ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM - ASEAN GIAI ĐOẠN 1986 - 1995 - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
---------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG HÀ

ĐẢNG LÃNH ĐẠO QUAN HỆ ĐỐI
NGOẠI VIỆT NAM - ASEAN
GIAI ĐOẠN 1986 - 1995

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS VŨ QUANG VINH

HÀ NỘI - 2015


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện đề tài khóa luận tốt nghiệp,
em luôn nhận được sự quan tâm và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo bộ
môn trong khoa Lịch sử. Em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô
giáo trong khoa Lịch sử, đặc biệt là PGS.TS Vũ Quang Vinh - thầy đã luôn
giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này. Cảm ơn
các thầy cô đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình hoàn thiện khóa luận
tốt nghiệp.
Mặc dù đã nỗ lực, cố gắng hết sức mình, song do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan nên chắc chắn rằng khóa luận sẽ không tránh khỏi
những hạn chế và thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp
của thầy cô và bạn đọc để khóa luận của em được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành cảm ơn

Chương 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN ................. 6
1.1. Tình hình thế giới và khu vực Đông Nam Á ............................................. 6
1.1.1. Những biến động chính trị, kinh tế phức tạp của tình hình
thế giới và khu vực Đông Nam Á ................................................... 6
1.1.2. Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và
công nghệ .................................................................................... 18
1.1.3. Xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực Đông Nam Á ............ 20
1.2. Thực trạng kinh tế - xã hội nước ta trước năm 1986 ............................... 25
Chương 2. QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM - ASEAN (1986 - 1995) ........... 29
2.1. Chủ trương đối ngoại đổi mới của Đảng ta trong quan hệ với các
nước ASEAN .......................................................................................... 29
2.1.1. Đại hội VI - Bước ngoặt về đổi mới tư duy và thực tiễn hoạt
động đối ngoại của Đảng ta với các nước Đông Nam Á .............. 29
2.1.2. Đảng ta tiếp tục phát huy và đẩy mạnh chủ trương đối ngoại
trong quan hệ với các nước Đông Nam Á .................................... 35
2.2. Tranh thủ thời cơ thuận lợi, chọn bước đột phá, chuyển từ đối đầu
sang đối thoại, đưa việt nam hội nhập ASEAN ...................................... 44
2.2.1. Giải quyết vấn đề Campuchia, tháo gỡ vướng mắc lớn nhất
trong quan hệ Việt Nam - ASEAN ............................................... 44


2.2.2. Tăng cường hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật…
giữa Việt Nam với các nước ASEAN ........................................... 49
2.2.3. Đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân, chọn thời cơ
thuận lợi, đưa Việt Nam hội nhập ASEAN .................................. 59
Chương 3. KẾT QUẢ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM CHỦ YẾU ................ 68
3.1. Những thành tựu đạt được của quá trình phát triển quan hệ
Việt Nam - ASEAN ................................................................................ 68
3.2. Những khó khăn, thách thức đối với Việt Nam sau khi gia
nhập ASEAN .......................................................................................... 75

không thể thắng tại chiến trường Việt Nam, buộc phải ký Hiệp định Paris về
chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam thì các nước ASEAN đã điều chỉnh chính
sách đối ngoại và triển khai một số bước đi thân thiện hơn trong quan hệ với
1


Việt Nam. Về phía Việt Nam, tháng 7/1976 Việt Nam đưa ra chính sách 4
điểm đối với khu vực chủ trương xây dựng quan hệ hữu nghị với các nước
ASEAN. Tháng 8/1976 Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với tất cả
các nước ASEAN. Tuy nhiên, đến năm 1979 do bất đồng quan điểm trong
giải quyết vấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam với các nước ASEAN từ đối
thoại thân thiện đã chuyển sang đối đầu. Đến năm 1989 khi Việt Nam rút hết
quân khỏi Campuchia, quan hệ Việt Nam - ASEAN ấm dần lên. Sau những
bước đi, thủ tục cần thiết, ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ
7 của ASEAN. Sự kiện này là mốc quan trọng thể hiện quyết tâm của Đảng
Nhà nước ta trong việc triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, chính
sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, đặc biệt là chính sách đối
với khu vực theo hướng chủ động hội nhập. Sự kiện này đã chấm dứt thời kỳ
đối đầu, thù nghịch để hai bên bước vào thời kỳ hữu nghị hợp tác. Việc gia
nhập ASEAN tạo thuận lợi cho Việt Nam tăng cường lòng tin của các nhà đầu
tư và các thể chế tài chính quốc tế, tranh thủ được nguồn lực để phát triển đất
nước. ASEAN còn tạo điều kiện cho Việt Nam có cơ hội đi vào những thị
trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản. Đồng thời việc gia nhập ASEAN giúp
Việt Nam nâng cao vị trí, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế… Những
thuận lợi đó đã được chứng minh rõ nét bằng những thành tựu đạt được của
Việt Nam trong những năm qua. Bước sang thập niên thứ 2 của thế kỷ XXI,
Việt Nam đứng trước những thuận lợi lớn, nhưng cũng gặp phải những khó
khăn, thách thức không nhỏ. Từ những ý nghĩa lý luận và thực tiễn trên, tôi
chọn đề tài “Đảng lãnh đạo quan hệ đối ngoại Việt Nam - ASEAN giai
đoạn 1986 - 1995” làm khóa luận tốt nghiệp chương trình đào tạo cử nhân

các nước ASEAN hiện nay - những thuận lợi khó khăn của Nguyễn Hữu Cát,
Tạp chí Nghiên cứu Lý luận, số 3, năm 1994; Nhìn lại một năm gia nhập
ASEAN của Nguyễn Mạnh Hùng, Tạp chí nghiên cứu quốc tế, số 13, năm
1996; Nguyễn Cảnh Huệ, Những thuận lợi thách thức khi Việt Nam gia nhập
ASEAN, Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, số 2, năm 1996; Việt Nam sau 5
năm gia nhập ASEAN của Nguyễn Hữu Cát - Ngô Kim Anh, Tạp chí Tư
tưởng Văn hoá 7-2000… Về những vấn đề chung liên quan đến ASEAN có

3


các tác phẩm: ASEAN hôm nay triển vọng trong thế kỷ XXI của Nguyễn Thu
Mỹ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998; Nguyễn Duy Quý, Tiến tới một
ASEAN hoà bình, ổn định phát triển bền vững, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội 2001; Nguyễn Duy Quý, Xây dựng một ASEAN phát triển đồng đều trong
thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5, năm 2001… Đặc biệt,
vào dịp kỷ niệm 10 năm Việt Nam gia nhập ASEAN có các bài viết: Lê Công
Phụng, Việt Nam - ASEAN 10 năm nhìn lại, đăng trên Tạp chí Thông tin đối
ngoại, số 8, năm 2005; Vũ Dương Ninh, … Các tác phẩm, bài viết về quan hệ
Việt Nam - ASEAN rất phong phú, tiếp cận trên nhiều vấn đề khác nhau.
Song chưa có bài viết hoặc công trình nào mang tính chất tổng hợp, có hệ
thống về quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển quan hệ Việt Nam ASEAN từ năm 1986 đến năm 1995.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích của khóa luận: Thông qua quan hệ Việt Nam - ASEAN
giai đoạn 1986-1995, tác giả khẳng định tính chủ động, đúng đắn, sáng tạo,
nhạy cảm chính trị của Đảng trong việc đưa nước ta hội nhập sâu hơn vào
ASEAN qua việc trở thành thành viên đầy đủ và tích cực, các sáng kiến thúc
đẩy ASEAN phát triển toàn diện.
3.2. Nhiệm vụ của khóa luận: - Nêu lên chủ trương, đường lối đối ngoại
của Đảng đối với các nước ASEAN. - Thành tựu, hạn chế của Việt Nam trong

thống kê… nhằm làm sáng tỏ những vấn đề đặt ra trong khóa luận.
5. Kết cấu của khóa luận
Kết cấu của khóa luận, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương.
Chương 1. Cơ sở hình thành quan hệ Việt Nam - ASEAN
Chương 2. Quan hệ đối ngoại Việt Nam - ASEAN (1986 – 1995)
Chương3. Kết quả và một số kinh nghiệm chủ yếu

5


Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH QUAN HỆ VIỆT NAM - ASEAN
1.1. TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐÔNG NAM Á TRƯỚC
NĂM 1986
1.1.1. Những biến động chính trị, kinh tế phức tạp của tình hình thế giới
và khu vực Đông Nam Á
- Những biến động to lớn và phức tạp của tình hình thế giới
Sau hơn nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, Liên Xô cùng hệ thống xã hội
chủ nghĩa thế giới đã có những đóng góp tích cực vào việc gìn giữ hòa bình
thế giới, cũng như những thành tựu khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật đối
với tiến trình phát triển của lịch sử. Trong suốt mấy thập kỷ đầy biến động
phức tạp, căng thẳng bởi tác động của chiến tranh lạnh, Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa đã giương cao ngọn cờ giải phóng, cách mạng, phấn đấu vì
những mục tiêu và lý tưởng cao đẹp của nhân loại, “trở thành chỗ dựa cho
cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và
chủ nghĩa xã hội” [3, 42].
Nhưng bước vào thập kỷ 80, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đã
phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, chậm đổi mới tư duy, chậm tiếp nhận
và ứng dụng những thành của của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện

thế giới theo ý muốn của Mỹ. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu và các
đề xuất ý kiến cho việc định ra chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta
thì hiện nay, “thế giới đang chuyển sang một cục diện mới với sự tham gia
của nhiều nước, nhiều trung tâm” [4, 8].
Cùng với sự hình thành của các trung tâm quyền lực mới trên thế giới,
quyền lực quốc tế không tập trung vào các siêu cường như trước kia mà phân
tán ra các trung tâm và các cường quốc; vai trò của các thể chế đa phương
toàn cầu và khu vực ngày càng trở nên quan trọng. Thế giới hai cực không

7


còn nhưng các nước lớn vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết các
vấn đề chính trị, kinh tế của thế giới. Các sự kiện chính trị mang tính toàn cầu
hay các xung đột khu vực, sắc tộc nảy sinh không kịp thời giải quyết thì các
nước lớn sẽ cùng nhau phối hợp can thiệp sâu, thậm chí bằng quân sự, làm
cho tình hình càng thêm căng thẳng. Cuộc chiến tranh Vùng Vịnh năm 1990
mà hậu quả cho đến nay vẫn chưa được giải quyết triệt để, các cuộc xung đột
sắc tộc, nội chiến ở Nam Tư trong những năm cuối của thế kỷ này là những
minh chứng cụ thể và xác đáng về điều đó.
Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu
đã làm cho chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế bị khủng hoảng nghiêm trọng và gặp nhiều khó khăn,
rất bất lợi cho các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Việt Nam là
nước có quan hệ hữu nghị truyền thống và chặt chẽ với Liên Xô và các nước
Đông Âu cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Những thắng lợi to
lớn và thành tự của Việt Nam trong gần nửa thế kỷ đấu tranh và xây dựng gắn
liền với sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa
và thế giới tiến bộ. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông
Âu cùng với sự khủng hoảng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Từ một cơ cấu kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp vận hành theo kế
hoạch hóa, tập trung mà quan hệ sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể là chủ
yếu chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế cạnh
tranh nhau quyết liệt, Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn bỡ ngỡ và chưa có
đủ kinh nghiệm để sẵn sàng tham gia vào cuộc chơi mỡi này. Cần phải có
vốn, kinh nghiệm quản lý kinh tế của chủ nghĩa tư bản để có thể thực hiện tốt
những mục tiêu phát triển kinh tế trong điều kiện mới. Với cơ cấu, quy mô
kinh tế, những điều kiện tự nhiên, xã hội có nhiều nét tương đồng với Việt
Nam, cùng với những thành công trong phát triển kinh tế - xã hội, ASEAN sẽ
là mô hình mà Việt Nam có thể hợp tác và rút ra được những bài học kinh

9


nghiệm bổ ích. Đồng thời, ASEAN còn là cầu nối để đưa Việt Nam hội nhập
với khu vực và thế giới.
Một yếu tố khác có tác động khá lớn đến đường lối, chính sách của ta
trong những thập niên 70 và 80 mà không thể không nói đến. Đó là trào lưu
cải cách nền chính trị - kinh tế diễn ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt
là của các nước lớn có nhiều ảnh hưởng đến Việt Nam như Liên Xô và Trung
Quốc. Sau khi trở thành người đứng đầu Đảng Cộng sản và đất nước Liên Xô
vào giữa thập kỷ 80, Mikhail Gorbachev đã đưa ra những thay đổi lớn về
chính sách đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, Gorbachev thực hiện rút lui
chiến lược khỏi nhiều vị trí và nhiều khu vực quan trọng trên thế giới như
châu Á - Thái Bình Dương, Trung Đông và cả ở Đông Âu…, tiến hành hòa
hoãn với Mỹ, đàm phán với Mỹ cắt giảm kho vũ khí chiến lược của Liên Xô,
thỏa hiệp với chủ nghĩa đế quốc về một số nguyên tắc chiến lược… Đối với
Việt Nam, sự ủng hộ của Liên Xô và những quan hệ hợp tác về chính trị, kinh
tế… cũng được cân nhắc một cách chặt chẽ hơn và dần chuyển sang hình thức
mới, gắn với hiệu quả, có chú ý đến lợi ích của cả hai bên. Về đối nội,

của đất nước này trong thế kỷ tới.
Trước những biến đổi mới của tình hình và sự đảo lộn về tập hợp lực
lượng trên thế giới, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều tiến hành điều chỉnh
chính sách đối ngoại của mình. Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội VI, Đảng
ta đã nhận định: “Loài người đang đứng trước sự lựa chọn về nhiều vấn đề
mới có tính toàn cầu” [6, 36]. Thời kỳ này, trong quan hệ quốc tế nổi lên
những đặc điểm sau: 1 - Hầu hết các nước đều thực hiện chính sách đa
phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; 2 - Các nước đều dành ưu tiên
tập trung cho phát triển kinh tế; 3 - Xu thế hợp tác quốc tế và liên kết khu vực
ngày càng phát triển mạnh mẽ trên khắp các châu lục; 4 - Xu thế hòa bình,
hợp tác và phát triển diễn ra mạnh mẽ và ngày càng chiếm ưu thế ở các quốc
gia, khu vực và trên thế giới. Tình hình đó đặt ra những thách thức to lớn đối

11


với công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát
triển, trong đó có Việt Nam. Nhưng đồng thời, nó cũng tạo ra những điều kiện
thuận lợi và vận hội cho các nước này hội nhập với thế giới, tiếp cận văn
minh nhân loại. Nếu biết khai thác yếu tố này và tranh thủ vận dụng có hiệu
quả vào công cuộc xây dựng đất nước trong điều kiện mới chắc chắn sẽ mở ra
chiều hướng phát triển mới đầy hứa hẹn.
- Tình hình chính trị, kinh tế ở khu vực:
Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu bị sụp đổ cùng những
chuyển biến nhanh chóng, phúc tạp về kinh tế - xã hội trên thế giới đã tác
động mạnh mẽ tới khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các nước
Đông Nam Á và các nước Đông Dương. Đông Nam Á nay không còn là nơi
tập trung những mục tiêu đối kháng giữa các nhóm nước có ý thức hệ và chế
độ xã hội khác nhau như trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Việc Mỹ tuyên bố cắt
giảm lực lượng quân sự ở châu Á và rút khỏi hai căn cứ quân sự lớn ở Đông

Campuchia và đi tới ký kết Hiệp định Pari về hòa bình ở Campuchia vào
tháng 10-1991. Trở ngại lớn nhất trong quan hệ Việt Nam - ASEAN và nhân
tố gây mất ổn định ở khu vực là vấn đề “Campuchia” nay không còn. Các
nước ASEAN không còn lý do để quay lưng lại với cách mạng Việt Nam và
các nước Đông Dương.
Lúc này, các nước ASEAN cũng có những vấn đề nội bộ cần giải quyết
và nhu cầu hợp tác với Việt Nam, các nước Đông Dương để phát triển, củng
cố cả thế và lực của tổ chức. Như vậy, chủ trương đối ngoại hòa bình, hữu
nghị, hợp tác của Việt Nam và mong muốn hợp tác của các nước ASEAN gặp
nhau đã tạo ra một hợp lực mang tính cộng hưởng, tạo điều kiện thuận lợi cho
sự phát triển của quan hệ Việt Nam - ASEAN.
- Xu thế toàn cầu hóa:
Với sự phát triển nhanh chóng của nền sản xuất hiện đại công nghiệp
cùng những tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ đã từng bước xóa đi

13


ranh giới thị trường giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Xu hướng
chung của thế giới ngày nay như Đại hội Đảng lần thứ VII đã nhận định là:
“Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và
liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực
hoạt động khác” [7, 77]. Các nhà sáng lập ra học thuyết cách mạng vĩ đại là
Mác - Ăngghen đã nhận thức trước được vấn đề này và chỉ ra từ năm 1848
trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Đại công nghiệp đã tạo ra thị trường
thế giới [8, 70]; và “Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho
sản xuất và tiêu dung của tất cả các nước mang tính chất thế giới… Thay cho
tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp,
ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân
tộc” [8, 77-78].

Cùng với việc quốc tế hóa nền kinh tế thế giới là xu thế khu vực hóa và
nhất thể hóa nền kinh tế khu vực cũng diễn ra mạnh mẽ trên hầu khắp các
châu lục với nhiều tầng nấc khác nhau.
Ở châu Âu: Cộng đồng Kinh tế châu Âu được thành lập năm 1957 với 6
nước thành viên đến năm 1967 đã hợp nhất với Cộng đồng Than thép châu
Âu và Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu thành Cộng đồng Chung
châu Âu [15, 12]. Tổ chức này đã lần lượt tiếp cận các thành viên với như:
Đan Mạch, Ailen, Anh, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, trở thành liên
mình lớn với 12 thành viên - Liên minh châu Âu. Từ ngày 1-1-1993, Liên
minh châu Âu đã bao trùm một thị trường tiêu thụ rộng lớn có số dân là 380
triệu người và tổng sản phẩm (GNP) là 6.000 tỷ USD. Năm 1995, liên minh
này kết nạp thêm 3 thành viên mới là Áo, Thụy Điển, Phần Lan, nâng tổng số
thành viên lên 15 nước, mở ra một triển vọng biến toàn châu Âu thành một
thực thể thống nhất.
Ở châu Mỹ: Hội nghị cấp cao các nước châu Mỹ họp ở Maiami (Mỹ) đã
quyết định thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do toàn châu Mỹ. Năm 1989, Mỹ

15


và Canada bắt đầu thực hiện Khu vực Mậu dịch Tự do Mỹ - Canada, tiếp đó
kết nạp thêm Mêhicô trở thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA)
vào cuối năm 1992 với số dân là 360 triệu người và 6.000 tỷ USD thu nhập
quốc dân. Các nước Nam Mỹ cũng thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Nam
Mỹ (MERCOSUR)…
Ở châu Á - Thái Bình Dương: Khu vực rộng lớn với trên 50 nước, chiếm
gần 40% dân số thế giới, bao gồm các nước có nền kinh tế, khoa học và công
nghệ hùng mạnh vào bậc nhất thế giới (Mỹ, Nhật Bản, Canada…), các nền
kinh tế công nghiệp hóa mới (NIEs) phát triển với tốc độ cao (Hàn Quốc, Đài
Loan, Hồng Kông, Xingapo) và các nước đang phát triển có nhiều tiềm năng

về kinh tế, mối liên hệ ràng buộc và sự tùy thuộc giữa các quốc gia ngày càng
lớn, không một nước nào có thể phát triển mà lại không mở rộng quan hệ
đoàn kết, hợp tác với các nước khác. Mỗi quốc gia muốn phát triển kinh tế
phải tham gia vào kinh tế thị trường, vừa hợp tác vừa cạnh tranh nhau trong
cùng tồn tại hòa bình. Đó là một yêu cầu khách quan. Trong Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã nhận
định: “Nền sản xuất vật chất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế
hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển lịch sử và cuộc sống các dân
tộc” [28, 6]. Nhiệm vụ trước mắt của chúng ta lúc này là thực hiện thắng lợi
công cuộc đổi mới hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
và văn minh. Cùng với những nỗ lực chủ quan, sự tăng cường đoàn kết quốc
tế, hợp tác với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
của nhau và các bên đều có lợi, sẽ tạo cho Việt Nam các nhân tố thuận lợi để
tiếp tục tiến lên. Là thành viên trong cộng đồng quốc tế, để tăng cường sức
mạnh của mình, một trong những yếu tố quan trọng là phải mở rộng đoàn kết,
hợp tác quốc tế, phải nắm vững chiến lược phù hợp theo tinh thần của bản
thông điệp hòa bình mà Đại hội VII Đảng ta đã gửi tới các dân tộc trên thế
giới: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,
phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển”.

17


1.1.2. Sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ
Khoa học kỹ thuật và công nghệ có tác động to lớn, mạnh mẽ đến đời
sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc. Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức
được tầm quan trọng, vai trò động lực của khoa học kỹ thuật đối với sự phát
triển của lực lượng sản xuất và tác động của nó tới đời sống và giao lưu quốc
tế, Người đã chỉ ra rằng
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên thế

quan hệ xã hội và quốc tế.
Nhưng cũng chính sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ mà khoảng cách chênh lệch về trình độ công nghệ
giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng mở rộng hơn,
sự phân hóa giàu nghèo giữa các cuộc gia và ngay trong mỗi quốc gia ngày
càng lớn. Đây cũng là một thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển,
vừa lạc hậu về kỹ thuật công nghệ, vừa rất thiếu các nguồn lực phát triển, đặc
biệt là nguồn vốn để phát triển kinh tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật là sự
gia tăng ngày càng nhanh và cấp bách về nhu cầu hợp tác phát triển kinh tế
giữa các quốc gia trên thế giới. Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực kinh tế ngày
càng có ý nghĩa rất quan trọng và cuộc chạy đua đã diễn ra rất quyết liệt và
mạnh mẽ giữa các nước có chế độ xã hội khác nhau. Tại Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI, Đảng ta đã nhận định: “Các nước xã hội chủ nghĩa đã khẳng
định dứt khoát sự lựa chọn của mình là con đường thi đua về kinh tế, về lối
sống và cuộc thi đua này chỉ có thể thực hiện trong hoàn cảnh hòa bình được
bảo đảm vững chắc” [6, 36-37]. Sự lựa chọn đó là đúng đắn, hợp với quy luật
và phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước, với trào lưu phát triển của các
nước khu vực và xu thế thời đại.
- Các vấn đề toàn cầu đặt ra đối với tất cả các nước trên thế giới đòi hỏi
phải cùng nhau hợp tác để giải quyết:
Thế giới ngày nay đang tồn tại và vận động trong một môi trường diễn
biến rất phức tạp, đa dạng và đạn xem những mâu thuẫn sâu sắc, vừa thống

19


nhất vừa đấu tranh, cạnh tranh nhau quyết liệt. Tuy cuộc cách mạng công
nghệ phát triển nhanh và đã đạt đến trình độ rất cao, đem lại cho con người
những lợi ích và phát triển ngoài sức tưởng tượng nhưng có những vẫn đề mà

ổn định, hợp tác để tập trung phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đưa
ra nhận định: “Hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ngày càng trở thành đòi
hỏi bức xúc của tất cả các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Các nước dành ưu
tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với
việc tăng trưởng sức mạnh tổng hợp của quốc gia” [7, 77]. Trước sự phát triển
mạnh mẽ của xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thế giới, các thế lực đế
quốc, tư bản buộc phải thay đổi chính sách của mình, chuyển sang dung con
bài kinh tế, khoa học kỹ thuật để lôi kéo, khống chế các dân tộc.
Từ nửa sau những năm 1980, quan hệ Xô - Mỹ dần dần đi vào hòa dịu
sau những dàn xếp và thỏa thuận về cắt giảm hệ thống tên lửa đạn đạo. Việc
giảm đối đầu giữa hai siêu cường đã đem lại những cơ hội mới cho các nước
như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có vai trò lớn hơn ở châu Á - Thái Bình
Dương. Đồng thời, nó cũng cho phép các nước Đông Nam Á, trong đó có các
nước Đông Dương, tham gia vào kiến tạo một trật tự khu vực mới.
Cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 do tác động bởi cuộc khủng hoảng chính
trị ở Campuchia, quan hệ Việt Nam - ASEAN cũng bị phân hóa thành hai
nhóm nước. Ngoài một số nước có quyền lợi trực tiếp và chịu sự tác động từ
bên ngoài như: Thái Lan, Xingapo và Philippin tỏ thái độ chống đối quyết
liệt, các nước còn lại như Inđônêxia và Malaixia cũng dần dần nhận thức
được thực chất của vấn đề Campuchia, phần nào thông cảm với Việt Nam và
tìm cách thăm dò khả năng thương lượng với Việt Nam để tìm ra giải pháp
chính trị cho vấn đề Campuchia. Quan điểm, thái độ của Malaixia và
Inđônêxia trong vấn đề Campuchia cũng có tác động dần đến nhận thức của
các nước khác trong tổ chức ASEAN, buộc họ phải xem xét lại thái độ của

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status