Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng và hiệu quả khai thác hệ thống đường GTNT trong chương trình nông thôn mới huyện Định Hóa – Thái Nguyên - Pdf 33

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI

NGUYỄN CÔNG TÂM

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
XÂY DỰNG VÀ HIỆU QUẢ KHAI THÁC HỆ THỐNG
ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NÔNG THÔN MỚI
HUYỆN ĐỊNH HÓA – THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG ÔTÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ

MÃ SỐ: 60.58.02.05.01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN QUANG PHÚC

Hà Nội - 2015


2

LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập, nghiên cứu, với sự giúp đỡ của các thầy cô Trường
Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sỹ Khoa
học Kỹ thuật “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả khai thác
hệ thống đường giao thông nông thôn trong chương trình nông thôn mới huyện
Định Hóa – Thái Nguyên”;
Với tình cảm chân thành, Tôi xin bày tỏ lòng cám ơn đến Ban giám hiệu,



5

DANH MỤC HÌNH VẼ


6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ĐƯỢC DÙNG TRONG LUẬN VĂN
GTNT
GTVT
KCAĐ
BTN
BTXM
CPĐD
QL
WB
ADB
TPCP
TCN
TDMN
PB
CVĐC
GTSX
KT-XH
GDP
QLDA

Giao thông nông thôn

có cầu phải vượt bằng đường tràn; Phần lớn các tuyến đường đều thiếu hệ thống
rãnh dọc kiên cố, cống thoát nước ngang, ở các Xã miền núi về mùa mưa nền
mặt đường hay bị xói lở, trôi đứt đường; Đường thôn bản chủ yếu là đường nhỏ
hẹp (
trợ cho khu vực nông thôn của các thành phần kinh tế quốc doanh và tư nhân.
Đối tượng hưởng lợi ích trực tiếp của hệ thống giao thông nông thôn sau khi xây
dựng mới, nâng cấp là người dân nông thôn, bao gồm các nhóm người có nhu
cầu và ưu tiên đi lại khác nhau như nông dân, doanh nhân, người không có
ruộng đất, cán bộ công nhân viên của các đơn vị phục vụ công cộng làm việc ở
nông thôn…
Cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn bao gồm:
+ Mạng lưới đường giao thông nông thôn: đường huyện, đường xã và đường
thôn xóm, cầu cống, phà trên tuyến;
+ Đường sông và các công trình trên bờ;
+ Các cơ sở hạ tầng giao thông ở mức độ thấp (các tuyến đường mòn, đường đất
và các cầu cống không cho xe cơ giới đi lại mà chỉ cho phép nguời đi bộ, xe đạp,


10

xe máy .vv đi lại). Các đường mòn và đường nhỏ cho người đi bộ, xe đạp, xe
thồ, xe súc vật kéo, xe máy và đôi khi cho xe lớn hơn, có tốc độ thấp đi lại là
một phần mạng lưới giao thông, giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển
hàng hoá đi lại của người dân.
Đường GTNT không chỉ là sự dịch chuyển của người dân nông thôn và
hàng hoá của họ mà còn là phương tiện để cung cấp đầu vào sản xuất và các
dịch vụ hỗ trợ cho khu vực nông thôn của các thành phần kinh tế quốc doanh và
tư nhân. Đối tượng hưởng lợi của của hệ thống đường GTNT sau khi nâng cấp
là người dân nông thôn, bao gồm các nhóm người có nhu cầu và ưu tiên đi lại
khác nhau, như nông dân, doanh nhân, phụ nữ, những người không có ruộng đất.
Chính vì vậy để quản lý hiệu quả tiểu ngành GTNT đòi hỏi phải có sự hoà
nhập với hệ thống giao thông cấp cao hơn (đường tỉnh, quốc lộ) cũng như gắn
liền với công tác quy hoạch và triển khai các đầu vào từ cấp cao hơn cấp huyện.
Sự vận chuyển trong phạm vi một huyện, với trung tâm huyện là trung tâm của

với xã hội, để xóa bỏ rào cản giữa thành thị và nông thôn, rút ngắn khoảng cách
phân hóa giàu nghèo và góp phần mang lại cho nông thôn một bộ mặt mới, tiềm
năng để phát triển.
Nông dân và nông thôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, ở nước ta trên 75% dân số sống ở nông thôn với 73% lực lượng lao
động làm việc, sinh sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông lâm ngư nghiệp, sản
phẩm nông nghiệp trong nước là nguồn cung cấp lương thực thực phẩm cho tiêu
dùng, tạo nguyên liệu cho nền sản xuất công nghiệp, cung cấp trực tiếp và gián
tiếp cho các ngành kinh tế khác phát triển, tạo sự ổn định, đảm bảo sự bền vững
cho xã hội phát triển. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn phát triển, do điều kiện và
bối cảnh khác nhau vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông thôn cũng dần thay đổi
và xuất hiện những yếu tố mới. Giai đoạn tới nông nghiệp, nông thôn trong cả
nước sẽ được mở rộng và nâng cao hơn so với trước, nhằm đảm bảo an ninh
lương thực, cung cấp các dịch vụ cơ bản, giúp duy trì lạm phát ở mức thấp cho
nền kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống tối thiểu cho người lao động,
kiểm soát môi trường và sinh thái.


12

Đứng trước yêu cầu phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước chủ trương xây
dựng một nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, đồng thời xây dựng nông thôn
mới có kết cấu hạ tầng hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển công nghiệp, lấy nông dân là vị trí then
chốt trong mọi sự thay đổi cần thiết, với ý nghĩa phát huy nhân tố con người,
khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông
thôn mới.
Thực tiễn đã ghi nhận sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong
thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông

dựa vào cộng đồng của WB, Chương trình giảm nghèo Miền trung của ADB hay
Giao thông nông thôn của Ngân hàng thế giới WB); vốn huy động của doanh
nghiệp, tín dụng và của cộng đồng nhân dân. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và
đầu tư, các ngồn vốn đầu tư cho giao thông nông thôn trong 10 năm qua ước
tính khoảng 170.000-180.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chiếm
khoảng 70% tổng nguồn vốn được huy động; vốn huy động từ cộng đồng, doanh
nghiệp chiếm khoảng 10-15% tổng nguồn vốn, kể cả việc huy động từ đóng góp
của cộng đồng dân cư để đầu tư; ngoài ra các địa phương còn huy động từ các
nguồn khác như thu phí sử dụng đất, thu sổ số kiến thiết… Chỉ tính riêng giai
đoạn 2003 đến năm 2010, cả nước đã đầu tư 749 dự án đường giao thông đến
trung tâm xã trên địa bàn các xã nông thôn, miền núi thuộc các vùng: Trung du
và miền núi Bắc bộ; đồng bằng sông Hồng; duyên hải miền Trung; Tây nguyên;
Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu long với tổng mức đầu tư các dự án đầu
tư đường ô tô đến trung tâm xã cả giai đoạn được các địa phương phân bổ vốn
TPCP là 32.951 tỷ đồng, các địa phương cũng đã chủ động lồng ghép các nguồn
vốn khác trên địa bàn để thực hiện.
1.2.2. Những tồn tại, bất cập và thách thức của cơ sở hạ tầng giao thông nông
thôn
Tuy có sự phát triển mạnh mẽ những năm vừa qua song cơ sở hạ tầng
giao thông nông thôn vẫn còn những tồn tại, bất cập và thách thức:
Xét về mạng lưới: Hiện nay trên cả nước có trên 295046km đường bộ,
trong đó hệ thống giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã, đường thôn)
chiếm tới 85%. Nếu xét trên diện rộng, mật độ giao thông nông thôn trên cả
nước còn thấp (0,59km/km2); trong đó mật độ đường huyện chỉ là 0,14km/km2
với tỷ trọng 0,55km/1000 dân; đường xã là 0,45km/km2 và 1,72km/1000 dân.
Tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, mật độ này có cao hơn (khoảng


15



16

nông thôn theo chủ trương của Đảng, Nhà nước thì những vấn đề kiện toàn công
tác quy hoạch, thu hút nguồn lực đầu tư, xây dựng phát triển giao thông nông
thôn; xây dựng hệ thống quản lý từ trung uơng tới địa phương; thực hiện thường
xuyên công tác bảo trì cần phải được đặc biệt chú trọng trong giai đoạn 2011 –
2020.
Về Quy hoạch: Các địa phương rà soát cập nhật quy hoạch phát triển giao
thông vận tải của mình cần chú ý tới quy hoạch giao thông nông thôn;
Về đầu tư phát triển phải xác định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao
thông nông thôn phải đi trước một bước trong xây dựng nông thôn mới, hiện đại
hóa nông thôn. Nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn
cần được huy động và ưu tiên từ nhiều nguồn khác nhau: ngân sách nhà nước
Trung ương và địa phương, vốn ODA, ngoài ra sẽ tích cực huy động từ người
dân, các doanh nghiệp khai thác quỹ đất; tích cực vận động nhân dân hiến đất
làm đường mới và mở rộng đường cũ, nhân rộng mô hình nhà nước hỗ trợ vật
tư, vật liệu, nhân dân đóng góp công sức; sử dụng tư vấn giám sát cộng đồng.
Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cần được ưu tiên để hoàn thành các đường ô tô
tới các trung tâm xã hiện đang khó khăn, bị chia cắt; các khoản vay ODA lớn
cần tập trung chú trọng vào các dự án hạ tầng có quy mô lớn, hiện đại và đồng
bộ hỗ trợ phát triển kinh tế cho tỉnh hoặc cả một vùng.
Công tác quản lý bảo trì đường giao thông nông thôn cần được chú trọng.
Trước hết, phân cấp công tác quản lý duy tu, bảo trì đường cần được thiết lập và
phải có đơn vị đầu mối trong quản lý bảo trì đường nông thôn. Nhanh chóng đưa
vào danh mục cân đối, bố trí ngân sách cho công tác quản lý bảo trì từ nguần
ngân sách địa phương. Khi Quỹ bảo trì đường bộ có hiệu lực dự kiến 35%
nguồn tài chính thu được từ Quỹ này sẽ phân bổ cho các địa phương nên phần
nào sẽ tháo gỡ khó khăn cho các tỉnh, thành phố. Để công tác quản lý giao thông
nông thôn ngày càng sát với thực tế, có sự theo dõi cập nhật một cách có hệ

hóa xã hội góp phần thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển giao thông nông
thôn đến năm 2020, tầm nhìn 2030 tại Việt Nam.


18

1.3 Kinh nghiệm phát triển đường GTNT của các nước
1.3.1. Ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước nông nghiệp lâu đời, đất rộng người đông, dân số
trên 1 tỷ người, trong đó nông dân chiếm trên 80%. Đơn vị cơ sở ở nông thôn
Trung Quốc là làng hành chính và toàn quốc có trên 800.000 làng hành chính,
mỗi làng có từ 800 đến 900 dân sinh sống. Trong quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá việc phát triển các cộng đồng nông thôn có ý nghĩa rất quan trọng với
Trung Quốc.
Tổ chức Công xã nhân dân là hình thức làm ăn tập thể của nông dân dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hình thức này đã tồn tại 20 năm
từ cuối những năm 50 đến cuối năm 70 của thế kỉ. Ruộng đất, các phương tiện
sản xuất và của cải làm ra đều là sở hữu tập thể.
Những năm đầu thập kỉ 80, hệ thống kinh tế nông hộ thay cho hệ thống
Công xã nông dân. Đây thực sự là cuộc cách mạng của nông thôn thay phương
châm mọi người vì tập thể thành mọi người làm việc cho gia đình mình. Sức lao
động được giải phóng và nông dân được khuyến khích làm giàu, các mô hình
công nghiệp nông thôn đã phát triển rầm rộ, ưu điểm của mô hình phát triển
công nghiệp nông thôn là sự tiếp nhận công nghiệp mà tránh được sự tập trung
dân ở các thành phố và khu công nghiệp, người nông dân có thời cơ làm giàu
nhanh chóng. Nông thôn phát triển mạnh, mức sống người dân nông thôn thành
thị xích lại gần nhau hơn.
Do đất rộng người đông, công nghiệp nông thôn phát triển nên mạng lưới
GTNT ở Trung Quốc có tác dụng rất lớn. Nhưng do vốn đầu tư có hạn, Nhà
nước đã phát động phong trào toàn dân làm giao thông, sử dụng một cách khoa

đường giao thông phát triển hợp lí và có khả năng đẩy nhanh sự phát triển kinh
tế xã hội đưa đất nước tiến lên. Mặt khác, muốn giảm bớt sự di dân hàng loạt từ
các vùng nông thôn vào đô thị, ngăn cản sự lớn lên quá mức của thành phố nhất
thiết phải công nghiệp hoá nông thôn. Công nghiệp hoá nông thôn còn mang lại
sự thay đổi lối sống nông thôn truyền thống sang lối sống văn minh đô thị, thành
thị hoá nông thôn.


20

1.4 Tiêu chuẩn quốc gia về đường giao thông nông thôn – yêu cầu thiết kế
TCVN 10380:2014 do Tổng cục Đường bộ Việt Nam biênsoạn, Bộ Giao
thông Vận tải đề nghị, Tổng Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định,
Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
Phạm vi thiết kế
a) Tiêu chuẩn TCVN 10380:2014 quy định các yêu cầu về thiết kế xây
dựng mới, cải tạo và nâng cấp đường giao thông nông thôn (GTNT).
b) Khi thiết kế đường giao thông nông thôn có liên quan đến các công trình
khác, ngoài việc áp dụng TCVN 10380:2014 cần phải tuân theo các quy định
hiện hành về các công trình đó.
Quy định khi thiết kế
a) Yêu cầu chung khi thiết kế đường GTNT không chỉ tuân theo đầy đủ các
quy định trong TCVN 10380:2014 mà phải thỏa mãn các yêu cầu sau đây:
Đáp ứng yêu cầu trước mắt và có xét tới định hướng phát triển bền vững,
lâu dài nhiều mặt về kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường của địa phương;
Phải xét đến phương án phân kỳ đầu tư để khi nâng cấp cải tạo tận dụng
được tối đa các công trình cầu cống đã phân kỳ. Khi thực hiện phương án phân
kỳ phải xét đến việc dự trữ đất dùng cho công trình hoàn chỉnh sau này;
Kết hợp chặt chẽ mạng lưới giao thông với quy hoạch tưới tiêu của thủy
lợi, hệ thống đường dây tải điện, thông tin hữu tuyến.

dài toàn
xe, m

Xe con
Xe tải

Khoảng

Chiều
rộng

Chiều

phủ bì,

cao, m

6,0
12,00

m
1,8
2,50

2,0
4,00

Nhô về
phía




22

Loại xe

Hệ số quy đổi,

Xe đạp
Xe máy
Xe con

Kqđ
0,2
0,3
1,0

Xe trung

1,5

Xe cỡ lớn

2,0

Chú thích
Xe đạp 2 bánh
Các loại xe đạp điện, mô tô, xe máy
Xe dưới 19 chỗ và tải trọng dưới 2000 Kg
Xe 19 chỗ trở lên và tải trọng 2000 Kg ÷ 7000


Năm tương lai.

Dựa vào khối lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách yêu cầu trong
năm tương lai (n). Trên cơ sở khối lượng hàng hóa, hành khách yêu cầu trong
năm tương lai sẽ phân bổ cho các loại xe (theo kinh nghiệm và truyền thống của
sử dụng phương tiện của địa phương) để quy đổi ra lưu lượng xe thiết kế. Nếu
khối lượng vận chuyển hàng hóa tập trung theo mùa trong năm, lưu lượng xe
thiết kế được nhân thêm hệ số theo mùa vận chuyển (Km = 1,3).
(Khi không có điều kiện để thực hiện có thể tham khảo ở Bảng 4).
d) Tốc độ thiết kế và tải trọng trục tiêu chuẩn thiết kế các công trình trên đường
đối với các cấp đường GTNT được quy định ở Bảng 3.
Bảng 1.3 - Tốc độ thiết kế và tải trọng trục tiêu chuẩn thiết kế các công trình
trên đường đối với các cấp đường GTNT
Cấp kỹ thuật của

Tốc độ xe chạy

Tải trọng trục xe

Kiểm toán đối với

đường

thiết kế, Km/h

thiết kế, Kg

xe vượt tải có tải



thuật theo

thuật của

xe thiết kế

TCVN

đường theo

(Nn), xqđ/nđ

4054:200

TCVN

5

10380:201


24

4
Đường huyện có vị trí quan trọng đối với sự

Cấp IV,

phát triển kinh tế - xã hội của huyện, là cầu nối


-

C

< 50

chuyển tiếp hàng hóa, hành khách từ hệ thống
đường quốc gia (quốc lộ, tỉnh lộ) đến trung tâm
hành chính của huyện, của xã và các khu chế
xuất của huyện; phục vụ sự đi lại và lưu thông
hàng hóa trong phạm vi của huyện.
Đường xã có vị trí quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của xã, kết nối và lưu
thông hàng hóa từ huyện tới các thôn, làng, ấp,
bản và các cơ sở sản xuất kinh doanh của xã.
Đường xã chủ yếu phục vụ sự đi lại của người
dân và lưu thông hàng hóa trong trong phạm vi
của xã.
Đường thôn chủ yếu phục vụ sự đi lại của
người dân và lưu thông hàng hóa trong trong
phạm vi của thôn, làng, ấp, bản; kết nối và lưu
thông hàng hóa tới các trang trại, ruộng đồng,
nương rẫy, cơ sở sản xuất, chăn nuôi.
Đường dân sinh chủ yếu phục vụ sự đi lại của
người dân giữa các cụm dân cư, các hộ gia đình
và từ nhà đến nương rẫy, ruộng đồng, cơ sở sản
xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ... Phương tiện giao

Không có xe


25

trồng cây công nghiệp; cánh đồng mẫu lớn;

chiếm trên

đồng muối; làng nghề; trang trại và các cơ sở

10%

tương đương.
1.4.3 Thông số kỹ thuật của đường
a) Yêu cầu cơ bản của thiết kế tuyến đường:

Các tuyến đường sử dụng hợp lý địa hình, vận dụng chính xác các tiêu
chuẩn mặt cắt ngang, bình đồ và mặt cắt dọc để tiến hành thiết kế, khi điều kiện
cho phép nên cố gắng sử dụng chỉ tiêu kỹ thuật cao.
Tuyến đường thiết kế cần duy trì cân bằng sinh thái, chú ý đến bảo vệ môi
trường, chú ý phối hợp giữa các môi trường địa phương và cảnh quan, hạn chế
giải phóng mặt bằng nhà ở và đất nông nghiệp, không xâm phạm phạm vi di tích
lịch sử và gây thiệt hại đến hiện vật lịch sử của địa phương theo quy định hiện
hành.
Khi qua các thị trấn và các khu định cư đông đúc, tuyến đường nên đi ven
mà không cắt qua, tạo thuận tiện cho dân nhưng tránh ùn tắc và tai nạn giao
thông.
b) Mặt cắt ngang:
Mặt cắt ngang đường GTNT bao gồm các yếu tố: chiều rộng mặt đường,
lề đường, chiều rộng nền đường, làn đường vượt xe nếu có, rãnh biên nếu có
(xem Điều 6.5), mái dốc nền đường (xem Điểm 5.5.5, 5.5.6).

3,5
3,5 (3,0)
3,0 (2,0)

m
1,50 (1,25)
0,75 (0,5)
-


Trích đoạn Về kỹ thuật Các sửa chữa đường giao thông nông thôn trên địa bàn huyện Định Hoá ĐƯỜNG GIAO THÔNG NÔNG THÔN HUYỆN ĐỊNH HOÁ Gıảı pháp nâng cao chất lượng khaı thác đường GTNT ở huyện Định Hóa – Thái Nguyên. Kinh phí cho bảo trì (nguồn vốn bền vững cho bảo trì):
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status