PHẦN I .ĐẶT VẤN ĐỀ
1. LÝ DO CHỌN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Môn hóa học là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của
con người.Việc học tốt môn hóa học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu rõ về
cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày. Từ những hiểu biết
này giáo dục cho học sinh ý thức bảo về tài nguyên thiên nhiên rất hạn chế của Tổ
quốc, đồng thời biết làm những việc bảo vệ môi trường sống trước những hiểm họa
về môi trường do con người gây ra trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
nhằm tạo dựng một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn.
Để bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lý luận
dạy học hiện đại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể hoạt động
nhận thức, học trong hoạt động. Học sinh bằng họat động tự lực, tích cực của mình
mà chiếm lĩnh kiến thức. Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp phần
hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo.
Tăng cường tính tích cực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình
học tập là một yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người học tích cực, tự lực tham gia
sáng tạo trong quá trình nhận thức.
Để đạt được mục đích trên, ngoài hệ thống kiến thức về lý thuyết thì hệ thống bài
tập Hoá học giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc dạy và học Hoá học ở
trường phổ thông. Bài tập Hoá học giúp người giáo viên kiểm tra đánh giá kết quả
học tập của học sinh, từ đó phân loại học sinh để có kế hoạch sát với đối tượng.
Qua nghiên cứu bài tập Hoá học bản thân tôi thấy rõ nhiệm vụ của mình trong
giảng dạy cũng như trong việc giáo dục học sinh.
Người giáo viên dạy Hoá học muốn nắm vững chương trình Hoá học phổ thông,
thì ngoài việc nắm vững nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy còn cần
nắm vững các bài tập Hoá học của từng chương, hệ thống các bài tập cơ bản nhất
và cách giải tổng quát cho từng dạng bài tập, biết sử dụng bài tập phù hợp với từng
1
công việc: Luyện tập, kiểm tra, nghiên cứu... nhằm đánh giá trình độ nắm vững
định rõ mục tiêu giáo dục đó là chuẩn bị cho học sinh tiếp cận ngày càng gần với
khoa học công nghệ, giúp học sinh làm chủ tri thức, tiếp cận được mũi nhọn khoa
học công nghệ nhằm phát huy năng lực trong xã hội mới
- Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, vì thế cần rèn cho học sinh các kỹ năng
cơ bản giải một số bài tập tính theo phương trình hóa học một cách độc lập và sáng
tạo. Qua đó học sinh tự định hướng để giải bài tập.
- Rèn luyện cho học sinh có kỹ năng nhận dạng bài tập theo mức độ từ dễ đến
khó, phát triển dần kỹ năng hiện có của học sinh, nhằm phát huy thêm khả năng tự
học, tự nhận thức và độc lập, sáng tạo của học sinh. Đồng thời phát huy hoạt động
nhóm.
- Trên cơ sở đó, để kích thích tính tích cực học tập của học sinh trong việc giải
bài tập tính theo phương trình hóa học, bản thân giáo viên cần xác định vai trò của
mình đối với học sinh.
+ Giáo viên cần coi trọng lợi ích, nhu cầu, hứng thú học tập của học sinh phát
huy tối đa các năng lực còn tiềm ẩn của học sinh. Hình thành cho học sinh phương
pháp học tập khoa học, năng lực sáng tạo, lòng say mê yêu thích bộ môn.
+ Phát huy tối đa tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh.
+ Giáo viên hướng dẫn cho học sinh nghiên cứu để tìm hướng giải phù hợp.
Qua các bài tập từ dễ đến khó dần tạo ra sự tích cực, tự lực sáng tạo trong học tập
3
của học sinh. Giúp hình thành ở học sinh kỹ năng giải bài tập hóa học tính theo
phương trình hóa học.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
a. Thuận lợi :
- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của BGH nhà trường, của ngành cấp trên
trong công tác giảng dạy.
- Tỷ lệ chuyên cần của học sinh cao.
- Giáo viên chú ý chọn các bài tập nâng cao từ dễ đến khó tạo sự tích cực, tính
độc lập, sáng tạo cho học sinh.
- Quan trọng hơn là giáo viên giúp học sinh phân tích, tìm hiểu kỹ đề bài qua đó
định hướng được phương pháp giải.
- Sau đó giáo viên cho thêm bài tập tương tự, mức độ nâng dần lên để hình thành
ở học sinh kỹ năng giải bài tập hóa học.
Mỗi bài tập hóa học có nhiêu cách giải khác nhau nhưng phải thực hiện đủ 4
bước:
+ Tìm hiểu đề bài : Xác định đại lượng đã cho và đại lượng cần tìm, hiểu ý
nghĩa mở rộng từng đại lượng. Cần tóm tắt đề bài rõ ràng bằng ký hiệu hiệu hóa
học, chuyển đổi đơn vị nếu cần thiết.
+ Xác định hướng giải bài tập : Nhớ lại các khái niệm, các qui tắc, công thức,
… có liên quan. Từ đó tìm ra mối liên hệ giữa điều kiện đề bài cho và yêu cầu của
bài tập.
+ Trình bày lời giải : Thực hiện các bước giải đã vạch.
+ Kiểm tra kết quả: Xem lại đã trả lời đúng yêu cầu của bài chưa ? Tính toán
có sai sót hay không ?
- Đó là những yêu cầu cơ bản để giải một bài tập hóa học. Nếu học sinh nắm
được kiến thức, kỹ năng cơ bản thì việc giải bài tập theo qui trình trên sẽ mang lại
kết quả cao.
5
- Để “ Rèn luyện kỹ năng giải bài tập tính theo phương trình hóa học” bản
thân tôi không ngừng tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan đến bộ môn, đặc
biệt quan trọng hơn nữa là luôn luôn dự giờ, trao dồi học hỏi kinh nghiệm với các
đồng nghiệp trong công tác giảng dạy để đưa ra giải pháp tốt nhất trong việc nâng
cao chất lượng bộ môn Hóa học.
- Sau cùng là thu thập các số liệu cần thiết cho giải pháp khoa học.
- Đối với học sinh, bản thân tôi định hướng như sau:
CaO + CO2
1 mol
1 mol
?x mol
0,75 mol
1 mol
Số mol CaCO3 theo phương trình hóa học:
n = x = 0,75 (mol)
- Khối lượng CaCO3 cần dùng:
m
=nxM
= 0,75 x 100 = 75 (g)
Ví dụ 2: Tính thể tích khí O2 ( đktc) khi phân hủy 43,4g HgO ?
Giải
- Số mol HgO phân hủy:
nHgO = 43,4/ 217 = 0,2 (mol)
- Phương trình hóa học:
2HgO
Giải
- Số mol sắt tham gia phản ứng:
nFe =5,6/ 56 = 0,1 (mol)
Phương trình hóa học:
Fe
+ 2HCl FeCl2 + H2
1mol
2mol
1mol
1mol
0,1mol y mol
z mol
x mol
Số mol H2 theo PTHH:
n
= x = 0,1 (mol)
- Thể tích khí hidro thu được ở đktc:
V = 22,4 x n = 22,4 x 0,1 = 2,24 (l)
- Khối lượng HCl cần dùng:
V = n x 22.4 ( Lil )
Khối lượng
Chất (m)
m = n x M ( gam )
M là khối lượng mol.
PHÂN DẠNG CÁC LOẠI BÀI TOÁN HOÁ HỌC TÍNH THEO
PHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC
Dạng 1 .Tìm số mol của chất A theo số mol xác định của 1 chất bất kỳ trong
PTHH.
Ví dụ: Tính số mol Na2O tạo thành nếu có 0,2 mol Na bị đốt cháy
Nghiên cứu đầu bài: Tính số mol Na 2O dựa vào tỷ lệ số mol giữa số mol Na và số
mol Na2O trong PTHH.
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Viết PTHH xảy ra
Lời giải
4Na + O2 → 2 Na2O
Bước 2: Xác định tỷ lệ số mol giữa 4mol
2mol
chất cho và chất tìm
0,1 mol
chất cho và chất tìm
0,25 mol 0,5 mol
Bước 3: Tính n chất cần tìm
Bước 4: Trả lời
m CH4 = 0,25.16 = 4g
Dạng 3. Tìm thể tích khí tham gia hoặc tạo thành
Ví dụ: Tính thể tích khí H2 được tạo thành (ở ĐKTC) khi cho 2,8 g Fe tác dụng với
dd HCl dư ?
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Lời giải
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đổi ra
nFe =
số mol Fe
Bước 2: Tính số mol H2
2,8
= 0,05mol
56
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
n CuO = 80 =0,3 mol
Theo PTHH tỷ lệ phản ứng giữa H2 và CuO là 1: 1.
10
Vậy CuO dư : 0,3 - 0,2 = 0,1 mol
.
Số mol Cu được sinh ra là 0,2 mol
mCuO = 0,1 .80 = 8 g, mCu = 0,2.64 = 12,8 g
Vậy khối lượng chất rắn sau phản ứng là: 8 + 12,8 = 20,8 g
4. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
Hoá học nói chung bài tập Hoá học nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng
trong việc học tập Hoá học, nó giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo, đồng thời
nó góp phần quan trọng trong việc ôn luyện kiến thức cũ, bổ sung thêm những phần
thiếu sót về lý thuyết và thực hành trong hoá học.
Trong quá trình giảng dạy Môn Hoá học tại trường THCS cũng gặp không ít khó
khăn trong việc giúp các em học sinh làm các dạng bài tập Hoá học, song với lòng
yêu nghề, sự tận tâm công việc cùng với một số kinh nghiệm ít ỏi của bản thân và
sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp. Tôi đã luôn biết kết hợp giữa hai mặt: "Lý
luận dạy học Hoá học và thực tiễn đứng lớp của giáo viên". Chính vì vậy không
những từng bước làm cho đề tài hoàn thiện hơn về mặt lý thuyết, mặt lý luận dạy
học mà làm cho nó có tác dụng trong thực tiễn dạy và học Hoá học ở trường THCS.
Đề tài này được tôi áp dụng trong dạy học tại trường THCS Nhi Sơn tôi thu được
một số kết quả như sau:
Số lượng học sinh hiểu bài thao tác thành thạo các dạng bài tập hoá học ngay tại
lớp chiếm tỷ lệ cao
- Giáo viên tiết kiệm được thời gian, học sinh tự giác, độc lập làm bài. Phát huy
41,67%
9B
26
12
46,15%
Nhận xét: Đa số học sinh còn vướng mắc trong quá trình viết CTHH cho các
hợp chất, chưa vận dụng được cách giải bài toán hóa học tính theo PTHH.
b) Áp dụng giải pháp
Lần 1: Kiểm tra học kỳ I
Thời gian
Trong học kỳ 1
Kết quả áp dụng giải pháp
(lần 1)
Lớp
TS
HS
Trung bình trở lên
Số lượng
Tỉ lệ (%)
Tỉ lệ (%)
12
Kết quả áp dụng giải pháp
9A
24
21
87,5%
(lần 2)
9B
26
23
88,46%
Nhận xét: Học sinh nắm vững chắc các bước giải một bài toán hóa học tính theo
PTHH, biết dựa vào các bài toán đã biết cách giải trước đó, linh hoạt biến đổi và
vận dụng các công thức tính toán phù hợp và đã trình bày bài giải hợp lý hơn có hệ
thống và logic, chỉ còn một số ít học sinh quá yếu, kém chưa thực hiện tốt.
Trong quá trình thực hiện đề tài này không tránh khỏi sự thiếu sót. Tôi rất mong
được sự quan tâm giúp đỡ, đóng góp chỉ bảo ân cần của các đồng nghiệp để bản
thân tôi được hoàn thiện hơn trong giảng dạy cũng như SKKN này có tác dụng cao
trong việc dạy và học.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Mường Lát, ngày 22 tháng 4 năm 2014
CAM KẾT KHÔNG COPY
Quang Thị Hợi
MỤC LỤC
STT
I
Đặt vấn đề
NỘI DUNG
TRANG
1
14
I.1
I.2
II
II.1
1, Chuyên đề bồi dưỡng Hoá học 8- 9 của Nguyễn Đình Độ, NXB
Đà Nẵng
2, 250 bài toán Hoá học chọn lọc- PGS Đào Hữu Vinh - NXB Giáo dục.
15
3, Bài tập Hoá học nâng cao 8 - 9 - PGS - TS Lê Xuân Trọng - NXBGD
4, Hình thành kỹ năng giải bài tập Hoá học - Cao Thị Tặng
5, Câu hỏi và bài tập Hoá học trắc nghiệm 8 - Ngô Ngọc An
6, Bài tập chọn lọc Hoá học-8 - Đỗ Thị Lâm
7, Rèn luyện kỹ năng giải toán Hoá học - 8 Ngô Ngọc An.
8, Bài tập nâng cao Hoá học - 8 .Nguyễn Xuân Trường
9, Ôn tập Hoá học - 8 - Đỗ Tất Hiển
10, Sách bài tập Hoá học 8 - Lê Xuân Trọng
16