Thương hiệu và những giải pháp Marketing nâng cao giá trị thương hiệu xe gắn máy trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 33


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

MỤC LỤC
Trang

OBO
OKS
.CO
M

Tóm tắt đề tài....................................................................................................... v
Phần mở đầu ....................................................................................................... vii
1 Lý do chọn đề tài .................................................................................................. vii
2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu .......................................................................... vii
3 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... viii
4 Kết cấu đề tài ....................................................................................................... viii

Chương I :
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG XE GẮN MÁY TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ VÀ GIỚI THIỆU SƠ LƯC MỘT SỐ THƯƠNG HIỆU XE GẮN MẠNH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................. 1
1.1 Vai trò của thương hiệu ........................................................................................... 1
1.1.1 Đối với người tiêu dùng ............................................................................... 1
1.1.2 Đối với doanh nghiệp .................................................................................. 2
1.2 Thương hiệu trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế tại Việt Nam............................ 3
1.3 Tình hình thò trường các thương hiệu xe gắn máy trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh
................................................................................................................................. 5
1.3.1
1.3.2
1.3.3

Khắc sâu vào tâm trí khách hàng ......................................................... 24

2.2.5

Tạo nên đònh hướng và ý nghóa cho sản phẩm ..................................... 24

2.3 Giá trò thương hiệu ................................................................................................ 24
Các mô hình nghiên cứu thành phần của giá trò thương hiệu ở các nước phát
triển ............................................................................................................ 25

2.3.2

Mô hình nghiên cứu các thành phần giá trò thương hiệu tại Việt Nam 26

OBO
OKS
.CO
M

2.3.1

2.3.2.1 ... Nhận biết thương hiệu ..................................................................... 26
2.3.2.2

Chất lượng cảm nhận ....................................................................... 27

2.3.2.3

Lòng ham muốn thương hiệu ........................................................... 27



2.5.2

Xây dựng thang đo các khái niệm nghiên cứu .................................... 32

2.5.2.1

Xây dựng thang đo các khái niệm nghiên cứu ......................... 32
Đo lường mức độ nhận biết thương hiệu ............................. 32

2.5.2.1.2

Đo lường chất lượng cảm nhận............................................ 32

2.5.2.1.3

Đo lường lòng ham muốn thương hiệu ................................ 33

2.5.2.1.4

Đo lường thái độ chiêu thò ................................................... 34

2.5.2.1.5

Đo lường thái độ với giá ...................................................... 34

2.5.2.1.6
2.5.2.2
2.5.2.2.1
2.5.2.2.2


THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2.5.3

Nghiên cứu chính thức .......................................................................... 40

2.5.3.1

Thương hiệu nghiên cứu............................................................ 40

2.5.3.2

Thiết kế mẫu ............................................................................. 40

2.5.3.3

Thông tin về mẫu nghiên cứu ................................................... 41

2.6.1

OBO
OKS
.CO
M

2.6 Kết quả nghiên cứu ....................................................................................... 42
Kiểm nghiệm thang đo ......................................................................... 42

2.6.1.1



2.6.2.2

Kiểm đònh mối quan hệ của khái niệm chất lượng cảm nhận với mức
độ nhận biết thương hiệu ................................................................. 48

2.6.3

Khảo sát mối liên hệ của các thành phần khác với từng thành phần giá trò
thương hiệu ............................................................................................... 48
Phân tích mô hình hồi quy của khái niệm mức độ nhận biết thương
hiệu với các biến độc lập tâm lý hướng ngoại, thái độ với giá và thái độ
với chiêu thò ..................................................................................... 49

2.6.3.2

Phân tích mô hình hồi quy của khái niệm chất lượng cảm nhận với
các khái niệm thái độ với giá, thái độ đối với chiêu thò và tâm lý hướng
ngoại ................................................................................................ 49

2.6.3.3

Phân tích mô hình hồi quy của khái niệm lòng ham muốn thương
hiệu với các biến độc lập tâm lý hướng ngoại, thái độ với giá, và thái độ
với chiêu thò ..................................................................................... 51

2.6.4

KI L


MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING GIÚP NÂNG CAO GIÁ TRỊ THƯƠNG
HIỆU XE GẮN MÁY VIỆT NAM .................................................................. 56
3.1 Những đònh hướng trong công tác xây dựng thương hiệu xe gắn máy Việt Nam . 56
3.2 Các giải pháp nâng cao giá trò thương hiệu xe máy Việt Nam ............................. 58
3.2.1
3.2.1.1
3.2.1.2
3.2.1.3
3.2.2
3.2.2.1
3.2.2.1.1
3.2.2.1.2
3.2.2.1.3

Nhóm giải pháp cho chiến lược sản phẩm .................... 58
Các giải pháp nâng cao chất lượng cơ bản của xe máy 58
Các giải pháp nâng cao chất lượng thiết kế ................. 60
Các giải pháp cho chiến lược đa dạng hoá sản phẩm .. 61

Nhóm giải pháp cho chiến lược chiêu thò ................................. 62
Nhóm giải pháp cho công tác quảng cáo ...................... 62
Xây dựng mẫu quảng cáo ................................. 62
Sử dụng các phương tiện truyền thông .............. 63

hệ cộng đồng
3.2.2.2

Thực hiện các chương trình sự kiện và công tác quan
64


OKS
.CO
M

Thương hiệu là đề tài nóng bỏng nhất hiện nay cho các doanh nghiệp muốn tài
trong nền kinh tế cạnh tranh gay gắt. Để có được thương hiệu ăn sâu vào trong tâm
trí người tiêu dùng là mục tiêu hàng đầu mà các doanh nghiệp hiện nay đang theo
đuổi.
Ngành công nghiệp sản xuất – lắp ráp xe máy tại Việt Nam đang trên đà phát
triển, lượng xe được sản xuất ra không ngừng tăng nhanh về số lượng và chủng
loai. Tuy nhiên, các thương hiệu xe máy được tiêu thụ mạnh lại do các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn các doanh nghiệp Việt Nam trong lónh vực
này lại không có khả năng nâng cao vò thế cạnh tranh. Vấn đề này do nhiều
nguyên nhân và một trong những nguyên nhân đó chính vì là các doanh nghiệp
chưa nắm bắt được vai trò của giá trò thương hiệu và các thành phần của nó cũng
như cách đo lường các thành phần này.
Giá trò thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển
thương hiệu. Sự thành công của một thương hiệu phụ thuộc vào mức độ đánh giá và
cảm nhận được của khách hàng về thương hiệu đó. Cho nên, để có thể nghiên cứu
và đo lường được các thành phần giá trò thương hiệu phải tập trung vào nghiên cứu
hành vi người tiêu dùng, điều này đã được các nhà nghiên cứu trong lónh vực tiếp
thò tại các nước phát triển tập trung nghiên cứu từ thập niên 90. Tuy nhiên, tại nước
ta vấn đề này chưa được tập trung nghiên cứu đúng mức, hơn thế nữa vấn đề đo
lường trong nghiên cứu khoa học hành vi chưa được phát triển tại nước ta, chính vì
thế việc đo lường giá trò hay ấn tượng về thương hiệu cũng còn ở mức độ sơ khai.

2.

KI L


• Phạm vi nghiên cứu :

OBO
OKS
.CO
M

-

-

Phạm vi khảo sát : Đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh

-

Đối tượng khảo sát : Các hộ gia đình có sử dụng xe gắn máy.

3.

Sản phẫm nghiên cứu : thương hiệu các loại xe gắn máy tiêu biểu như :
Honda, Suzuki, Yamaha, SYM, Daehan, Haesun.
Thời gian thực hiện nghiên cứu từ tháng 06/2005 đến tháng 30/08/2005
Phương pháp nghiên cứu :

Đề tài này sử dụng phương pháp khảo sát điều tra thực tế :

Nghiên cứu sơ bộ : tiến hành nghiên cứu đònh tính được thực hiện thông qua
thảo luận nhóm tập trung. Thông tin thu thập được tiến hành xây dựng bảng câu
hỏi và thang đo, sau đó tiến hành nghiên cứu đònh lượng sơ bộ với mẫu 50 người
tiêu dùng thông qua kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp với người tiêu dùng các hãng




Chương 2 Cơ sở lý thuyết thương hiệu và giá trò thương hiệu.



Chương 3 Trình bày phương pháp phân tích, kết quả nghiên cứu và đề
xuất một số giải pháp xây dựng thương hiệu mạnh cho thương hiệu xe gắn máy.
Đồng thời cũng đưa ra các hạn chế của nghiên cứu để đònh hướng cho những
nghiên cứu tiếp theo.

Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

6



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M

CHƯƠNG 1

1.1 VAI TRÒ CỦA THƯƠNG HIỆU :
1.1.1.


rủi ro tài chính, rủi ro xã hội, rủi ro tâm lý và rủi ro thời gian. Thương hiệu còn có
một ý nghóa nữa là làm thay đổi nhận thức và kinh nghiệm của người tiêu dùng về
sản phẩm, và sản phẩm giống nhau có thể được khách hàng đánh giá khác nhau tuỳ
thuộc vào sự khác biệt và uy tín của thương hiệu hoặc thuộc tính mà thương hiệu
đó mang lại.
Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

7



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tại thò trường Việt Nam, trước đây nền kinh tế bao cấp đã hạn chế vấn đề
cạnh tranh, và sự lựa chọn của người tiêu dùng, cho nên việc nhận thức thương hiệu
trong tiêu dùng hoàn toàn không được chú trọng. Người tiêu dùng trong thời kỳ này
hoàn toàn không có sự lựa chọn, sản phẩm không được đa dạng, chính vì thế
thương hiệu không phải là yếu tố quan tâm trong hoạt động tiêu dùng.

1.1.2.

OBO
OKS
.CO
M

Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thò trường, vấn
đề cạnh tranh là yếu tố sống còn của các doanh nghiệp. Đồng thời sản phẩm cũng
đa dạng, người tiêu dùng đã có nhiều sự lựa chọn. Chính vì thế người tiêu dùng bắt
đầu quan tâm đến thương hiệu và tiêu dùng thương hiệu ngày càng tăng. Người
tiêu dùng ngày càng nhận thức vai trò thương hiệu trong hoạt động mua sắm và

ấn tượng ăn sâu trong đầu người tiêu dùng qua nhiều năm về sản phẩm không thể
dể dàng sao chép, và thương hiệu được xem như là một cách thức hữu hiệu để bảo
đảm lợi thế cạnh tranh.
Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

8



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M

Như vậy đối với các công ty, thương hiệu được xem như là một tài sản có giá
trò rất lớn bởi nó có khả năng tác động đến thái độ và hành vi người tiêu dùng.
Chính vì thế mà thương hiệu có thể mua và bán được bởi vì nó đảm bảo thu nhập
bền vững trong tương lai cho chủ sở hữu thương hiệu đó. Tại Việt Nam, giá trò một
số thương hiệu cũng được chuyển nhượng với giá rất cao như : công ty Uniliver đã
mua lại giá trò thương hiệu P/S với giá trên 5 triệu USD, thương hiệu kem đánh
răng Dạ Lan được mua với giá 8,5 triệu USD. Một ví dụ khác để so sánh giá trò của
thương hiệu như áo sơ mi do công ty may Việt Nam với nhãn hiệu An Phước thì bán
với giá 218.000đ/chiếc, cũng cùng chất lượng và chiếc áo như vậy nếu mang
thương hiệu nổi tiếng của Pháp – Piere Cardin thì giá bán lúc này là 308.000
đ/chiếc. Như vậy, phần giá trò tăng thêm là thương hiệu mang lại cho doanh nghiệp.

KI L


Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

9



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M

phải cạnh tranh với Nestle, Abott, Mead&Johnson, Dumex…, Bia Saigon và Bia
Laser đang phải vất vả với Heineken, Tiger, Froster…., tất cả các lónh vực kinh
doanh đều phải gặp cạnh tranh khó khăn với các tập đoàn lớn. Đây chính là một
chiến không cân sức, bởi các doanh nghiệp Việt Nam không đủ tài chính cũng như
tất cả nội lực để có thể cạnh tranh với các tập đoàn lớn, trong năm 2004, các sản
phẩm mang thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 6% thò phần sản phẩm điện tử nghe
nhìn, 48% là các sản phẩm só thương hiệu Nhật Bản và 35% là thương hiệu Hàn
Quốc….. đối với sản phẩm điện tử gia dụng thương hiệu Việt Nam chỉ chiếm 3%,
các thương hiệu Nhật chiếm 53%, còn lại là các thương hiệu Hàn Quốc là 35%.

KI L

Tại thò trường xe gắn máy, các thương hiệu của Nhật Bản chiếm đa số như :
Honda, Yamaha, Suzuki, còn lại là thương hiệu Đài Loan có SYM, và thương hiệu
Việt Nam có Suphat, Tiến Lộc. Hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong lónh
sản xuất phụ tùng, rắp ráp xe gắn máy đang gặp nhiều khó khăn về việc bò nhái
thương hiệu và kiểu dáng sản phẩm. Theo thông tin từ Bộ Khoa học Công Nghệ,



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
xuất kinh doanh sẽ gặp nhiều thuận lớn hơn trong xuất khẩu. Nếu gia nhập WTO,
Việt Nam sẽ không gặp khó khăn trong vụ kiện phá giá hàng Dệt may, cũng như
trong các mặt hàng thuỷ hải sản. Đây có thể là tổn thất nếu không sớm gia nhập
WTO.

OBO
OKS
.CO
M

Tuy nhiên, vấn đề thực thi quyền Sở Hữu Trí Tuệ là một trong những nội dung
quan trọng của tiến trình đàm phán giá nhập WTO. Nhận thức được tầm quan trọng
trong quá trình hội nhập và tăng cao khả năng cạnh tranh, một số doanh nghiệp
mạnh dạn đầu tư xây dựng thương hiệu riêng và phòng thiết kế mẫu xe riêng cho
chính doanh nghiệp họ, và điều này đã mang lại thành công cho doanh nghiệp này,
chẳng hạn : Công ty xe máy FMC đã đầu tư thiết kế mẫu xe với kiểu dáng hoàn
toàn mới đã tiêu tốn khoảng một triệu USD và mất gần hai năm mới ra mắt được
sản phẩm. Tuy nhiên, sản phẩm của công ty đã được người tiêu dùng chấp nhận và
đồng thời tạo bước ngoặc mới trong cạnh tranh thương hiệu xe máy Việt Nam.
Ngoài ra còn có Công ty TNHH Sufat Việt Nam cũng đã tung ra mẫu xe SUFAT
BACKHAND với kiểu dáng hoàn toàn riêng biệt và chất lượng cao, giá khá cạnh
tranh chỉ 10.890.000 đồng/chiếc.
1.3 TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG CÁC THƯƠNG HIỆU XE GẮN MÁY
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH :
1.3.1 Tình hình hoạt động kinh doanh xe gắn máy :

Việt Nam là một nước có sức tiêu thụ xe gắn máy mạnh nhất trong khu vực

6.387.207

837.939

244

244

2001

8.359.042

1.971.835

576

235

2002

10.273.659

1.914.617

558

97

2003


quân 7% một năm, thì nhân tố cơ bản cho sự tăng trưởng đột biến của thò trường xe
gắn máy Việt Nam chính là giá xe máy giảm mạnh từ khoảng trung bình 2.220
USD năm 1998 xuống còn 630 USD trong năm 2001, bởi sự thâm nhập của xe gắn
máy giá rẻ có linh kiện được nhập từ Trung Quốc. Phân đoạn thò trường có giá cao
hơn 1000 USD chỉ tăng nhẹ trong các năm, còn riêng khúc thò trường có giá thấp
dưới 1000 USD tăng nhanh và mở rộng. Tất cả là do thò trường xe máy có giá thấp
đánh vào tâm lý người tiêu dùng Việt Nam, đại đa số người tiêu dùng có thu nhập
thấp và phương tiện đi lại là nhu cầu rất cần thiết cho chính người tiêu dùng Việt
Nam, về mặt kinh tế vó mô thì đó chính là tạo cơ hội phát triển giao thương giữa
các vùng với nhau, mối quan hệ giữa người với người với nhau một cách dễ dàng.
Bên cạnh đó nhân tố ảnh hưởng tới ngành công nghiệp xe máy trong giai
đoạn này là những chính sách của chính phủ hoàn toàn phù hợp. Việc cấm nhập
khẩu xe máy hoàn chỉnh kể từ năm 1990 và hàng loạt những chính sách khác nhằm
khuyến khích sản xuất linh kiện trong nước từ năm 2000 đã có những tác động tích
cực. Công cụ chủ yếu để thực hiện được chính sách này đó chính là những chính
sách về thuế và hạn ngạch nhập khẩu. Trong đó chính sách thuế luỹ tiến tỉ lệ
nghòch được xem là một thành công của chính sách thuế mang lại hiệu quả cao
trong quản lý nhà nước đối với lónh vực công nghiệp xe máy, thuế luỹ tiến tỉ lệ
nghòch được xác đònh dựa vào giá trò linh kiện được sản xuất trong nước với giá trò
của toàn thể sản phẩm. Thuế luỹ tiến có ảnh hưởng mạnh đến tới các nhà sản xuất
xe máy trong việc xây dựng mạng lưới cung cấp các linh kiện. Ngoài ra, hạn ngạch
nhập khẩu linh kiện cũng là công cụ quan trọng trong việc kiểm soát và bảo vệ nền
công nghiệp sản xuất xe máy nội đòa ở Việt Nam. Hạn ngạch nhập khẩu xác đònh
cho từng công ty, dựa trên vốn, năng lực sản xuất và tỷ lệ nội đòa hoá mà công ty
đạt được. Bên cạnh hai chính sách này, những yêu cầu về bảo vệ môi trường,
những chính sách về giao thông cũng như những cải cách thủ tục hành chính công
đã tạo điều kiện cho nền sản xuất xe máy trong nước tăng trưởng trong giai đoạn
này. Tuy nhiên, trong năm 2004, sản lượng sản xuất, lắp ráp xe máy toàn ngành
đạt khoảng 1,9 triệu chiếc, năng lực này còn có thể cao hơn nhưng do có những
chính sách làm hạn chế nên sản lượng bò chững lại.

nghiệp khác sản xuất vỏ, bình xăng con, bộ điện, … hoặc chuyên sản xuất các cụm
chi tiết chủ lực, và cũng có doanh nghiệp chuyên môn hoá sản xuất đã xuất khẩu
được sản phẩm đi nước ngoài. Tuy nhiên một số chi tiết khó thuộc cụm động cơ như
: bánh răng ly hợp, vòng bi, ngắt số, bộ khởi động, ….. giá trò các chi tiết này trò giá
khoảng 30 USD trong giá thành một chiếc xe vẫn chưa được các doanh nghiệp đầu
tư sản xuất trong nước, chỉ chủ yếu là nhập khẩu từ thò trường Trung Quốc, Thái
Lan.
Hiện nay, theo số liệu của Hiệp hội Xe đạp, xe máy Việt Nam, toàn ngành
có 52 doanh nghiệp sản xuất – lắp ráp xe máy, trong đó có 22 doanh nghiệp Quốc
doanh, 23 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (FDI). Sản lượng của các doanh nghiệp Việt Nam và một số cơ sở sản xuất
nhỏ trong nước ước tính chỉ đạt khoảng 1,4 triệu chiếc/ năm. Trong khi đó 7 doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại có sản lương vượt trội là 1,73 triệu chiếc/năm.
Lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp trong nước cũng thấp hơn 7 doanh
nghiệp FDI. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp trong nước đầu tư dưới
dạng cơ sở nhỏ, hoạt động riêng lẻ chưa có sự liên kết với nhau trong các hoạt
động kinh doanh cho nên khó có đủ sức mạnh để cạnh tranh được với các doanh
nghiệp FDI có tài chính hùng hậu. Hơn thế nữa công nghệ của các doanh nghiệp
trong nước còn lạc hậu khá xa so với các doanh nghiệp FDI, chưa thể tạo động lực
cho các chiến lược xây dựng thương hiệu Việt Nam cho chính ngành công nghiệp
xe máy Việt Nam.
Về mặt công nghệ, các doanh nghiệp trong nước chủ yếu nhập khẩu động
cơ, cụm linh kiện và phụ tùng chính yếu, còn lại các chi tiết phụ như đệm, đèo
hàng, giỏ, chân chống, mâm, và khung sườn tất cả được chế tạo trong nước với chi
phí thấp. Trong đó các doanh nghiệp triệt để khai thác thò trường phụ tùng trôi nổi,
linh kiện do các doanh nghiệp nhập khẩu từ nhiều nguồn khác nhau đa phần là xuất
xứ Trung Quốc. Chính vì vậy chất lượng xe do các doanh nghiệp Việt Nam cung
cấp không ổn đònh, gây tâm lý hoang mang cho người tiêu dùng khi tiêu dùng sản
phẩm do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất. Hơn thế nữa, hệ thống phân phối cũng
chưa có sự liên kết dựa vào nhau,vốn đầu tư nhỏ, đầu tư phân tán cho nên các

13.900 chiếc. Hiện tại, các doanh nghiệp FDI đang gia tăng vốn đầu tư nhằm tăng
cường khả năng sản xuất và gia tăng sự cạnh tranh, trong khi đó các doanh nghiệp
trong nước lại chưa có khả năng sản xuất và cung cấp 100% sản phẩm mang thương
hiệu hiệu Việt Nam. Theo thông tin khảo sát thì trong 12 doanh nghiệp Việt Nam
sản xuất xe lắp ráp xe gắn máy chỉ có 3 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn rắp ráp và
sản xuất xe gắn máy. Sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành xe gắn
máy thể hiện qua biểu đồ thò phần trong các năm từ 1995 đến 2003 như sau :

OBO
OKS
.CO
M

-

KI L

Thò phần của các doanh nghiệp xe gắn máy tại thò trường Việt Nam

Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

14




OBO
OKS
.CO
M

60.000 xe và linh kiện đồng bộ của xe Wave sang Philipin.

Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

15



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.3.2. Tình hình tiêu thụ xe gắn máy tại TP. Hồ Chí Minh :

OBO
OKS
.CO
M

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm Thương mại- Dòch vụ quan trọng
cả nước. Thành Phố có một mạng lưới chợ đầu mối mà từ đó hàng hoá được lưu
chuyển đi về tất cả các tỉnh thành trong cả nước và các nước lân cận. Với tốc độ
tăng trưởng GDP bình quân toàn Thành phố (trong giai đoạn 2001-2005 đạt
11%/năm, tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng đạt mức 48,4% tỷ trọng, ngành
Dòch vụ là 50,2%, và tỷ trọng ngành Nông nghiệp là 1,4% ). Với tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao và bền vững thì tốc độ tăng của tổng mức hàng hoá bán ra tại Thành
phố Hồ Chí Minh có thể đạt 17,16%/năm. Như vậy Thành phố Hồ Chí Minh là
trung tâm có mức độ sức tiêu dùng mạnh nhất nước và cũng là thò trường tiêu thụ
lớn cho tất cả các ngành nghề.
Đối với ngành công nghiệp sản xuất – lắp ráp xe gắn máy thì thò trường
Thành phố Hồ Chí Minh là thò trường tiêu thụ lớn chiếm khoảng 50%-60% tổng
lượng xe bán ra cả nước, lượng xe gắn máy bình quân trên đầu người tại Thành phố
cũng rất cao từ 3-4 người/chiếc. Hiện tại, các doanh nghiệp sản xuất gắn máy tại

16



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS
.CO
M

xe máy Việt Nam, nếu thực sự muốn tồn tại phải có những thương hiệu đủ mạnh
cũng như chất lượng xe luôn được cải tiến với nhiều mẫu mã mới. Thò trường
Thành phố là thò trường tiêu thụ năng động, điều này buộc các công ty xe máy phải
nhanh chóng nắm bắt thò hiếu người tiêu dùng cũng như luôn tung ra những nghiên
cứu cải tiến có tính cách mạng trong công nghệ nhằm thoả mãn tốt nhu cầu thò
trường này, và tạo nhiều cơ hội xuất khẩu sang các nước lân cận.
1.3.3 Giới thiệu sơ lược một số thương hiệu xe gắn máy mạnh trên đòa bàn

thành phố Hồ Chí Minh :

Hiện nay, trong ngành công nghiệp xe gắn máy Việt Nam, thì đa phần các
doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI chiếm thò phần cao tại thò trường Việt Nam nói
chung và tại thò trường thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng. Các doanh nghiệp này
luôn dẫn đầu ngành bằng việc nâng cao chất lượng xe cũng như có nhiều mẫu mã
xe phù hợp với thò trường xe với các hãng xe máy của các doanh nghiệp Việt Nam.
Sau đây là đại diện của các hãng xe có thương hiệu được đánh giá là mạnh và được
yêu chuộng trên thò trường xe gắn máy :
1.3.3.1. Thương hiệu xe gắn máy hãng HONDA Việt Nam :




THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
và tăng số lượng xe sản xuất được lên 1.000.000 chiếc, với sản phẩm này doanh số
của

Wave Alpha
Wave Alpha +
Wave ZX
Super Dream
Future
Future II
Spacy

Dung tích xu
lanh

Phanh

Giá bán

Trước

Sau

(VNĐ)

100cc








24.900.000

125cc

Đóa



24.900.000

102cc

Đóa

Đóa

34.500.000

OBO
OKS
.CO
M

Thương hiệu của
Honda Việt Nam


OBO
OKS
.CO
M

Tóm lại, Honda Việt Nam ngoài việc không ngừng tung ra nhiều thiết kế sản
phẩm mới ngày càng phù hợp với người tiêu dùng Việt Nam, Công ty Honda Việt
Nam cũng không quên phát triển thương hiệu Honda vốn đã ăn sâu vào tiềm thức
người tiêu dùng Việt Nam từ những năm 1965. Vì vậy, công ty Honda Việt Nam đã
chú trọng vào phát triển thương hiệu và nâng cao chất lượng của thương hiệu
Honda Việt Nam, từ đó tăng sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập sắp tới của
Việt Nam.
Thương hiệu xe gắn máy hãng SUZUKI :

Thương hiệu xe gắn máy hãng Suzuki là thương hiệu cả thế giới biết đến và
được đánh giá cao tại hơn 190 quốc gia với nhiều dòng sản phẩm đa dạng như xe
máy, xe ôtô, động cơ tàu thuỷ và các sản phẩm có liên quan khác như máy phát
điện, xe lăn gắn máy và thậm chí cả nhà ở và nhà xưởng làm sẵn. Cho đến nay
thương hiệu Suzuki vẫn tiếp tục giữ vững và phát huy uy tín của mình bằng cách sử
dụng sự sáng tạo như là một lợi thế cạnh tranh chủ yếu trong quá trình phát triển
của mình.
Tập đoàn Suzuki được thành lập vào tháng 3/1920 ở Hamamatsu, Nhật Bản
với tên gọi Suzuki Loom Manufacturing Company. Sau đó, Suzuki gia nhập ngành
kinh doanh xe máy với sản phẩm đầu tiên là xe đạp gắn máy nhãn hiệu “Power
Free” sản xuất năm 1952, và tham gia vào ngành công nghiệp tô từ năm 1955 với
nhãn hiệu xe hơi “Suzulight”, góp phần vào sự ra đời của cuộc cách mạng Ô tô
Nhật Bản.
Công ty Suzuki Việt Nam được thành lập vào tháng 4/1995, đó chính là liên
doanh giữa Công ty Suzuki Motor Nhật Bản, Công ty Nissho Iwai Nhật Bản và

M

chiếc, thành công này là do Suzuki Việt Nam đã không ngừng cải tiến và nâng cao
chất lượng mẫu xe Viva phù hợp với thò hiếu tiêu dùng của người Việt Nam. Cũng
trong năm này, Suzuki Việt Nam cũng phát triển thêm hai mẫu xe ôtô tải mới với
tính năng tải đa dụng đó là Super Carry Window Van và Super Carry Blind Van.
Với quyết tâm không ngừng nâng cao chất lượng thương hiệu, Công ty Suzuki Việt
Nam đã hoàn thành việc phát triển mẫu xe gắn máy mới mang thương hiệu là
Suzuki Best và cải tiến hộp số cho mẫu xe Viva. Vì vậy trong năm 2001, doanh số
xe gắn máy tiêu thụ được đạt 100.000 chiếc và 3000 ôtô tải. Bên cạnh đó, Suzuki
Việt Nam bắt đầu chú ý đến thò trường ôtô khách trong nước và đã cho xuất xưởng
mẫu xe khách mới Wagon R+5.
Đến năm 2003, dưới sự tác động của thò trường xe gắn máy Trung Quốc giá
rẻ và chính sách chính phủ về tỷ lệ nội đòa hoá, Suzuki Việt Nam tung ra mẫu xe
máy chiếc lược với kiểu dáng hiện đại và giá cả hợp lý nhưng chất lượng vẫn được
đảm bảo, đó chính là Suzuki Smash có động cơ 4 thì, 110 phân khối được thiết kế
khí động học và mang những đường nét độc đáo, sắc sảo, gọn gàng với nhiều tính
năng ưu việt. Song song với mẫu xe mới tung ra thò trường, Suzuki Việt Nam cũng
không quên cải tiến và nâng cao lợi ích cho mẫu xe Viva vốn là sản phẩm chủ lực
của Suzuki Việt Nam với thương hiệu mới Viva R nhằm vào thò trường là khách
hàng giới trẻ mang vẻ nam tính hiện đại. Vấn đề đònh vò thương hiệu cho các sản
phẩm của Suzuki Việt Nam được quan tâm rất kỹ. Chính vì vậy doanh số tiêu thụ
tăng lên 200.000 chiếc, và Suzuki Việt Nam cũng tiến hành xuất khẩu sang các
nước trong khu vực Đông Nam Á. Về xe ôtô, số lượng tiêu thụ đạt 6000 chiếc, và
công ty Suzuki Việt Nam cũng tung ra mẫu xe ôtô Vitara, là mẫu xe ôtô du lòch hai
cầu và có động cơ mạnh, nhưng giá bán rất cạnh tranh. Để ngày càng có thể đáp
ứng đủ nhu cầu thò trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, tháng 7 năm 2004
Công ty Suzuki Việt Nam đã quyết đònh đầu tư xây dựng nhà máy mới sản xuất chi
tiết máy và rắp ráp ôtô xe máy nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn thò trường trong
nước và tiến hành xuất khẩu sang các nước trong khu vực.


110cc





15.700.000

Viva

110cc





22.500.000

Viva R

110cc

Đóa



22.500.000

125cc

Thương hiệu xe gắn máy hãng YAMAHA :

Thương hiệu xe gắn máy Yamaha được người tiêu dùng Việt Nam biết đến
trong những năm gần đây, là một hãng đi sau nhưng Yamaha Việt Nam đã có nhiều
thành công trong cuộc chiến giành lấy thò phần và đáp ứng tốt những thi hiếu người
tiêu dùng Việt Nam. Thương hiệu xe gắn máy Yamaha đã tạo bước đột phá cho thò
trường xe gắn máy ở Việt Nam và nhanh chóng giành lấy thò phần lớn trong các
loại xe tay ga vốn rất được người tiêu dùng ở các thành phố lớn thích sử dụng.

KI L

Tập đoàn Yamaha Motor Nhật Bản thành lập vào năm 1955 bởi ng
Genichi Kawakami sinh năm 1912, ông là con trai cả của ông Kaichi Kawakami
chủ tòch Công ty Nippon Gakki (Yamaha Corporation). Sau khi gia nhập Nippon
Gakki năm 1937, ông nhanh chóng đạt được vò trí Giám đốc nhà máy Tenryu
Factory của tập đoàn chuyên sản xuất nhạc cụ, và sau đó trở thành chủ tòch tập
đoàn này vào năm 1950 khi mới 38 tuổi. Đến năm 1953, ông bắt đầu nghiên cứu về
động cơ, và tận dụng những động cơ cánh quạt máy bay được sử dụng từ thế chiến
thứ II. Ông khám phá và thử nghiệm sản xuất nhiều sản phẩm bao gồm máy khâu,
phụ tùng ôtô, xe Scooter và xe gắn máy. Chưa đầy mười tháng sau, sản phẩm đầu
tiên ra đời đó chính là xe gắn máy YA-1, được làm nguội bằng không khí, 2 thì,
xylanh đơn 125cc. Với niềm tin này Công ty Yamaha Motor được chính thức thành
lập và tách ra khỏi Yamaha Corporation. Trong những năm tiếp theo, Yamaha tiếp
tục phát triển và mở rộng hoạt động của mình với sự đa dạng về sản phẩm. Cho
Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

21




1% thò phần trong năm 2000.

KI L

Tiếp sau đó, Yamaha Việt Nam lại tung ra sản phẩm mới mang thương hiệu
Jupiter cũng đạt được thành công không kém. Với thương hiệu Jupiter, Yamaha
Việt Nam ngày càng được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng và hệ thống nhà
phân phối được Yamaha Việt Nam quan tâm phát triển mạnh khắp cả nước. Với
phương châm là theo dõi và nắm bắt kip thông tin thò trường thông qua hệ thống
Đại lý, giúp Yamaha Việt Nam hiểu biết những chuyển biến và sở thích người tiêu
dùng tốt nhất. Chính vì thế, ngay trong năm 2002-2003, Yamaha Việt Nam đã tiến
hành cải tiến mẫu mã xe Jupiter R vốn được người tin cậy và cho ra sản phẩm
Jupiter V. Song song với hoạt động này, Yamaha lại tung ra hai mẫu xe mới là
Novou Automatic và Mio, có công nghệ hộp số tự động, kiểu dáng thời trang và
mạnh mẽ phù hợp với giới trẻ cả nam lẫn nữ, đó là hai mẫu xe bán chạy nhất hiện
nay. Nếu tính riêng mẫu xe Novou, lượng xe bán ra cho đến nay lên đến 60.000
chiếc, chiếm 0.6% tổng số xe máy hiện nay tại Việt Nam.
Với thành công này, thò phần của Yamaha Việt Nam không ngừng tăng trong
năm 2003, chiếm khoảng 10%, và Yamaha Việt Nam không ngừng phát triển hai
mẫu xe này ngày càng phù hợp với tiêu dùng người Việt Nam. Đầu năm 2004,
Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

22



THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

OBO
OKS


Giá bán

Trước

Sau

(VNĐ)

100cc

Đóa



21.500.000

110cc





26.200.000

110cc

Đóa






24.000.000

113,7cc

Đóa



25.200.000

KI L

Novou Automatic

Dung tích xu
lanh

Yamaha Việt Nam không ngừng xây dựng những chính sách Marketing hiện
đại nhằm vào người tiêu dùng và nâng cao lòng tin về thương hiệu Yamaha chất
lượng tuyệt đối, kiểu dáng thời trang, và năng động. Đó chính là hình ảnh của
thương hiệu Yamaha được xây dựng thành công nhất cho khúc thò trường giới trẻ.
Thành công của Yamaha Việt Nam cho thấy được vai trò thương hiệu và những
chương trình Marketing hiệu quả đã giúp cho hình ảnh thương hiệu Yamaha chiếm

Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

23

xe/năm. Hiện nay, công ty VMEP đã có đội ngũ nhân viên lên đến 1.300 người và
có 160 Đại lý chính thức và 600 điểm bán xe trên toàn quốc. Ngoài ra công ty
VMEP đang triển khai dự án sản xuất xe ôtô và xây dựng trung tâm nghiên cứu
phát triển SYM tại Tỉnh Đồng Nai, riêng trung tâm nghiên cứu phát tirển xe gắn
máy tại Việt Nam chiếm tổng vốn khoảng 38.500.000 USD. Sau mười hai năm hoạt
động kinh doanh sản xuất xe gắn máy tại thò trường Việt Nam, công ty VMEP đã
gặt hái được nhiều thành công.

KI L

Ngay sau khi thành lập và xây dựng xong nhà máy sản xuất, công ty VMEP
quyết đònh tung ra sản phẩm Angel với công nghệ Đài Loan, doanh thu tăng nhanh
chóng, với sản phẩm này người tiêu dùng có thu nhập trung bình vào năm 1996 đã
có thể mua được. Ngay sau đó năm 1997, VMEP quyết đònh tung ra sản phẩm xe
máy có thương hiệu Magic 100cc, sản phẩm này cũng được người tiêu dùng hưởng
ứng tiêu dùng. Bước đầu thương hiệu SYM được người tiêu dùng Việt Nam chấp
nhận, vì thế số lượng xe tiêu thụ tăng lên nhanh chóng, chiếm 12% thò phần xe gắn
máy trong nước. Những năm tiếp theo, do sản phẩm SYM được sản xuất theo tiêu
chuẩn Đài Loan, mà người tiêu dùng Việt Nam đã quen sử dụng sản phẩm xe gắn
máy và các linh kiện thay thế theo chuẩn quốc tế có thể thay thế cho tất cả các
dòng xe máy cùng loại. Chính vì thế, trong những năm 2000 đến 2001 Công ty
VMEP gặp nhiều khó khăn cho các mẫu xe và cả thương hiệu SYM, bởi gặp cạnh
tranh của thò trường xe máy Trung Quốc với các linh kiện sản xuất theo chuẩn quốc
tế. Mãi đến năm 2002, VMEP quyết đònh đầu tư sản xuất công nghệ chuẩn hoá, cải
Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

24




Execl
Attila
Attila Victoria

Phanh

Dung tích xu
lanh

Trước

Sau

Giá bán
(VNĐ)

110cc
110cc

Đóa





19.200.000
15.400.000

100cc
100cc

một thương hiệu SYM mang tiêu chuẩn quốc tế, bởi lẻ không những SYM được
bán tại thò trường Việt Nam mà còn được xuất đi khắp nơi trên thế giới. Với mục
tiêu xây dựng SYM là thương hiệu mạnh, hãng VMEP đã không ngại đầu tư vào
khâu nghiên cứu phát triển mẫu mã cũng như việc đánh giá tốt thò hiếu người tiêu
dùng sản phẩm xe gắn máy tại thò trường Việt Nam và các nước khác trong khu
vực.
Nguyễn Hoàng Xuân Thảo

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status