SỰ THAM GIA vào THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG của NGƯỜI CAO TUỔI ở VIỆT NAM - Pdf 33

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014

Tên công trình: SỰ THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

Thuộc nhóm ngành khoa học: KT03

HÀ NỘI, 2014


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
CÔNG TRÌNH THAM GIA XÉT GIẢI
GIẢI THƯỞNG “ TÀI NĂNG KHOA HỌC TRẺ VIỆT NAM”
NĂM 2014

Tên công trình: SỰ THAM GIA VÀO THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
CỦA NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

Thuộc nhóm ngành khoa học: KT03

Họ và tên sinh viên (nhóm sinh viên):
Doãn Tâm Long
Nguyễn Văn Dũng Huy
Thẩm Thanh Xuân
Trần Viết Phú
Lớp, Khoa: Kinh Tế Học
đào tạo
Ngành học: Kinh Tế Học

hơn nhiều những gì các nước phát triển đã trải qua. Không những có ít thời
gian hơn để điều chỉnh, nền kinh tế, cơ cấu chính sách, các chế độ BHXH của
nước ta vẫn còn yếu và chưa có nhiều kinh nghiệm.
Già hóa là một quá trình liên tục, những người trong cơ cấu “dân số vàng”
hiện nay sẽ già đi và là một phần trong cơ cấu dân số già trong tương lai. Điều
này hàm ý một gánh nặng không nhỏ cho xã hội Việt nam. Thứ nhất, người
già được coi là nhóm dân số dễ bị tổn thương và cần sử dụng nhiều nguồn lực
chăm sóc sức khỏe, bảo trợ xã hội, trợ cấp thu nhập. Thứ hai, tỉ lệ người già
hưởng các chế độ BHXH tăng cao trong khi lực lượng lao động lại thu hẹp
tương đối, điều này gây mất cân đối thu chi cho các quĩ BHXH. Thứ ba, người
già thường phụ thuộc vào trợ cấp của con cháu, xu hướng đang tăng lên của
“tỉ lệ phụ thuộc già” lại gây thêm gánh nặng cho những người đang trong độ
tuổi lao động.
Một trong những giải pháp mà các nước phát triển đã áp dụng là hỗ trợ người
già tham gia lực lượng lao động. Việc làm giúp NCT chủ động trong tài chính,
tăng cường thể chất và tinh thần. Tỉ lệ Người cao tuổi tham gia hoạt động
kinh tế ở nước ta hiện nay khá cao, tuy nhiên các chính sách hỗ trợ của nhà
nước là chưa đầy đủ.

1


Vấn đề việc làm cho người cao tuổi ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Nghiên
cứu này mong muốn góp một phần nhỏ trong việc cung cấp thông tin và phân
tích cần thiết cho các nhà quản lí trong việc xây dựng các chính sách và
chương trình thích hợp cũng như nâng cao nhận thức và sự hỗ trợ của toàn xã
hội.
2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu các khung lí thuyết phục vụ cho việc nghiên cứu thị trường lao
động của Người cao tuổi, cụ thể hướng tới 2 vấn đề sau:

người trẻ.
Thuyết việc làm cố định dựa trên giả định là số công việc trên thị trường là
giới hạn. Samuelson trong cuốn sách giáo khoa “Kinh tế học” nổi tiếng của
mình cho rằng :” Đúng hơn là nền kinh tế có thể điều chỉnh để tạo công ăn
việc làm cho bất cứ ai tham gia lao động. Trong dài hạn khi giá và mức lương
điều chỉnh theo công nghệ và sở thích, theo cung và cầu, thì việc làm sẽ về
với công nhân hoặc công nhân sẽ đến với việc làm”.
Mặc dù vấp phải sự hoài nghi của các nhà kinh tế, lí thuyết này vẫn thường
xuyên được sử dụng như một lập luận để phản đối các chính sách của chính
phủ về giảm giờ làm, giảm người nhập cư, tăng tuổi nghỉ hưu…
Phân tích số liệu thị trường lao động của Vương quốc Anh giai đoạn 19682005, James Banks, Richard Blundell ( 2008) đã chỉ ra sự vận động cùng
chiều của tỉ lệ tham gia lao động giữa người già và người trẻ. Sau khi kiểm
soát sự ảnh hưởng của chu kì kinh doanh đến sự tương quan giữa 2 biến, việc
làm của 2 nhóm tuổi này vẫn có sự tương quan dương với nhau. Nghiên cứu
cho thấy không có một chứng cớ nào khẳng định hiệu ứng lấn át trong dài hạn
giữa 2 nhóm.

3


Một chuỗi bài viết đã nghiên cứu về vấn đề này trên 12 quốc gia. Gruber và
Wise (2010) dựa trên phân tích của từng nước và giữa các nước đã kết luận
không thể khẳng định sự tham gia thị trường lao động của người cao tuổi làm
giảm cơ hội việc làm của nhóm dân số trẻ; chứng cứ còn cho thấy điều ngược
lại, tỉ lệ tham gia lao động của người già càng tăng tương ứng với tỉ lệ việc
làm người trẻ tăng.
Trong một bài viết trên tạp chí The Economist, Bottonwood (2012) đã đưa ra
các lập luận để phản bác Lí thuyết việc làm cố định : Thứ nhất, khi một người
tham gia vào thị trường lao động, họ được trả tiền lương cho công sức họ bỏ
ra. Số tiền đó lại được dùng để mua hàng hóa và dich vụ sản xuất bởi một ai

quan cao hơn thể hiện mức lợi ích cao hơn.
Đường bàng quan của các cá nhân có thể khác nhau, phụ thuộc vào sở thích
của họ: thích hàng hóa dịch vụ ( C) hơn hay thích sự nghỉ ngơi ( L) hơn :

5


Mặc dù mọi cá nhân đều thích nhiều hàng hóa và dịch vụ và nhiều thời gian
nghỉ ngơi hơn, nhưng trên thực tế ý muốn của họ bị ràng buộc bơi 2 yếu tố.
Thứ nhất là thời gian, mỗi cá nhân đều chỉ có một lượng thời gian nhất định,
kí hiệu T, thời gian này được phân bổ cho thời gian lao động để kiếm thu
nhập h và thời gian nghỉ ngơi L đã nhắc tới ở trên.
T=h+L

(1)

Thứ 2 là ngân sách để tiêu dùng cho hàng hóa và dịch vụ. Bất cứ ai, ngay cả tỉ
phú Bill Gates cũng chỉ có một lượng ngân sách nhất định để chi tiêu. Ngân
sách này đến từ 2 nguồn. Thứ nhất là thu nhập từ lao động của cá nhân được
tính bằng thời gian lao động h nhân với mức lương một giờ w. Thứ hai là các
khoản thu nhập phi lao động V, là thu nhập không đến từ thời gian lao động
ví dụ như các khoản chuyển giao thu nhập, tiền lãi trong hoạt động đầu tư,
tiền trúng xổ số…

6


C = wh + V

(2)

lao động. Ở điểm E này, cá nhân chỉ có thu nhập phi lao động V, khi mà thu
nhập đến từ lao động wh = 0. Điểm E được gọi là endowment point (điểm nghỉ
ngơi ?).

Xét đường bàng quan U 0 đi qua điểm E, hay nói cách khác nếu cá nhân không
lao động thì lợi ích của họ khi đó là U 0. Giả sử ban đầu cá nhân không lao động
và tận hưởng lợi ích U 0.
Giả sử mức lương trên thị trường lao động là w low, khi đó cá nhân có đường
ngân sách GE. Ta nhận thấy mọi điểm trên GE đều có lợi ích nhỏ hơn U 0, cá
nhân khi đó sẽ tối đa hóa lợi ích bằng cách không tham gia lao động.
8


Khi mức lương cao whigh, cá nhân có đường ngân sách HE, các điểm trên đường
HE tương ứng với mức lợi ích lớn hơn U 0, trong đó điểm có lợi ích lớn nhất là
tiếp tuyến với đường bàng quan Y. Với động lực tối đa hóa U của mình, cá
nhân sẽ tham gia vào thị trường lao động với thời gian tương ứng với vị trí
điểm Y.
Như vậy, cá nhân sẽ không tham gia lao động khi lương thấp và lao động khi
lương cao, mức lương vừa đủ để cá nhân chuyển từ nghỉ ngơi sang làm việc
được gọi là wr mức lương kì vọng tối thiểu ( reservation wage). Hàm ý của mức
lương kì vọng tối thiểu w r là cá nhân sẽ làm việc khi mức lương trên thị trường
lao động lớn hơn hoặc bằng w r.
Dễ thấy wr là độ dốc tiếp tuyến của đường U 0 qua điểm E. Như vậy mức lương
kì vọng tối thiểu phụ thuộc vào T, V, và đường U 0.
Quyết đinh tham gia thị trường lao động của một cá nhân phụ thuộc vào T, V,
U0, và mức lương trên thị trường w.
Ta chia các nhân tố ảnh hưởng đến tham gia thị trường lao động của người cao
tuổi thành 3 nhóm:
- Thị trường lao động: mức lương, điều kiện làm việc…

60 đến 69 còn phải lao động để kiếm sống, có tới 38% số người trong độ tuổi
này còn phải đóng vai trò chính trong kinh tế gia đình. Họ phải lo cho cuộc
sống của chính họ và con cái. Trong tình hình lao động dưa thừa như hiện nay
và trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế đều đòi hỏi có trình độ chuyên môn cao
thì tìm kiếm được một việc làm thích hợp với người cao tuổi là cực kỳ khó
khăn, đặc biệt là ở thành thị.
Mong muốn có việc làm ở người cao tuổi hiện nay trước hết là do họ không có
nguồn thu nhập, hoặc có nhưng quá ít ỏi, không đủ sống. Muốn xem xét việc

10


làm, thu nhập và đời sống của người cao tuổi, cần đi sâu vào nghiên cứu ở từng
nhóm. Có thể chia làm 2 nhóm như sau:
a. Việc làm, thu nhập và đời sống của người cao tuổi ở nông thôn và
thành thị.
Qua một số cuộc điều tra khảo sát về việc làm của người cao tuổi ở nông thôn
có kết quả như sau:
- Nghỉ trông nom việc nhà, giữ cháu: 31%
- Làm việc thường xuyên như một lao động trong độ tuổi: 15%
- Làm việc khoảng 1/2 thời gian: 14%
- Làm việc một phần thời gian: 39%.
Người về hưu ở nông thôn có vai trò quyết định kinh tế gia đình lớn hơn người
về hưu ở thành thị (44% so với 28%). Người về hưu vẫn còn gánh nặng trong
việc chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ già và con nhỏ. Bình quân một người về hưu
còn trực tiếp nuối 0,11 bố mẹ già và 0,76 con còn nhỏ. Gần 40% nam, 35% nữ
trong số người về hưu có đời sống vật chất khá hơn trước. Còn 27,52% nam và
16% nữ đời sống kém hơn so với trước khi về hưu. Riêng các tỉnh ở Nam Trung
Bộ (từ Đà Nẵng tới Ninh Thuận) có 40 - 50% số người về hưu cảm thấy đời
sống của họ khó khăn hơn trước. Đây là nhóm người lương thấp và không kiếm

nuôi dưỡng, phải sống một mình hoặc dựa vào cộng đồng hoặc các tổ chức xã
hội từ thiện.
Người già cô đơn ở Việt Nam phân bố không đều, vùng đồng bằng sông Hồng
chiếm khoảng từ 0,21 - 0,23% dân số, các tỉnh miền núi phía Bắc 0.07 - 0.09 %,
khu IV cũ 0,32%, duyên Hải miền Trung 0,25%, đồng bằng sông Cửu Long
0,1%, Tây Nguyên 0,007%.
Có khoảng 70% người già cô đơn có hoạt động tạo thu nhập, những hoạt động
tạo thu nhập đó tập trung chủ yếu là làm nông nghiệp, dịch vụ, buôn bán vặt…
Ngoài nguồn thu nhập từ hoạt động kinh tế, người già cô đơn còn có các khoản
thu nhập khác nhau như: người thân giúp, từ trợ giúp xã hội… Bình quân 1
tháng người già cô đơn thu nhập khoảng 100.000đ. Trong cơ cấu thu nhập: thu
từ người thân và cộng đồng giúp đỡ 25,84%, từ hoạt động kinh tế 23,6% và từ
trợ cấp xã hội 41,08%… Với thu nhập ít ỏi như vậy, người già cô đơn chi tiêu
rất eo hẹp: 1 tháng chi cho ăn hết 130.000 - 150.000 đồng, chi bình quân cho
mặc 1 tháng 10.000 đồng, chi cho khám chữa bệnh hết 22.000 đồng, chỉ còn

12


khoảng 36.000 đồng chi cho tất cả các nhu cầu khác. Do vậy rất nhiều nhu cầu
thiết yếu không có tiền để chi.
Những tổ chức thường xuyên giúp đỡ người già cô đơn là:
- Chính quyền, các đoàn thể ở cơ sở (xã, phường), chiếm khoảng 50%.
- Bà con hàng xóm khoảng 38%.
- Các tổ chức xã hội khác khoảng 10%.
Những sự giúp đỡ này có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống người già cô
đơn bởi vì đa số trong số họ không tự lo liệu được cuộc sống (70%) và không
có người chăm sóc khi ốm đau.
Nguyện vọng lớn nhất của người già cô đơn là được xã hội và Nhà nước chăm
sóc đời sống vật chất và chữa bệnh, được sống cùng con cháu, họ hàng hoặc

hài hòa giữa chính phủ, nhà tuyển dụng, người lao động và công đoàn:
Chính phủ:
Có sự đánh giá lại các quy định về công việc linh động, bán thời gian. Có quyền
đề nghị các chủ doanh nghiệp cân nhắc đến sự thay đổi giờ làm việc hoặc mô
hình làm việc có thể bao quát hơn đến tất cả các công nhân, không chỉ đến
những lao động trẻ mà còn đến những người gần đến độ tuổi về hưu.
Đề xuất luật đối xử theo độ tuổi yêu cầu chủ lao động cân nhắc đến những đề
nghị làm việc sau tuổi 65.
Chính phủ nên tính đến việc hỗ trợ tài chính cho việc đào tạo việc làm cho
những người trên 50 tuổi, những người thất nghiệp ít hơn 6 tháng. Bởi vì có
bằng chứng cho rằng những người cao tuổi mà thất nghiệp lâu hơn 6 tháng thì
sẽ rất khó để khiến họ quay trở lại thị trường lao động.
Các chiến dịch của chính phủ nên nhấn mạnh đến các thuận lợi cho chủ lao
động về sự cải thiện sức khỏe nơi làm việc và các chính sách cơ hội bình đẳng.
Cần thuyết phục nhà tuyển dụng tạo ra các cơ hội nghề nghiệp cho các nhóm
yếu thế, cung cấp các lợi ích sức khỏe cho nhận viên, cải thiện môi trường làm
việc, nâng cao sức khỏe công nhân viên.
Nhà tuyển dụng:
Có sự linh động về thời gian làm việc, mở rộng, cam kết các cơ hội việc làm
cho người cao tuổi.
14


Thiết kế lại việc làm cho phù hợp với lao động lớn tuổi.
Nhà tuyển dụng nên có những nỗ lực thay đổi về trợ cấp cũng như sức khỏe
nghề nhiệp đối với người cao tuổi, cần thúc đẩy sự cân bằng giữa việc làm và
cuộc sống, sức khỏe nghề nghiệp để bớt gánh nặng công việc và vẫn còn hấp
dẫn lao động lớn tuổi. Chủ lao động nên có những nỗ lực chăm sóc sức khỏe
nghề nghiệp, tính đến các vấn đề cá nhân xảy ra với lao động lớn tuổi.
Chủ lao động cần có chính sách quản lý công việc và hiệu suất làm việc phù


Tài liệu tham khảo:
1. United Nations Population Fund, 2012, Ageing in the Twenty-First
Century: A Celebration and A Challenge , UNFPA
2. Giang Thanh Long, 2011, Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt nam,
Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, UNFPA
3. James P. Smith, Malay Majmundar, 2012, Aging in Asia, Finding from
new and emerging data initiatives, The national academy press.
4. Nguyễn Đình Cử, 2006, Xu hướng già hóa dân số thế giới và đặc trưng
người cao tuổi Việt nam, Tạp chí Gia đình và Trẻ em. Số 11, năm 2006.
5. Habtemariam Tesfaghiorghis, William Sermeno, 2004, Projections of the
number of age pensioners and expenditure: 2004-2021, Australian
Population Association.

16


6. Jonathan Gruber, David A. Wise, 2009, Social Security Programs And
Retirement Around The World: The Relationship To Youth Employment,
NBER .
7. Melika Ben Salem, Didier Blanchet, Antoine Bozio, Muriel Roger, 2010,
Labor Force Participation by the Elderly and Employment of the Young
The Case of France, University of Chicago Press.
8. By Alicia H. Munnell, April Yanyuan Wu, 2012, Are Aging Baby
Boomers Squeezing Young Workers Out Of Jobs?, Center for Retirement
Research, Boston College.
9. James Banks, Richard Blundell, Antoine Bozio and Carl Emmerson, 2008,
Releasing Jobs for the Young? Early Retirement and Youth
Unemployment in the United Kingdom, University College London.
10.Alain Jousten, M. Lefèbvre…, 2008, The Effects of Early Retirement on

2.
3.
4.

http://www.molisa.gov.vn/ ( Bộ lao động & TBXH )
http://www.gopfp.gov.vn/ ( Tổng cục dân số và KHH gia đình)
http://www.gso.gov.vn/
( Tổng cục thống kê)
http://www.nap.edu/
( The national academies press)

18


1




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status