Bộ t pháp
Trờng đại học luật hà nội
Tiểu luận
Môn luật kinh tế
Đề tàI: Công ớc về quyền trẻ em Việt nam và Chơng trình Hành động
quốc gia Vì trẻ em Việt Nam
Họ và tên: Nguyễn Anh Đức
Lớp
: K5 ĐH Luật Hà Nội
Hà nội - 2003
Công ớc về quyền trẻ em Việt Nam và Chơng trình
Hành động quốc gia Vì trẻ em Việt Nam
Ngày 26/11/1990 Việt nam ký công ớc quyền trẻ em và ngày
20/2/1990 Việt nam hoàn chỉnh thủ tục pháp lý phê chuẩn công ớc này. Việt
Nam là nớc thứ hai trên thế giới và là nớc đầu tiên ở Châu á phê chuẩn công
ớc của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em.
Công ớc quyền trẻ em là văn bản có tính chất rằng buộc pháp lý theo
luật pháp quốc tế của các nớc thành viên Liên Hợp Quốc, là sự đồng thuận
của cả cộng đồng quốc tế về các quyền đợc xác định của trẻ em. Đây là công
ớc đầu tiên đề cập toàn diện các quyền trẻ em theo hớng tiến bộ, trên cơ sở
thừa nhận trẻ em có quyền đợc cham sóc và giúp đỡ đặc biệt.
Tại Việt Nam, công ớc đã trở thành cơ sở pháp lý đợc thể hiện trong
nhiều văn bản pháp luật. Công ớc thực sự đi vào đời sống xã hội với những
pháp chiến lợc có tính chất cấp bách nhất về bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ
em trong 10 năm.
Nguyên tắc thứ t: Phối hợp với nhiều ngành chức năng, các tổ chức
chính trị xã hội, các tổ chức quốc tế để cùng xây dựng nội dung của Chơng
trình.
Mục tiêu của Chơng trình Hành động quốc gia Vì trẻ em Việt Nam
(1991- 2000)
Chơng trình gồm 4 mục tiêu lớn và 7 mục tiêu cụ thể.
4 mục tiêu lớn: Sức khoẻ cho mọi trẻ em; Giáo dục cho mọi trẻ em;
Chăm lo đời sống văn hoá tinh thần cho trẻ em; Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn.
7 mục tiêu cụ thể: Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dới 1 tuổi từ 46%0 ( năm
1991) xuống dới 30%0 ( năm 2000) và giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em dới 5
tuổi từ 81%0 (năm 1991) xuống 55%0 ( năm 2000).
- Giảm tỷ lệ bà mẹ tử vong liên quan tới thai sản từ 110/ 100.000 ( năm
1990) xuống 40% (năm 1995) xuống 70/100.000 ( năm 2000).
- Giảm tỷ lệ suy dinh dỡng ( thiếu cân ) ở trẻ em dới 5 tuổi từ 51,5%
( năm 1991) xuống 40% ( năm 1995) và dới 30% ( năm 2000 ), thanh toán
thể suy dinh dỡng rất nặng vào năm 2000.
-Nâng tỷ lệ dân c dùng nớc sạch của thành phố từ 43% ( năm 1990 )
lên 82% và ở vùng nông thôn từ 40% lên 80% ( năm 2000).
- Phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em nhằm đạt mức 90% số trẻ em
học xong tiểu học trớc tuổi 15, số còn lại học xong lớp 3, không để trẻ mù
chữ khi bớc vào tuổi 15 vào năm 2000.
- Chăm lo cuộc sống tinh thần, văn hoá và phát triển vui chơI lành
mạnh ở mọi trẻ em.
- Tăng cờng chăm sóc và quan tâm tới trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn ( trẻ mồ côI, lang thang, cơ nhỡ, trẻ tàn tật, hậu quả chiến tranh)
1991- 2000, với sự nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, sự nghiệp bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em đã có nhiều tiến bộ. Các chỉ số về sức khỏe bà
mẹ và trẻ em đợc cảI thiện rõ rệt. Công tác chăm lo giáo dục, học tập đợc
quan tâm nhiều hơn, đặc biệt là các đối tợng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn, trẻ em các vùng khó khăn. Đời sống văn hoá tinh thần, vui chơi
giải trí cho trẻ em đợc cải thiện một bớc. Nhìn chung, hầu hết các chỉ tiêu cơ
bản và chỉ tiêu biện pháp đều đạt và vợt mức mục tiêu đề ra.
Về sức khỏe cho trẻ em:
Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dới 5 tuổi ( vợt kế hoạch đề ra 13%0). Tỷ lệ
tiêm chủng mở rộng 6 loại vắc xin cho trẻ dới 1 tuổi tiêm là 93,3% ( mục tiêu
là 90%); Tỷ lệ trẻ bị mắc và chết do sởi giảm ( vợt mục tiêu đề ra ). Thanh
toán các bệnh thiếu Vitamin A ở trẻ em đạt 100%. Tỷ lệ trẻ sơ sinh có cân
nặng thấp dới 2.500 g giảm còn 7,27% ( mục tiêu là 9%). Năm 2000, Việt
Nam tuyên bố với thế giới thanh toán bệnh bại liệt ở trẻ em dới 5 tuồi.
Tỷ lệ trẻ em dới 5 tuổi bị suy dinh dỡng ở nớc ta còn cao. Tỷ lệ chết của
trẻ em dới 1 tuổi xa cha đợc đến trờng; trẻ em khuyết tật cha có cơ hội đợc
giáo dục hoà nhập cộng đồng; số trẻ mù chữ trớc tuổi 15 còn nhiều, tập trung
ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; việc thu hút trẻ em đI học trong
diện thiệt thòi, đặc biệt là trẻ em khuyết tật, trẻ em dân tộc ở các vùng khó
khăn, vùng núi, vùng xa còn rất thấp.
Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn:
Trong thập kỷ qua, số lợng và đối tợng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn
cần đợc bảo vệ và quan tâm chăm sóc không ngừng tăng lên do tác động tiêu
cực của kinh tế thị trờng. Đến nay, đã đạt đợc mục tiêu 70% trẻ em không
nơi nơng tựa đợc chăm sóc, trong đó có 40% đợc chăm sóc tại gia đình và
cộng đồng, 30% đợc chăm sóc tại các trung tâm Bảo trợ xã hội, đợc hớng
chính sách thờng xuyên của Nhà nớc. 100% trẻ em hồi hơng hợp pháp đợc
chăm sóc, tái hoà nhập; trên 80% trẻ em sứt môI, hở hàm ếch đợc phẫu thuật.
218 em đạt giải ( chiếm 81,2%). Trong 177 giải, có 37 huy chơng vàng, 72
huy chơng bạc, 63 huy chơng đồng và 5 khuyến khích.
Thông qua các cuộc thi hàng năm đã có hàng triệu em đoạt giải th ởng, các danh hiệu cao quý: 5 năm qua đã có gần 3.000 em đợc nhận giảI thởng Kim Đồng, hơn 100 em đợc tặng Huy chơng tuổi trẻ dũng cảm, 11 em
đã có vinh dự là đại biểu về dự Đại hội anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn quốc
lần thứ VI.
Mỗi năm có khoảng 180- 200 trẻ em dới 16 tuổi đạt đợc huy chơng
trong các giải thể thao quốc gia và quốc tế, chiếm 60- 65% tổng số ngời đạt
huy chơng trong thi đấu thể thao.
Về lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, nhiều em đạt các giải thởng lớn trong
các kỳ thi quốc tế nh: em Bùi Công Duy, giải nhất Traikôpxki dành cho lứa
tuổi thiếu nhi tại Liên bang Nga năm 1997; em Nguyễn Hoàng Phơng, giải
nhất cuộc thi âm nhạc quốc tế lần thứ 6 mang tên Takasaki tổ chức tại Tôkyô
( Nhật Bản ) năm 1999; em Hoàng Linh Chi giải nhất Cuộc thi quốc tế mở
rộng các nhóm độc tấu, sáng tác tổ chức tại Liên bang Nga 3- 2000
Cùng với sự phát triển trí tuệ, thể chất, tài năng, các em đã tích cực tham
gia các hoạt động xã hội nh: Nói lời hay, làm việc tốt, áo lụa tặng bà,
Vợt khó, học tốt, Đôi bạn cùng tiến, Đôi bạn điểm 10, phát huy truyền
thống dân tộc, dũng cảm vợt khó trong cuộc sống, trong học tập và rèn luyện.
Xuất hiện nhiều tấm gơng dũng cảm của tuổi nhỏ Việt Nam quên mình cứu
bạn trong bão lũ ác liệt, không sợ hy sinh, cùng với cô bác, anh chị đấu tranh
chống tiêu cực của xã hội, bảo vệ tàI sản của Nhà nớc, của nhân dân.
Những chính sách hỗ trợ thực hiện Chơng trình hành động quốc gia
vì trẻ em
Trong thập kỷ qua, Đảng, Chính phủ, các ngành các cấp và nhân dân ta
luôn luôn phấn đấu cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bằng
các việc làm cụ thể. Ngày 12- 8- 1991 Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em. Để giữ vững cam kết của Chính phủ đã ký trong
hội nghị thợng đỉnh tại New York tháng 9- 1990 vì sự sống còn, bảo vệ và
với các mục tiêu của khoá họp đặc biệt của Đại Hội đồng Liên hợp quốc là
đảm bảo cho mọi trẻ thơ có cuộc sống khởi đầu tốt đẹp; mọi trẻ em trai và
gáI đều có cơ hội tiếp thu nền học vấn chất lợng; trẻ em cha thành niên có cơ
hội đợc bảo vệ, phát triển các năng lực và đợc tham gia vào các quyết định
liên quan đến cuộc sống của mình và của cộng đồng mình sống.
Mục tiêu tổng quát của Chơng trình Hành động quốc gia Vì trẻ em
Việt Nam giai đoạn2001- 2010
Đảm bảo tốt hơn nhu cầu và những quyền cơ bản của trẻ em, phấn đấu
cho một môI trờng an toàn để trẻ em Việt Nam có cơ hội đợc bảo vệ, chăm
sóc phát triển toàn diện, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, tiến tới ngăn
chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại trẻ em, tập trung vào các lĩnh vực: sức
khoẻ và dinh dỡng cho tuổi thơ, nớc sạch, vệ sinh môi trờng, giáo dục cơ bản
có chất lợng, bảo vệ trẻ em, và văn hoá vui chơi cùng sự tham gia tích cực
của trẻ em.
* Các mục tiêu cụ thể:
Về sức khoẻ, dinh dỡng cho tuổi thơ
Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em dới 1 tuổi từ 36,7%0 xuống còn 30%0 vào
năm 2005 và xuống dới 25%0 vào năm 2010. Tơng ứng, giảm tỷ lệ tử vong
trẻ em dới 5 tuổi từ 42%0 xuống 36%0 và xuống dới 32%0;
Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản từ 100/ 100.000 xuống
còn dới 80/ 100.000 năm 2005 và dới 70/ 100.000 vào năm 2010;
Giảm tỷ lệ suy dinh dỡng trẻ em dới 5 tuổi từ 33,1% xuống 25% vào
năm 2005 và dới 20% vào năm 2010.
Về nớc sạch và môi trờng
Đảm bảo đến năm 2005 có 80% và đến năm 2010 có 85% dân số nông
thôn đợc sử dụng nớc hợp vệ sinh với số lợng 60 lít/ ngời/ ngày; tơng tự, ở
thành thị là 85% và 90%.
50% hộ gia đình và dân c nông thôn sử dụng hỗ xí vệ sinh vào năm
lên 65% và 70%; giảm tai nạn thơng tích ở trẻ em đến mức tối đa.
Giảm tỷ lệ trẻ em thuộc các đối tợng có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó trẻ
em xin ăn, lao động nặng nhọc độc hại, trẻ em sử dụng ma tuý, trẻ em phạm
tội đặc biệt nghiêm trọng xuống 70% vào năm 2005 và 90% vào năm 2010;
giảm dần trẻ em bị buôn bán, trẻ em bị hiếp dâm vào năm 2005 và tiến đến
giảm 100% vào năm 2010; phòng ngừa trẻ em bị lây nhiễm HIV/ AIDS.
- Nâng tỷ lệ trẻ em đợc khai sinh trớc 5 tuổi từ 72% lên 80% vào năm
2005 và 90% vào năm 2010.
Về văn hoá vui chơi và sự tham gia tích cực của trẻ em, vị thành niên
Nâng tỷ lệ xã, phờng có đIểm vui chơi từ 30% lên 50% vào năm 2005
và 100% vào năm 2010, trong đó đủ tiêu chuẩn tơng ứng là 30%, 40% và 50%.
Nâng tỷ lệ quận, huyện có trung tâm vui chơi đợc tổ chức, quản lý từ
50% lên 75% vào năm 2005 và 100% vào năm 2010.
Tăng số lợng trẻ em đợc tham gia sinh hoạt câu lạc bộ và các hoạt động
lành mạnh của trẻ em; tăng tỷ lệ trẻ vị thành niên tình nguyện tham gia các
hoạt động văn hoá xã hội bổ ích.
(Nguồn t liệu: Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam)
Cùng với hoạch định chơng trình, nội dung, giải pháp, Đảng và Nhà nớc
đã chỉ đạo hơn 10 Uỷ ban, Bộ, ngành cùng tất cả các địa phơng có trách
nhiệm phối hợp thực hiện với nguồn kinh phí dự kiến gần 50 tỉ đồng.
Trong khoá họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên hợp quốc về trẻ em đợc
tổ chức tại New York, Phó Chủ tịch nớc Nguyễn Thị Bình đã đại diện cho
Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cam kết rằng Chúng tôi cam
kết sẽ tiếp tục nâng cao trách nhiệm của chính quyền các cấp và đồng thời sẽ
huy động sự tham gia mạnh mẽ hơn của mỗi gia đình, cộng đồng đối với chơng trình vì trẻ em. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để đảm bảo cho trẻ em
chúng tôI một cuộc sống xứng đáng, hạnh phúc với phơng châm: Giành
những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em chúng ta./.