1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với bất cứ doanh nghiệp nào trên thế giới, marketing là một trong những
khâu hết sức quan trọng góp phần giúp doanh nghiệp tạo dựng và quảng bá thương
hiệu của mình. Bất kể ở giai đoạn nào của nền kinh tế, marketing luôn được các nhà
quản trí đặt vai trò quan trọng. Thậm chí ngay cả trong cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu vừa qua, các doanh nghiệp đã phải cắt giảm chi phí về mọi mặt, tuy nhiên
chi phí marketing không chịu ảnh hưởng quá lớn. Thông qua marketing, các doanh
nghiệp có thể tiếp cận các khách hàng tiềm năng, củng cố niềm tin từ các khách
hàng cũ, khiến họ trở thành khách hàng trung thành của sản phẩm, thậm chí của
công ty để nâng cao doanh số và lợi nhuận cũng như giá trị của doanh nghiệp và các
đối tác kinh doanh. Chính vì lẽ đó, các nghiên cứu về marketing chưa bao giờ được
dừng lại và cũng chưa bao giờ được xem là lỗi thời dù khái niệm marketing đã được
hình thành từ rất lâu.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hôm nay với các công nghệ ngày càng phát
triển, ngày càng nhiều người sử dụng Internet và dành thời gian cho nó không chỉ
như một phương tiện giải trí mà còn là một cách thức tra cứu thông tin, tìm hiểu và
tiếp cận sản phẩm. Hơn thế nữa, các kênh truyền thông xã hội ngày càng đóng vai
trò quan trọng trong cuộc sống của những cư dân mạng. Không ít nghiên cứu cho
thấy người ta tiêu tốn một khối lượng thời gian rất lớn vào các trang xã hội. Từ đó
có thể cho thấy, đây là một mảnh đất đầy tiềm năng để các doanh nghiệp tiếp cận
khách hàng của mình thông qua các phương pháp marketing hiện đại. Các phương
thức marketing không ngừng được cải tiến và phát triển, các hình thức marketing
mới ứng với các ứng dụng công nghệ mới cũng được nghiên cứu và áp dụng. Nắm
bắt tình hình đó, các nhà làm marketing trên thế giới đã tìm hiểu về phương thức
marketing điện tử và đặc biệt là marketing thông qua truyền thông xã hội và ứng
dụng nó rộng rãi trong thập kỉ gần đây. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn tương đối
chậm chân so với các nước trên thế giới xét về vấn đề nay. Chỉ có một số ít doanh
đây, riêng về marketing bằng truyền thông xã hội chỉ mới xuất hiện gần nhất là 3
năm trở lại, như The Social Media Marketing Book của Dan Zarrela vào năm 2009,
The Zen of Social Media của tác giả Shama Hyder Kabani và Chris Brogan năm
2010…. Các sách được xuất bản, in ấn và phát hành bằng tiếng Anh về truyền thông
xã hội nổi bật chưa thực sự nhiều. Theo người viết nghiên cứu thì chỉ khoảng 30
đầu sách được đọc và tin tưởng nhiều nhất. Khảo sát của socialmediaexaminer.com
đã cho thấy số lượng những người làm marketing bằng truyền thông xã hội có kinh
3
nghiệm trên 3 năm là rất ít, và đây cũng có lẽ là một trong những lí do khiến những
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này chưa được thực hiện.
Các nghiên cứu chủ yếu là bằng tiếng Anh và nguồn tài liệu chuyên sâu về
marketing bằng truyền thông xã hội và truyền thông xã hội được xuất hiện nhiều
nhất là trên mạng, đặc biệt có khá nhiều trang web chỉ chuyên sâu về truyền thông
xã hội có đề cập đến marketing bằng truyền thông xã hội một cách cụ thể với các ví
dụ (case study) dễ hiểu và thuyết phục cũng như đưa ra các khảo sát quan trọng về
truyền thông xã hội như trang web socialmedia.com hay socialmediaexaminer.com.
Ngoài ra cũng có các trang web uy tín đánh giá mức độ phổ biến và thành công của
các công cụ truyền thông xã hội như Technorati, Blogvideo, v.v….
Riêng về các tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Việt, marketing bằng truyền thông
xã hội chỉ được đề cập ở những trang báo hoặc website của những công ty chuyên
về truyền thông xã hội và nếu có đề cập đến thì cũng hết sức sơ lược và tổng quát,
chưa đi sâu vào nghiên cứu. Bên cạnh đó cũng có một số bài phỏng vấn các ý kiến
chuyên gia marketing nhưng mỗi bài chỉ giới hạn bởi một trang báo mạng và như
vậy rõ ràng chưa đủ đề truyền đạt những cái hay của marketing bằng truyền thông
xã hội. Tuy vậy, vẫn có những nguồn cung cấp thông tin về khảo sát việc sử dụng
truyền thông xã hội của doanh nghiệp, trang web đáng tin cậy như Vinalink. Nhờ
vào nguồn tài liệu này mà người viết có thể nghiên cứu thói quen của người Việt
bại điển hình của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu: đề tài nghiên cứu lí do thành công cũng như thất bại
của các doanh nghiệp áp dụng marketing bằng truyền thông xã hội trên thế giới
thông qua các công cụ điển hình để rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh
nghiệp tại Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: người viết sử dụng phương pháp tổng hợp, phân
tích và so sánh các số liệu cũng như thông tin thu thập được từ các nghiên cứu, bài
viết trên các tạp chí khoa học, sách, báo và trang web của các tác giả trên thế giới
cùng những báo cáo, khảo sát của các doanh nghiệp và trang web chuyên nghiên
cứu về truyền thông xã hội. Bên cạnh đó, người viết cũng ứng dụng phương pháp
phân tích ví dụ điển hình để rút ra bài học kinh nghiệm phù hợp cho các doanh
nghiệp Việt Nam trong việc marketing qua truyền thông xã hội.
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về marketing bằng truyền thông xã hội
Chương 2: Tình hình các doanh nghiệp trên thế giới áp dụng marketing bằng
truyền thông xã hội và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp tại Việt Nam
5
Chương 3: Giải pháp vận dụng bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp
ứng dụng marketing bằng truyền thông xã hội tại Việt Nam
7. Lời cảm ơn
Trong quá trình tham gia thực hiện khóa luận, người viết đã nhận được sự hỗ
trợ nhiệt tình từ phía trường Đại Học Ngoại Thương Cơ Sở II thành phố Hồ Chí
nắm rõ hai khái niệm cơ bản “marketing” và “truyền thông xã hội” để từ đó hiểu rõ
khái niệm “marketing bằng truyền thông xã hội”.
1.1.1
Khái niệm marketing
Marketing là một khái niệm có tính linh hoạt và thay đổi theo thời gian.
Trên thế giới đã có không ít định nghĩa về marketing, tuy nhiên người viết chọn lọc
và giới thiệu dưới đây các định nghĩa của nhà nghiên cứu có uy tín Philip Kopler,
hiệp hội marketing Mỹ và viện nghiên cứu marketing Anh.
Theo Philip Kopler: “Marketing là những hoạt động của con người hướng
vào việc đáp ứng những nhu cầu và ước muốn của người tiêu dùng thông qua quá
trình trao đổi và sử dụng sản phẩm” (Philip Kopler, 1967)
Viện marketing Anh thì lại định nghĩa marketing như sau: “Marketing là
quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra và
biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể,
đến sản xuất và đưa hàng hoá đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho
công ty thu được lợi nhuận như dự kiến” (Bristish Institute of Marketing,
19…)
Theo như định nghĩa của hiệp hội marketing Mỹ được đưa ra vào năm 2004:
“Marketing là một chức năng của một tổ chức và là quá trình sáng tạo, giao tiếp và
truyền tải giá trị sản phẩm cho khách hàng và để quản lý mối quan hệ với khách
hàng nhằm mục đích mang lại lợi ích cho tổ chức cũng như những người có cổ
phiếu và có lợi ích trong tổ chức đó”. (The American Marketing Association,
2004).
Mới đây nhất, marketing đã được hiệp hội tái định nghĩa như sau:
“Marketing là một hoạt động, một hệ thống những quy định và quá trình sáng tạo,
giao tiếp, truyền đạt và trao đổi những đề nghị mà những đề nghị đó sẽ mang lại
khác hay bị dùng một cách nhầm lẫn, từ đó định nghĩa truyền thông xã hội thông
qua bản chất của nó.
Cụ thể hơn, trong quyển “Social Media Bible: Tactics, Tools, and Strategies
for Business Success” của Lon Safko , thuật ngữ “truyền thông xã hội” được hiểu
dựa trên hai khái niệm: “xã hội” và “truyền thông”.
8
Trong đó, “Xã hội” là những nhu cầu bản năng của con người về việc trao
đổi và liên kết với những người khác. Và con người đã giao tiếp với nhau từ khi tồn
tại. Con người ai cũng có nhu cầu được tham gia vào một nhóm những người có lý
tưởng tương tự nhau mà chúng ta có thể cảm thấy dễ dàng trò chuyện, trao đổi ý
kiến và chia sẻ những tư tưởng cũng như trải nghiệm của mình.
“Truyền thông” là những phương tiện mà ta sử dụng để thực hiện mục đích
kết nối với những người khác. Truyền thông có thể là tiếng trống, là tiếng chuông,
là ngôn ngữ viết hay là những tin nhắn hoặc bất cứ công nghệ nào giúp ta đạt được
mục đích đó.”
Tóm lại, “Truyền thông xã hội là cách con người sử dụng những công nghệ,
những phương tiện một cách hiệu quả để liên kết và giao tiếp với những người
khác, tạo dựng mối quan hệ, niềm tin và giúp người thiết lập mối quan hệ đó xuất
hiện kịp thời những lúc nhu cầu mua bán, trao đổi xuất hiện.” (Lon Safko, 2009,
tr.4)
Còn theo quan điểm của Andreas Kaplan và Michael Haenlein khi viết bài
nghiên cứu “Users of the world, unite! The challenges and opportunities of Social
Media”, khái niệm “Truyền thông xã hội” thường bị nhầm lẫn với “Web 2.0” và
“nội dung do người đọc tham gia đóng góp” (User – generated content ). Và thật
vậy, đã có những quyển sách và bài nghiên cứu được viết ra với cách sử dụng một
cách đồng nghĩa ba cụm từ trên, dẫn đến những suy nghĩ sai lầm cho người đọc. Do
đó, việc hiểu rõ hai khái niệm trên giúp phân biệt và định nghĩa được truyền thông
Thứ nhất, đây là một kênh truyền thông trên nền tảng Internet và người dùng
không chỉ đóng vai trò là độc giả, là người thưởng thức và đọc thông tin mà còn trở
thành nhân vật chính yếu và chủ động, là người sản xuất, tự viết ra nội dung, đóng
góp và chia sẻ ý kiến của mình và nhận lại những điều tương tự từ cộng đồng người
dùng. Thứ hai, truyền thông xã hội có tính sáng tạo và phổ biến rộng rãi.
Xuyên suốt luận văn này, người viết sử dụng định nghĩa truyền thông xã hội
của Andreas Kaplan và Michael Haenlein để phân tích và ứng dụng.
1.1.3
Khái niệm marketing bằng truyền thông xã hội
Khái niệm về marketing bằng truyền thông xã hội được dùng một cách khá
thống nhất.
Tracy L. Luten đã định nghĩa khái niệm này trong cuốn Advertising 2.0:
Social media marketing in a Web 2.0 world như sau: “Marketing bằng truyền
thông xã hội là một dạng quảng cáo online (quảng cáo trên mạng) trong đó sử
dụng những đặc điểm, ngữ cảnh văn hóa của một cộng đồng xã hội thông qua các
công cụ truyền thông xã hội như mạng xã hội, thế giới ảo, trang web xã hội hay các
10
trang chia sẻ ý kiến công cộng, v.v…nhằm mục đích giao tiếp và quảng bá thương
hiệu” (Tracy L. Tuten, 2008, tr.19)
Từ việc định nghĩa khái niệm marketing, truyền thông xã hội kết hợp với
cách định nghĩa marketing bằng truyền thông xã hội như trên của Tracy L. Tuten,
có thể hiểu khái niệm như sau: “Marketing bằng truyền thông xã hội là một dạng
quảng cáo online (quảng cáo trên mạng) trong đó sử dụng các công cụ truyền
thông xã hội để tiếp cận khách hàng, nhằm mục đích giao tiếp và quảng bá thương
hiệu”.
1.2
Sự hình thành truyền thông xã hội:
Truyền thông xã hội là nền tảng cho marketing bằng truyền thông xã hội vì
marketing bằng truyền thông xã hội sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để
đưa thông tin đến với khách hàng.
Chính nhờ sự hình thành nên các công cụ truyền thông xã hội mà một khái
niệm marketing hoàn toàn mới được mọi người biết đến, nghiên cứu và ứng dụng.
Các tờ báo, tạp chí và những thông tin được đăng tải rộng rãi làm người ta dễ dàng
có cảm giác truyền thông xã hội là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ nhưng trên
thực tế, nó đã xuất hiện từ cách đây 30 năm.
Một trong số những hình thức sớm nhất của truyền thông xã hội là hệ thông
bảng tin thông báo nhanh (Bulletin board systen) được phát triển và đưa ra công
chúng vào năm 1979 bởi Ward Christensen. Với hệ thống này, một người có thể
truy cập vào tin tức và đồng thời hệ thống cũng tổ chức những buổi thảo luận xã hội
trên bảng tin nhắn và cung cấp những file do cộng đồng đóng góp và trò chơi trực
truyến cho người truy cập. Cho đến năm 1991, nhờ vào sự bùng phát mạnh mẽ của
các trang web, truyền thông xã hội ngày càng phát triển mạnh. Đến nay, truyền
thông xã hội đã được sử dụng rộng rãi ở khắp thế giới, tiêu biểu điển hình cho xu
hướng này là sự phổ biến của Facebook với hơn 127 quốc gia và hơn 800 triệu
người dùng thường xuyên (Vincenzo Sosenza, 2011).
Truyền thông xã hội ra đời là một bước tiến vượt bậc của ngành công nghệ,
đem lại một môi trường mà khái niệm “quảng cáo” đã được thay đổi bằng một khái
niệm khác chính xác và bình đẳng hơn giữa khách hàng và doanh nghiệp, đó là
“giao tiếp”.
1.2.2 Điều kiện phát triển marketing bằng truyền thông xã hội
Có một điều chắc chắn rằng không phải bất cứ hình thức marketing nào cũng
thành công và các hình thức marketing không thể được sử dụng một cách rộng rãi
và phổ biến nếu không có các điều kiện hỗ trợ. Điều tương tự cũng được áp dụng
đối với hình thức marketing bằng truyền thông xã hội. Thực vậy, marketing bằng
Internet
Châu Phi
Châu Á
Châu Âu
Trung Đông
Bắc Mỹ
Mỹ Latin
Châu Úc
Tổng cộng
1.037.524.058
3.879.740.877
816.426.346
216.258.843
347.394.870
597.283.165
35.426.995
6.930.055.154
4.514.400
114.304.000
105.096.093
3.284.800
108.096.800
18.068.919
7.620.480
360.985.492
139.875.242
(Nguồn: Internet World Statistic, 2012)
Ngày nay, Internet đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Cụ thể hơn, vào
cuối năm 2000 chỉ có 360.985.492 người biết đến và sử dụng Internet, trong khi đó
con số này đã tăng lên một cách đáng kể chỉ trong vòng hơn 1 thập kỉ : 528,1% vào
cuối năm 2011. Mức độ phủ sóng của Internet là 32,7% so với dân số thế giới là
6.930.055.154 người.
Nhờ vào sự phổ biến của Internet, ngày càng nhiều các doanh nghiệp có thể
phát triển các công cụ marketing bằng truyền thông xã hội của mình. Nếu như trước
đây, chỉ có một số ít doanh nghiệp sử dụng Internet như phương tiện liên lạc,
thương mại, ... thì ngày nay hầu hết tất cả các doanh nghiệp kể cả lớn, vừa, và nhỏ
đều tận dụng Internet để phát triển công ty và sử dụng các công cụ trên mạng để
13
phục vụ nhu cầu kinh doanh của mình. Từ sự lan rộng đó, các phương thức
marketing online, đặc biệt là marketing bằng truyền thông xã hội cũng được doanh
nghiệp đầu tư nhiều hơn. Nếu như ngày xưa các doanh nghiệp đầu tư các khoản tiền
marketing vào các phương thức marketing truyền thống như báo đài, PR, v.v… thì
ngày nay, một phần lớn số tiền đó đã được dùng cho marketing bằng truyền thông
xã hội. Khảo sát cho thấy mặc dù 71% giám đốc marketing của các công ty đều cho
biết ngân sách marketing đã bị giảm xuống, tuy nhiên gần một nửa (47%) lại khẳng
định rằng họ đang dự định gia tăng ngân sách marketing qua kênh truyền thông xã
hội. (Internet/Ecommerce Statistic, 2010).
Bên cạnh đó, như đã nói ở phần trước, Internet là điều kiện bắt buộc để
marketing bằng truyền thông xã hội hình thành, tuy nhiên, nếu người dân quá khó
khăn để tiếp cận Internet thì việc marketing bằng phương thức này sẽ dễ dàng thất
bại do các doanh nghiệp khó tiếp cận hoặc chỉ tiếp cận được một số ít khách hàng.
Sự phổ biến của Internet ngày nay tạo điều kiện cho phương thức marketing online,
về sản phẩm trên các trang có nội dung do người đọc chia sẻ là quan trọng hoặc cực
kì quan trọng (Internet/ E-commerce Statistics, 2010)
Và cuối cùng, các khách hàng tin tưởng vào lời nhận xét của cộng đồng
mạng hơn cả các hình thức tìm hiểu sản phẩm khác. Có tới hơn 49% người tiêu
dùng mua sắm thông qua lời giới thiệu của các kênh truyền thông xã hội. Thậm chí
so với nguồn tin đáng tin cậy từ người quen, cộng đồng mạng cũng tạo niềm tin hơn
cho người tiêu dùng. Trên thực tế, trong 1000 người tiêu dùng được khảo sát thì
460 người người tìm hiểu giá trị sản phẩm thông qua bạn bè trong khi đó một con
số ngang ngửa – 470 người lên mạng tìm những nhận xét đánh giá từ mọi người
(Internet / E-commerce Statistics, 2010).
c.
Ưu thế và lợi ích mang lại từ marketing bằng truyền thông xã hội
Marketing bằng truyền thông xã hội có thể tồn tại và phát triển như ngày
hôm nay chính là nhờ những ưu thế của nó so với marketing truyền thống. Hai ưu
thế lớn nhất giúp tốc độ phát triển của marketing bằng truyền thông xã hội tăng
mạnh mà tác giả phân tích ở đây chính là ở tốc độ lan truyền cũng như chi phí phải
bỏ ra của phương thức marketing này. Bên cạnh đó, marketing bằng truyền thông xã
hội cũng đem lại những lợi ích rõ ràng và ngày càng gia tăng mà các nhà làm
marketing đã nhận thấy.
Marketing bằng truyền thông xã hội có tốc độ lan truyền nhanh, thậm chí đã
có so sánh rằng “tốc độ lan truyền của truyền thông xã hội còn nhanh hơn cả tốc độ
ánh sáng”. Thực vậy, nếu các phương thức marketing truyền thống ngoài đời chỉ có
thể tiếp cận một số lượng đối tượng hết sức giới hạn trong một khoảng thời gian
tương đối dài thì marketing bằng truyền thông xã hội lại có thể đưa thông tin đến
với tất cả mọi người một cách nhanh chóng, hiệu quả, và đem lại niềm tin cũng như
phương thức quảng cáo truyền miệng. Một ví dụ cho điều này có thể chỉ đơn giản
hợp tác mới. (Michael A. Stelzner, 2011)
Tóm lại, với những lợi ích lớn mang lại từ phương thức marketing này, ngày
càng nhiều nhà quản trị marketing đầu tư hơn vào quảng bá thương hiệu thông qua
truyền thông xã hội, góp phần gia tăng tốc độ tăng trưởng và phát triển của
marketing bằng truyền thông xã hội.
d.
Tốc độ phát triển nhanh chóng của truyền thông xã hội
Mặc dù chỉ xuất hiện trong thập kỉ gần đây nhưng truyền thông xã hội đã
chứng tỏ được sức hút của nó với tốc độ tăng trưởng mãnh liệt. Cụ thể, trong 136
quốc gia được Vincos – người chuyên nghiên cứu về mạng xã hội khảo sát thì đã có
tới 127 quốc gia sử dụng Facbook và con số này lên tới 800 triệu. Chỉ trong vòng 1
năm từ năm 2004 đến năm 2005, Facebook đã có sự tăng trưởng đáng kể, từ 1 triệu
người lên tới gấp 6 lần. Năm tiếp theo, con số này tiếp tục gia tăng với tốc độ 200%
đạt 12 triệu người dùng. Từ năm 2009 đến 2010, con số tăng trưởng của Facebook
đạt 168%. Cho tới cuối tháng 12 năm 2011, Facebook vẫn tăng trưởng mạnh với tốc
độ vẫn duy trì đạt 3 chữ số: 138%, số lượng người dùng đạt tới 845 triệu người.
Biểu đồ 1.2 Tốc độ tăng trưởng của Facebook
Đơn vị tính: triệu người
(Nguồn: Thống kê của Facebook, 2012)
Trang mạng xã hội đối thủ của Facebook - Twitter cũng gặt hái được thành
công không kém. Chỉ trong vòng 1 năm (2008 đến 2009), Twitter đã gia tăng lượng
người sử dụng lên gấp đôi, đến năm 2010, tốc độ tăng trưởng đạt mức 4000%. Sang
tới năm 2011, Twitter có số lượng người dùng là 414 triệu người, tăng trưởng
252.5%. Từ cuối tháng 12 năm 2011 đến đầu năm 2012, đã có thêm 40 triệu người
sử dụng Twitter, con số tăng trưởng là 109.67%.
Biểu đồ 1.3 Tốc độ tăng trưởng của Twitter
Đơn vị tính: triệu người
nhưng các kênh truyền thông xã hội vẫn nhận được rất nhiều sự quan tâm của cộng
đồng mạng trên toàn thế giới và đây là nơi hứa hẹn để doanh nghiệp có thể tiếp cận
một lượng lớn khách hàng tiềm năng của mình. Nhờ vào đó, marketing bằng truyền
thông xã hội ngày càng được đánh giá cao và được các doanh nghiệp phát triển
nhiều hơn.
1.3
Công cụ để làm marketing bằng truyền thông xã hội
Trên thế giới có rất nhiều cách phân loại truyền thông xã hội khác nhau.
Trong cuốn “Social Media Bible” của Lon Safko, truyền thông xã hội bao gồm 15
phân nhóm: mạng xã hội, các trang xuất bản, trang chia sẻ hình ảnh, trang chia sẻ
âm thanh, trang chia sẻ video clip, các trang blog, trang tường thuật trực tiếp, thế
giới ảo, trò chơi, các ứng dụng online, trang tổng hợp, RSS, công cụ tìm kiếm, di
động và các ứng dụng khác. Cách phân tích này khá chi tiết và tỉ mỉ. Tuy nhiên
trong giới hạn về mặt thời gian và không gian nghiên cứu của khóa luận, người viết
lựa chọn cách phân loại tổng quát hơn dựa trên ý tưởng của Kaplan, Andreas M. và
Michael Haenlein. Để thuận tiện cho việc phân tích sau này ở chương 2 và chương
3, trong mỗi một công cụ sử dụng của marketing bằng truyền thông xã hội, người
viết sẽ phân tích sâu một trang truyền thông xã hội điển hình nhất chung nhất của cả
thế giới và Việt Nam hoặc chỉ nêu tổng quát một hình thức mà không nghiên cứu
sâu vì hình thức truyền thông xã hội đó chưa thông dụng tại Việt Nam hoặc vì hình
19
thức đó không được dùng cho mục đích marketing như hướng nghiên cứu của đề
tài.
1.3.1 Dự án có tính tương tác
Dự án có tính tương tác là những dự án mà những người sử dụng có thể tham
tức người khác sẽ nghĩ doanh nghiệp đang vi phạm các chuẩn mực đạo đức để nói
theo hướng có lợi cho mình ngay cả khi thật sự không phải như thế. Để giải quyết
vấn đề này, doanh nghiệp có thể bày tỏ sự không hài lòng, khiếu nại và thậm chí là
các phàn nàn ở phần Discussion Tab (Trang thảo luận), lúc đó người đã viết trang
wiki sẽ đọc và chỉnh sửa cho phù hợp và hơn nữa, cộng đồng sẽ nhân thấy rằng
doanh nghiệp đang cư xử một cách hợp lý và công bằng, đúng với chuẩn mực và
nguyên tắc của Wiki.
Do giới hạn đề tài chỉ ở việc sử dụng các kênh truyền thông trong việc
marketing nên tác giả sẽ không đi phân tích sâu Wikipedia và cả các trang book
mark xã hội vì hình thức truyền thông xã hội này chưa thông dụng và phổ biến ở
Việt Nam và cũng không được sử dụng với mục đích marketing.
1.3.2 Blog
Blog là một trong những dạng đầu tiên được hình thành của truyền thông xã
hội, là một dạng website mà trong đó thường đăng những bài viết (entry) theo thứ tự
ngược thời gian. Đây là một dạng truyền thông giống như một trang web cá nhân và
cũng có thể biến đổi thành những dạng khác nhau. Blog có thể là một trang nhật kí
mô tả cuộc sống bình thường của người viết hoặc tổng hợp những thông tin liên
quan đến nhau về một lĩnh vực nội dung cụ thể. Blog thường được quản lý bởi một
người nhưng vẫn mang tính tương tác do người xem có thể bình luận nội dung của
họ. Những trang blog có nội dung chữ hiện nay là thông dụng nhất. Tuy nhiên, ngày
nay blog cũng đã có những dạng truyền thông khác, chẳng hạn như người dùng có
thể đưa lên mạng những đoạn video thu từ webcam của họ.
Một số nhà cung cấp dịch vụ blog phổ biến nhất hiện nay là WordPress,
TypePad, Blogger, Opera. Trong đó sử dụng nhiều ở Việt Nam là Wordpress và
Opera.
Trong kinh doanh, blog cũng được xem như là một phương tiện giúp doanh
nghiệp tiếp cận được ý kiến khách hàng của mình khi họ muốn phát triển một sản
phẩm mới, cập nhật thông tin quan trọng cho nhân viên, khách hàng, đối tác, v.v….
và nhằm mục đích đảm bảo tính minh bạch trong công ty của mình.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, blog cũng có thể đem lại những mặt trái cho doanh
trang cá nhân riêng cho mình, nếu họ có tạo thì chỉ đơn giản bao gồm những thông
tin rất căn bản như là ngày gia nhập, số lượng nội dung họ đã chia sẻ,v.v…
Mặc dù cộng đồng này có thể góp phần giúp thông tin rộng từ một người đến
nhiều người nhưng từ phía doanh nghiệp, kênh truyền thông này cũng mang lại
những rủi ro đối với công ty. Chẳng hạn những trang web chia sẻ sách có thể vi
phạm bản quyền và gây khó khăn trong việc bán sách của những công ty hợp pháp.
22
Trên thực tế, các trang cộng đồng nội dung này vẫn có những luật để ngăn chặn và
xóa những nội dung bất hợp phát nhưng rất khó để những nội dung quá đỗi phổ
biến được ngăn chặn. Ví dụ như những bộ phim mới được phát sóng trên tivi khó
tránh khỏi việc bị đăng lên trang Youtube chỉ sau đó một khoảng thời gian ngắn.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt trái của nó, cộng đồng nội dung cũng là một
kênh truyền thông hấp dẫn để doanh nghiệp quảng bá và phát triển thương hiệu của
mình. Một nội dung hấp dẫn sẽ có thể thu hút được hàng triệu người xem trên
Youtube và từ đó có thể làm tăng độ thu hút của thương hiệu doanh nghiệp. Hoặc
doanh nghiệp cũng tận dụng các kênh thông tin này để đăng các thông tin tuyển
dụng, quảng cáo sản phẩm mới, v.v….
Để phục vụ cho bài phân tích sau này, người viết sẽ nêu cụ thể một số nội
dung cơ bản, đặc điểm và thuật ngữ của YouTube – kênh truyền thông xã hội được
sử dụng rộng rãi ở cả Việt Nam và trên thế giới.
YouTube là trang web chia sẻ video nơi người dùng có thể tải lên, xem và
chia sẻ các video clip. YouTube do ba nhân viên cũ của PayPal tạo nên vào giữa
tháng 2 năm 2005. Dịch vụ đặt tại San Bruno sử dụng công nghệ Adobe Flash để
hiển thị nhiều nội dung video khác nhau, bao gồm những đoạn phim, đoạn chương
trình TV và video nhạc, cũng như những phim nghiệp dư như videoblogging và
những đoạn video gốc chưa qua xử lý. Người dùng không đăng ký vẫn có thể xem
được hầu hết video, còn người dùng đăng ký được phép tải lên số lượng video vô
mạng gồm những người chia sẻ chung sở thích và các hoạt động, hoặc để liên kết
những người thích khám phá sở thích và hoạt động của người khác. Hầu hết những
dịch vu mạng xã hội được thiết lập qua trang web và cung cấp các phương pháp đa
dạng cho người dùng để tương tác, như là các dịch vụ email và tin nhắn . Mạng xã
hội đã tạo nên những phương thức mới và sáng tạo để giao tiếp và chia sẻ thông
tin.Một vài ví dụ tiêu biểu cho mạng xã hội là Facebook, Twitter, My Space, Zing,
v.v…
Tại mạng xã hội, người ta phải tạo một tài khoản cá nhân, mời bạn bè, đồng
nghiệp, người thân, v.v… tham gia và những người này có quyền truy cập những
thông tin, trang cá nhân của người tạo cũng như trao đổi thông tin với nhau bằng
những tin nhắn, dòng tin tức hàng ngày. Những trang cá nhân này có thể bao gồm
bất cứ loại thông tin nào, bao gồm hình ảnh, các video, âm thanh...
Các trang mạng xã hội ngày nay được sử dụng rất rộng rãi, đặc biệt là đối
với tầng lớp trẻ. Ngày càng nhiều người sử dụng mạng xã hội và khối lượng thời
gian họ tiêu tốn vào các trang này cũng không hề ít. Các trang mạng xã hội thường
được doanh nghiệp dùng để hỗ trợ cho một thương hiệu sản phẩm mới hoặc nghiên
24
cứu thị trường. Một vài doanh nghiệp thậm chí đã sử dụng các trang mạng xã hội
như là một kênh phân phối sản phẩm.
Để thuận tiện cho bài phân tích về sau, người viết giới thiệu sơ lược và một
số tín năng của mạng xã hội được nhiều người sử dụng nhất hiện nay trên thế giới
và ở Việt Nam: Facebook (theo số liệu thống kê năm 2011 của trang web uy tín
chuyên nghiên cứu về truyền thông xã hội socialmediaexaminer.com).
Facebook xuất phát từ ý tưởng của Mark Zuckerberg và cộng sự vào năm
2003 nhằm tạo nên một trang web nơi các bạn trong trường có thể làm quen và tán
gẫu với nhau Ban đầu Facebook chỉ được hướng tới đối tượng sinh viên của
Harvard, sau đó lan sang các trường đại học tại Mỹ và cuối cùng mức độ thành công
trong trò chơi. Ứng dụng này trong những năm gần đây rất phổ biến. Mức độ phổ
biến của những trò chơi này có thể được dùng như đòn bẩy trong những chiến dịch
truyền thông. Các công ty sử dụng hình ảnh và những công cụ kĩ thuật từ trò chơi
này để đưa vào các chiến lược quảng cáo nhằm thu hút những người đam mê trò
chơi ảo.
Thế giới xã hội ảo là dạng thứ hai của thế giới ảo. Tại đây, các cư dân ảo có
thể chọn lựa tính cách và cách cư xử của mình tự do hơn và có thể sống ở một thế
giới tương tự thế giới thực. Cũng như trong thế giới trò chơi ảo, những người dùng
xuất hiện dưới dạng hình ảnh đại diện trong một môi trường ba chiều ảo. Tuy nhiên,
tại đây không có bất kì quy luật nào giới hạn sự tương tác của người, trừ những quy
luật vật lý hết sức căn bản như trọng lực. Điều này có nghĩa người chơi có thể thể
hiện bản thân mfinh một cách tối đa. Và các nghiên cứu đã cho thấy những cư dân
của thế giới ảo ngày càng có những hành vi cư xử giống với họ ở trong cuộc sống
thực.
Một ví dụ điển hình cho kênh truyền thông này là trò chơi “World of
Warcraft” với khoảng hơn 8.5 triệu người tham gia khám phá hành tinh mới
Azeroth dưới những hình ảnh đại diện như con người, người lùn, yêu tinh, v.v… để
chiến đấu với ma quỷ, quái vật hoặc để săn lùng kho báu. Một ví dụ khác của trò
chơi thế giới ảo là trò Sony’s EverQuest, trong đó 16 chủng tộc của người chơi (ví
dụ như tộc phù thủy) sẽ đi khắp thế giới tưởng tượng Norrath. Kuaatj chơi giới hạn
tối đa sự thể hiện bản của người chơi, mặc dù với một số người, họ đã tiêu tốn quá
nhiều thời gian vào nhân vật mình hóa thân đến nỗi nhân vật ngày càng giống và
mô phỏng rất gần tính cách thật của họ ngoài đời sống
Một ví dụ điển hình cho thế giới ảo là ứng dụng “Second Life” (Cuôc sống
thứ hai), được tạo ra và quản lý bởi Công ty Linden Research. Bên cạnh việc người
chơi có thể thực hiện hầu như tất cả các hoạt động ở thế giới thực như trò chuyện, đi