văn hóa cộng đồng này đã ảnh hưởng đến nhân cách của người DTTS
hiện nay theo hai chiều: tâm lý tự ti thụ động. Mặt khác, tuy người vợ có vị thế quan
trọng trong gia đình nhưng trong quan hệ xã hội thì người đàn ông vẫn giữ vị trí quan
trọng. Cho nên nam giới vẫn dễ thoát ly, nữ giới vẫn dễ bị cột chặt vào công việc gia
đình, dòng họ. Thực tế này đã ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ người
DTTS.
Sống trong một xã hội mà ý thức cộng đồng bao giỡ cũng là tính trội so với ý
thức sống và làm việc theo pháp luật; những tàn tích của gia đình mẫu hệ vẫn còn tồn
tại; những thói quen và tập tục lạc hậu từ ngàn đời vẫn níu kéo con người làm cho
người cán bộ DTTS bàng quang trước cái mới và ngại thay đổi.
Yếu tố xã hội truyền thống này ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân
cách, tâm lý của người cán bộ DTTS, chỉ dừng lại ở tư duy trực quan, cảm tính mà không
vươn tới tư duy lý luận, tư duy khoa học, làm cho năng lực cá nhân chưa được phát triển
một cách đầy đủ.
ĐăkLăk chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm tình hình của một địa bàn miền
núi, biên giới, nơi có nhiều thành phần dân tộc và tôn giáo đang hoạt động; là địa bàn tập
trung đầy đủ các yếu tố về dân tộc, tôn giáo, biên giới hết sức phức tạp và nhạy cảm.
giờ hết trong những hoàn cảnh có vấn đề đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có bản lĩnh chính
trị vững vàng, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh ĐăkLăk vốn rất phức tạp bởi âm mưu diễn
biến hòa bình của các thế lực thù địch.
Tất cả những vấn đề trên cho thấy, cùng với việc học tập, nâng cao trình độ
chuyên môn trong nhà trường thì việc giữ vững bản lĩnh chính trị, không ngừng rèn luyện
tu dưỡng đạo đức và tư cách có ý nghĩa hết sức quan trọng để đội ngũ cán bộ KHKT
người DTTS ở ĐăkLăk đủ sức vươn lên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng đặt ra.
Những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh ĐăkLăk là
cơ sở thực tiễn của một trong năm tỉnh ở Tây Nguyên để Trung ương Đảng đề ra đường
lối lãnh đạo khu vực Tây Nguyên phát triển bền vững và ổn định chính trị.
1.2. CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO
CÁN BỘ KHOA HỌC-KỸ THUẬT NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
Sự phát triển của lịch sử nhân loại đã và sẽ tiếp tục chứng minh KHKT luôn chứa
đựng trong bản thân nó một sức mạnh tiềm tàng, KHKT có thể mang lại cho con người
những lợi ích to lớn, song cũng có thể đặt con người trước những nguy cơ, hiểm họa
khôn lường. Mác đã từng nhấn mạnh đến những hậu quả, đặc biệt là về mặt xã hội do sự
phát triển của KHKT dưới chủ nghĩa tư bản mang lại. Ngày nay, khi phải đối mặt với
những hậu quả do sự lạm dụng KHKT vì những toan tính vụ lợi, ích kỷ của con người
gây ra như ô nhiễm môi trường sống, ngộ độc thực phẩm, bệnh tật … chúng ta càng cảm
nhận rõ hơn chiều sâu trong tư tưởng của Mác về vấn đề này. Hơn lúc nào hết, trong thời
đại ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ cần phải có
đội ngũ cán bộ KHKT để biến sức mạnh tiềm tàng vốn có của KHKT thành hiện thực
phục vụ cho cuộc sống của con người đồng thời chính họ cũng là những người tham gia
vào công việc ngăn ngừa, khắc phục những hiểm họa mà chính KHKT tạo ra.
Kế thừa những tư tưởng của Mác và Ăngghen, sau khi giành được chính quyền, để
đáp ứng được yêu cầu của công cuộc bảo vệ và xây dựng CNXH, và trong sự nghiệp
công nghiệp hóa XHCN, một nhiệm vụ rất mới mẻ đặt ra trước công nhân và Đảng của
giai cấp công nhân đó là nhiệm vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế nhằm xây dựng
Xôviết vững mạnh. Tuy nhiên, Lênin chưa đề cập rõ nét về việc đào tạo đội ngũ trí thức
DTTS chính là tạo điều kiện để các dân tộc vượt lên thực hiện quyền bình đẳng.
Bình đẳng dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh có 3 cấp độ: bình đẳng giữa các
quốc gia dân tộc; bình đẳng giữa dân tộc đa số và các DTTS, bình đẳng giữa các DTTS
với nhau trong một quốc gia đa dân tộc; bình đẳng giữa các cá nhân, giữa các công dân,
giữa các thành viên trong xã hội, không phân biệt nam hay nữ, giàu hay nghèo, địa vị cao
hay thấp trong xã hội …
Hồ Chí Minh coi thời đại của chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa
là thời đại của khoa học phát triển mạnh, thời đại XHCN. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ nhất của Hội nghị phổ biến KHKT Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
không phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm
nâng cao năng xuất lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, đảm bảo
cho CNXH thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nhiệm vụ giáo dục
KHKT cho nhân dân, coi việc cung cấp tri thức KHKT là một nội dung cơ bản của giáo
dục. Người quan tâm đến việc tập hợp trí thức, trọng dụng nhân tài, chăm lo xây dựng,
phát triển đội ngũ cán bộ KHKT. Bởi vì, theo Người muốn phát triển văn hóa thì phải cần
thầy giáo, muốn phát triển sức khỏe của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát
triển kỹ nghệ phải cần các kỹ sư. Chính vì thế, Người đã khẳng định một cách dứt khoát
rằng, cách mạng XHCN phải gắn liền với sự phát triển của KHKT, với sự phát triển văn
hóa của nhân dân; đồng thời tin tưởng rằng, CNXH cộng với khoa học chắc chắn sẽ
mang lại cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho dân tộc Việt Nam nói chung và cho đồng bào
các DTTS nói riêng.
Để cho đồng bào DTTS có cuộc sống ấm no, Hồ Chí Minh khẳng định phải làm
cho miền núi tiến kịp miền xuôi, Người chỉ rõ Đảng và Chính phủ phải có kế hoạch dài
hạn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở miền núi. Đồng bào miền xuôi phải giúp đỡ đồng
bào miền núi. Đồng thời các DTTS cũng phải không ngừng vươn lên. Động viên đồng
bào miền núi tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm. Xây dựng hệ thống giao thông, liên
lạc thuận lợi hơn. Phát triển nông nghiệp toàn diện, tùy theo điều kiện của từng địa
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước thống nhất của
các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính
sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc; nghiêm cấm mọi hành vi
kỳ thị, chia rẽ dân tộc … Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt,
từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS [25, tr.
255-256].
Để chính sách dân tộc thực sự đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực, Đảng ta đã có
nhiều nghị quyết, chỉ thị, đề cập đến việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng có hiệu quả đội
ngũ cán bộ DTTS.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, ngày 27/ 11/
1989 và Quyết định 72 của Hội đồng bộ trưởng, ngày 13/ 3/ 1990 đều đề cập đến vấn đề
đào tạo, bồi dưỡng và các chính sách đối với đội ngũ cán bộ DTTS. Để thực hiện trên
thực tế quyền bình đẳng, giữa các dân tộc, một mặt pháp luật phải bảo đảm quyền bình
đẳng đó, mặt khác phải có chính sách và tạo điều kiện để nhân dân các dân tộc miền núi
vươn lên mạnh mẽ, phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao năng xuất lao động,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, coi trọng đào tạo cán bộ người dân
tộc; tôn trọng và phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của
các dân tộc. Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi dân tộc phát
huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc khác và góp
phần phát triển văn hóa chung của cả nước.
Ngày 16/ 5/ 1994, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 37/ CT-TW, Chỉ thị
nêu cụ thể: Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT, kinh tế, pháp luật, hành chính, quản
lý nhà nước … cán bộ nữ, dân tộc ít người, tôn giáo, vùng sâu, vùng xa. Trong các trường
đại học cần xây dựng một số trường đại học và một số ngành trọng điểm có đủ năng lực
đào tạo được các nhà khoa học và kỹ thuật giỏi cho đất nước.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996) của Đảng đã xác định
phương hướng đến năm 2000 trong việc thực hiện chính sách dân tộc của đảng là, bằng
nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, phải thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xóa
cũng tính đến hiệu quả của việc sử dụng đội ngũ cán bộ được đào tạo và từ khâu sử dụng
cán bộ cũng là cơ sở để hoạch định chiến lược phát triển giáo dục về các lĩnh vực chuyên
môn cần chú ý đào tạo cho trước mắt cũng như lâu dài: “Giải quyết tốt mối quan hệ giữa
đào tạo với sử dụng. Xây dựng đội ngũ trí thức đồng bộ về các lĩnh vực khoa học và công
nghệ” [18, tr. 109]
Hội nghị Trung ương lần thứ Hai khóa VIII của Đảng cũng đã nhấn mạnh đến việc
nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự cường phát huy cao độ trí tụê và nguồn lực nội
sinh, lấy phát triển GDĐT, khoa học và công nghệ làm yếu tố cơ bản coi đó là then chốt
đột phá để tiến hành CNH, HĐH đất nước. Thực tế đã chứng minh rằng, khoa học và
công nghệ muốn phát triển là do con người, do đội ngũ trí thức. Con người được GDĐT
sẽ là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội. Khoa học công nghệ đã đưa GDĐT lên vị
trí chiến lược trong sự nghiệp CNH, HĐH ở mỗi quốc gia. Chính vì vậy, xu thế đi lên
bằng giáo dục, bằng khoa học công nghệ đã và đang trở thành xu thế của thời đại.
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phát triển
kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa số 135, ngày
31/ 7/ 1998 chỉ rõ nhiệm vụ của chương trình 135 là phải đào tạo cán bộ xã, bản, làng,
phum, sooc, giúp cán bộ cơ sở nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế để
phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. Nhà nước sẽ có chính sách
phát triển nguồn nhân lực như hỗ trợ kinh phí để mở lớp dạy nghề cho con em đồng
bào dân tộc nhằm khai thác tiềm năng tại chỗ, phát triển các ngành nghề phi nông
nghiệp, tăng thu nhập, nâng cao đời sống.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy
tính tích cực sáng tạo, tính dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ. Đổi mới
chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài”. Về
công tác cán bộ, Đại hội IX tiếp tục khẳng định quan điểm đổi mới mà Đại hội VI, VII,
VIII đã nêu và nhấn mạnh, có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài và làm tốt công tác quy hoạch và
tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ nữ và cán bộ các DTTS, chuyên gia trên các lĩnh vực.
Nghị quyết Trung ương Hai khóa VIII đã khẳng định: ưu tiên phát triển giáo dục ở vùng
sâu, vùng xa, vùng DTTS. Chú trọng đào tạo cán bộ vùng dân tộc (cán bộ đảng, chính
quyền, đoàn thể từ bản, ấp trở lên và cán bộ KHKT). Củng cố và tăng cường hệ thống
trường nội trú, bán trú cho học sinh DTTS; từng bước mở rộng quy mô tuyển sinh, đáp
ứng yêu cầu đào tạo toàn diện đi đôi với cải tiến chính sách học bổng cho học sinh các
trường này. Thực hiện chế độ miễn phí học tập, cung cấp sách giáo khoa cho học sinh
vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS. Thực hiện tốt chính sách cử tuyển, đào tạo
theo địa chỉ đối với vùng DTTS, vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn. Có chính sách bổ
túc kiến thức cần thiết cho số học sinh DTTS đã tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc
trung học cơ sở mà không có điều kiện học tiếp để các em trở về địa phương tham gia
công tác ở cơ sở.
Kết luận số 14 còn khẳng định việc hình thành hệ thống trường đào tạo kỹ thuật
thực hành với nhiều trình độ, đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số trường đại học, trường
dạy nghề trọng điểm. Tiếp tục sắp xếp, củng cố mạng lưới các trường, nhất là các trường
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đẩy nhanh cơ sở xây dựng Đại
học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, một số trường trọng
điểm khác đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ.
Từ năm 2002 thực hiện chính sách giáo dục đối với con em là người DTTS ở Tây
Nguyên là: Miễn đóng góp xây dựng trường, học phí, hỗ trợ sách giáo khoa và giấy vở
học tập. Nhà nước chi phí toàn bộ tiền ăn ở, học tập cho học sinh DTTS tại các trường
dân tộc nội trú. Đối với con em thuộc diện học ở trường nội trú nhưng không ở nội trú mà
tham dự học ở các trường công lập, bán công thì được cấp học bổng bằng 50% số học
bổng nội trú. Thực hiện chính sách cử tuyển và sử dụng con em đồng bào dân tộc đi đào
tạo nghề, học trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, ưu tiên các đối tượng tự
nguyện đi học trở về quê hương công tác. Các cấp chính quyền phải có kế hoạch đào tạo
và sử dụng, bố trí người dân tộc tại chỗ có đủ điều kiện vào làm việc ở các cơ quan nhà
nước, tổ chức đoàn thể, chính trị-xã hội ở địa phương. Từng bước tiến tới đại bộ phận cán
bộ làm công tác y tế, GDĐT ở nông thôn vùng đồng bào dân tộc là người DTTS. Đặc
sản xuất cho Tây Nguyên.
GDĐT cũng đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của Tây Nguyên do đó, cần
phải xây dựng các trung tâm dạy nghề đào tạo ngắn hạn và các trường đào tạo nghề cho
thanh niên DTTS và phải đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức thích hợp; sắp xếp, bố
trí, sử dụng và tạo điều kiện cho cán bộ người DTTS tại chỗ đảm nhận tốt trách nhiệm
trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh.
Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Bảy khóa IX,
khẳng định:
Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh - quốc
phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải
quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển,
bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ DTTS, giữ gìn và
phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các DTTS trong sự
nghiệp phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam thống nhất [4, tr.
44]
Để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc và sự phát triển đồng đều giữa các vùng
miền trong cả nước nên Đảng đã chủ trương:
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế-xã hội các vùng dân tộc và miền núi,
khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền
vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của
đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của trung ương
và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước [4, tr. 44, 45]
Để phát triển kinh tế-xã hội ở các vùng dân tộc và miền núi bền vững phải có
chiến lược về công tác cán bộ, Hội nghị cũng khẳng định thực hiện tốt công tác quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS cho từng vùng, từng dân
tộc. Trong những năm trước mắt cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm
chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an
ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo để bổ sung cán bộ cho cơ sở từ