SINH VIÊN NGÀNH QUẢN LÝ GIÁO DỤC, HỌC VIỆN QUẢN LÝ
GIÁO DỤC TỰ HỌC NHƯ THẾ NÀO TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ?
GV. Đậu Thị Hồng Thắm.
Bộ môn: Khoa học quản lý
LỜI MỞ ĐẦU
Năm học 2014- 2015, Học viện Quản lý giáo dục sẽ bắt đầu thay đổi phương
thức đào tạo chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
Đây là một sự thay đổi tích cực, phù hợp với quy định của Bộ giáo dục và đào tạo
cũng như xu thế phát triển của thời đại.
Việc chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ sẽ tạo ra sự
thay đổi lớn về phương pháp, thói quen dạy – học của người dạy và người học. Đối
với hình thức dạy học này thì giờ giảng trên lớp của giảng viên giảm xuống đồng
thời tăng giờ tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Vì vậy, khi áp dụng đào tạo theo
hệ thống tín chỉ việc tự học, tự nghiên cứu của sinh viên có vai trò hết sức quan
trọng, mang tính quyết định đến hiệu quả chất lượng đào tạo.
Sinh viên Khóa 8 nói chung và sinh viên Khóa 8 ngành Quản lý giáo dục nói
riêng sẽ là khóa sinh viên đầu tiên của Học viện Quản lý giáo dục được đào tạo
theo hệ thống tín chỉ. Đây vừa là một cơ hội lại vừa là một thách thức không nhỏ vì
các em đang quen với cách học thời phổ thông có sự dìu dắt và giám sát của thầy
cô giáo nay lại phải hoàn toàn chủ động và tự chịu trách nhiệm về việc học tập của
mình. Nếu không được định hướng và hướng dẫn kịp thời các em sẽ dễ rơi vào tình
trạng bị động, mất phương hướng ảnh hưởng lớn tới chất lượng học tập.
1
Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Sinh viên ngành Quản lý giáo dục,
Học viện Quản lý giáo dục tự học như thế nào trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”
làm chủ đề nghiên cứu với mong muốn đề xuất được những gợi ý, những định
hướng giúp sinh viên tự học hiệu quả trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc
đồ án, khoá luận tốt nghiệp”.
2. Đặc trưng của phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ và yêu cầu tự
học của sinh viên.
2.1. Đặc trưng của phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ.
Đào tạo theo hệ thống tín chỉ bắt đầu được áp dụng tại trường Đại học
Harvard, Hoa kỳ vào năm 1872, sau đó dần được mở rộng ra khắp Bắc Mỹ và thế
giới. Ở Việt Nam, Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020
được Chính phủ phê duyệt đã khẳng định: “… xây dựng hệ thống tín chỉ thích hợp
cho giáo dục đại học ở nước ta và vạch ra lộ trình hợp lý để toàn bộ hệ thống giáo
dục đại học chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ…”. Tại Chỉ thị năm học
2008 – 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chính thức yêu cầu các trường đại học và
cao đẳng “chuyển sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ vào năm học 2009 – 2010
hoặc muộn nhất là năm học 2010 – 2011”. Đây được coi là phương thức đào tạo
tiên tiến với những đặc trưng như sau:
- Kiến thức được cấu trúc thành những module (học phần)
- Qúa trình học tập là sự tích lũy kiến thức của sinh viên theo từng học phần.
- Đăng ký học vào đầu học kỳ, lớp học tổ chức theo từng học phần.
- Mỗi năm học có thể chia thành 2 kỳ chính, 1 kỳ hè.
3
- Đánh giá thường xuyên, thang điểm 4 bậc (A, B, C, D hay 4, 3, 2, 1)
- Quy định khối lượng kiến thức phải tích lũy cho từng văn bằng. Xếp năm
học của sinh viên theo khối lượng tín chỉ đã tích lũy.
- Có hệ thống cố vấn học tập để tư vấn cho sinh viên đăng ký môn học cũng
như trong quá trình học tập.
- Không có thi tốt nghiệp, không bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đối với các
chương trình đào tạo cao đẳng và đại học.
- Phương thức quản lý sinh viên thay đổi (theo hệ thống cố vấn học tập, theo
trình đào tạo.
- Học theo nhóm là phương pháp học tập phổ biến trong phương thức đào tạo
theo tín chỉ. Để tham gia thảo luận nhóm hiệu quả đòi hỏi mỗi sinh viên phải tích
cực tự học, tự tìm kiếm thông tin nghiên cứu vấn đề.
- Hoạt động kiểm tra, đánh giá trong học chế tín chỉ diễn ra với tần suất lớn,
thường xuyên, nhiều nội dung đòi hỏi sinh viên phải thật tập trung, lao động học
tập với hiệu suất lớn mới đáp ứng được yêu cầu và nâng cao kết quả học tập.
Từ những đặc điểm trên cho thấy, phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ
có nhiều điểm khác biệt so với phương thức đào tạo theo niên chế. Nếu như ở
phương thức đào tạo theo niên chế, kế hoạch cũng như mọi hoạt động đào tạo được
nhà trường sắp xếp sẵn buộc sinh viên phải “chạy theo”, thì ở phương thức đào tạo
theo tín chỉ lại ngược lại, phần chủ động và quyền lựa chọn thuộc về sinh viên.
Sinh viên được tự xây dựng một tiến độ học tập riêng trong khung thời gian cho
phép dựa trên hoàn cảnh và năng lực, được tự chọn môn học theo sở thích, thế
5
mạnh và nhu cầu của bản thân, dễ dàng liên thông, liên kết với các chương trình
học tập khác hay cùng lúc học hai chương trình…
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế thì phương thức đào tạo theo hệ thống tín
chỉ cùng đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt đối với sinh viên. Trước hết, sinh viên
phải xác định đúng mục tiêu học tập, từ đó nghiên cứu, xây dựng kế hoạch học tập
cho bản thân theo từng kỳ học và năm học. Kế hoạch này chính là “một bản đồ”
học tập trên đó sinh viên có thể chọn tuyến đi, cách đi và tốc độ đi tới đích của
mình căn cứ vào mục đích, sở thích và điểm mạnh – yếu cụ thể. Sinh viên phải suy
nghĩ nghiêm túc và có biện pháp phù hợp để hoàn thành được kế hoạch và mục
tiêu mình đặt ra. Đặc biệt, sinh viên phải chủ động tự học, tự nghiên cứu trau dồi
kiến thức cho mình vì trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, số giờ giảng trên lớp
không nhiều như trong đào tạo theo niên chế, trong khi yêu cầu cao về chất lượng
do đó giờ tự học rất quan trọng. Ở phương thức đào tạo này, giảng viên chỉ là
tin này thông qua đội ngũ thầy cô cố vấn học tập, qua đề cương chi tiết môn học.
Qua đó sinh viên có cơ sở cho việc đăng ký môn học phù hợp với năng lực, điều
kiện cá nhân.
- Xác định mục tiêu cho từng môn học trong học kỳ đó. Tức là học môn học
đó, sinh viên muốn đạt được những gì, ở mức độ nào. Lưu ý, mục tiêu cần phải cụ
thể, dễ hiểu, đo lường được, thực tế, vừa sức, khả thi và có hạn định. Mục tiêu mà
sinh viên xây dựng sẽ quyết định đến hành động của mỗi người.
- Tìm nguồn tài liệu phục vụ môn học: Dựa trên sự hướng dẫn của cố vấn học
tập, theo đề cương chi tiết, đặc biệt là sự giới thiệu của giảng viên trực tiếp đứng
lớp sinh viên có thể tìm kiếm nguồn tài liệu phục vụ môn học. Không nên giới hạn
địa chỉ tìm kiếm tài liệu ở Thư viện Học viện mà cần mở rộng phạm vi tìm kiếm
7
như ở Viện Khoa học giáo dục, Thư viện Đại học quốc gia… để có nguồn tài liệu
phong phú hơn.
- Sinh viên nên học từ đầu và chia đều thời gian cho các môn, không nên để
gần thi mới học vì bản chất của quá trình ghi nhớ là quá trình tái tạo đi, tái tạo lại
những hình ảnh của sự vật, hiện tượng lên vỏ não.
- Nghiên cứu tài liệu trước khi đến lớp: Việc nghiên cứu tài liệu trước khi đến
lớp sẽ giúp sinh viên nắm được một cách tổng quát nội dung bài học, từ đó có thể
hiểu và khắc sâu hơn những nội dung giảng viên giảng. Mặt khác, nghiên cứu tài
liệu trước khi đến lớp sẽ giúp sinh viên xác định được những vấn đề khó, hay
những băn khoăn trong quá trình đọc tài liệu, từ đó có thể hỏi giảng viên giải đáp
ngay trên lớp.
- Tập trung lắng nghe và tích cực trao đổi khi học trên lớp. Thời gian lên lớp
trong đào tạo tín chỉ không nhiều cho nên sinh viên cần tận dụng thời gian này, tập
trung lắng nghe bài giảng và sự hướng dẫn của giảng viên, ghi chép một cách hợp
lý những lý giải, phân tích của giảng viên. Đặc biệt để hiểu bài hơn, mạnh dạn hơn,
rèn luyện kỹ năng thuyết trình tốt hơn, sinh viên nên tích cực trao đổi, tương tác
trong đào tạo tín chỉ theo những định hướng này, sinh viên cần phải lưu ý đến một
số vấn đề sau:
1. Mỗi sinh viên cần phải biết, hiểu đúng và nắm chắc các quy định của quy
chế đào tạo theo hệ thống tín chỉ và những quy định của Học viện, của Khoa về
việc đăng ký lớp, lựa chọn môn học, về kiểm tra – đánh giá… nhằm đảm bảo việc
thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời.
9
2. Mỗi sinh viên cần phải xác định đúng hoàn cảnh và năng lực của bản thân
để xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tập phù hợp, tránh tình trạng không hiểu rõ
về bản thân, đăng ký quá nhiều môn học dẫn đến quá tải, bỏ dở một số môn gây
mất thời gian, công sức…
3. Vì đào tạo theo hệ thống tín chỉ là sinh viên hoàn toàn chủ động trong kế
hoạch học tập của mình nên mỗi sinh viên cần có ý thức cập nhật thông tin về học
tập từ Khoa, từ Học viện thông qua nhiều kênh khác nhau.
4. Những điều kiện hỗ trợ sinh viên trong quá trình tự học trong đào tạo
theo hệ thống tín chỉ.
Để sinh viên tự học hiệu quả trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ, ngoài sự nỗ
lực của bản thân sinh viên thì những yếu tố bên ngoài cũng rất quan trọng. Cụ thể:
- Về phía giảng viên: Trong phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ số giờ
giảng dạy trực tiếp trên lớp của giảng viên sẽ giảm đi, nhưng điều đó không có
nghĩa là vai trò của giảng viên giảm xuống. Ngược lại, sinh viên có tự học thành
công hay không phụ thuộc rất nhiều vào người giảng viên. Trước hết, giảng viên
phải cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết môn học trong đó mô tả rõ mục tiêu,
nội dung chính, hệ thống học liệu, cách kiểm tra – đánh giá... đặc biệt giảng viên
phải hướng dẫn cách học môn học đó cho sinh viên. Đồng thời, giảng viên cần đề
xuất những chủ đề thảo luận yêu cầu sinh viên tìm hiểu trước, sau đó dành thời
gian để sinh viên được thể hiện kết quả tìm hiểu của mình... Muốn sinh viên tích
trọng, có thể coi nó là yếu tố quyết định hiệu quả học tập của sinh viên. Chính vì
vậy, mỗi sinh viên cần có ý thức rèn luyện, trau dồi và phát huy khả năng tự học
trong quá trình tích lũy tín chỉ, nhằm đạt được mục tiêu bản thân đã đặt ra.
11
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ GD&ĐT (2007), Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng chính quy theo hệ
thống tín chỉ, ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ/BGDĐT ngày 15 tháng 8
năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.
2. Lê Khánh Bằng, Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đại học, Đại
học sư phạm Hà Nội.
3. Nguyễn Cảnh Toàn (1999). Qúa trình dạy, tự học, NXB giáo dục, Hà Nội).
12