NGHIÊN CỨU CÁC CĂN CỨ CHỦ YẾU HÌNH THÀNH DỰ ÁN - Pdf 33

Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO HÌNH THÀNH ĐỀ TÀI:
Ý tưởng hình thành dự án xuất phát từ nhu cầu thực tế trên thị trường. Hiện nay, cùng
với tốc độ phát triển của các khu công nghiệp, vấn đề quản lý chất thải đang là vấn đề “nóng”
cho toàn xã hội. Việc quy hoạch các khu sản xuất không đồng bộ với phương án xử lý chất
thải gây ra các thiệt hại to lớn cho môi trường và toàn xã hội. Trong khoảng 2 năm trở lại đây,
nhà nước đã có nhiều hành động đẩy mạnh công tác quản lý chất thải công nghiệp, đặc biệt là
chất thải nguy hại phát sinh từ các nhà máy sản xuất. Tuy vậy, thực tế tồn tại bất cập ở chổ
các lò đốt rác công nghiệp hiện có đang trong tình trạng quá tải, không đáp ứng nổi nhu cầu
của thị trường.
Tác giả cũng hiện đang làm việc tại một công ty xử lý chất thải có tên tuổi trên thị
trường nên nhận thấy được sự bất cập này. Đặc biệt, khó khăn lớn cho các doanh nghiệp với
quy mô sản xuất nhỏ tại các khu công nghiệp (tập trung nhiều tại KCN Tân Tạo, Lê Minh
Xuân, Linh Trung) là việc tìm kiếm các đơn vị xử lý chất thải. Do khối lượng chất thải phát
sinh từ các doanh nghiệp này rất nhỏ (thường là vài chục kg đến khoảng 100kg hàng tháng)
nên các đơn vị xử lý rất khó để tiến hành thu gom vì không đủ thu nhập tối thiểu để họ cung
cấp dịch vụ (do dịch vụ của các nhà cung cấp này đã được tính toán trên cơ sở khách hàng với
khối lượng trung bình vài tấn mỗi tháng); còn nếu họ đồng ý cung cấp dịch vụ thì các doanh
nghiệp không đủ kinh phí để chi trả. Hay nói một cách khác, các khách hàng với khối lượng
chất thải nhỏ không là đối tượng tiềm năng cho các đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý hiện nay.
Các khách hàng này có chung đặc điểm là chất thải đơn giản, chủ yếu yêu cầu về an toàn
pháp lý.
Do bản thân đã có kinh nghiệm thực tế trong ngành xử lý chất thải nguy hại nên mong
muốn hợp tác với công ty Biển Xanh để tiến hành lập và phân tích dự án nhằm áp dụng các
kiến thức học từ nhà trường vào công việc thực tế. Tác giả cũng mong muốn dự án sẽ sớm
thực hiện và thành công để có thể trở thành một giải pháp hiệu quả cho khách hàng, góp phần
bảo vệ môi trường, đặc biệt là khu vực TP.Hồ Chí Minh.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI:
Với mục tiêu cùng với công ty Biển Xanh thực hiện dự án trong thời gian sớm nhất có
thể nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Các kết quả tính toán cho bài toán kinh tế có được

Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
Ghi chú : Nội dung lý thuyết của phân tích tài chính sẽ đề cập kỹ hơn so với các phần
khác do đây là phần quan trọng của việc xác định tính hiệu quả của dự án.
2.2. NGHIÊN CỨU CÁC CĂN CỨ CHỦ YẾU HÌNH THÀNH DỰ ÁN:
2.2.1. Môi trường vĩ mô:
Nghiên cứu môi trường vĩ mô nhằm đánh giá khái quát quy mô và tiềm năng của dự án
trên cơ sở phân tích các tác động của môi trường vĩ mô có thể ảnh hưởng đến triển vọng ra
đời, quá trình thực hiện cũng như vận hành kết quả đầu tư.
Hình 1: Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến dự án
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô có thể có nhiều song chủ yếu tập trung vào 4 yếu tố
sau:
– Môi trường kinh tế vĩ mô
– Môi trường văn hóa xã hội
– Môi trường chính trị, luật pháp
– Môi trường tự nhiên
Bên cạnh đó, về nguyên tắc, trong hoạt động đầu tư, công tác quy hoạch cần đi trước
một bước làm cơ sở cho công tác lập dự án. Vì vậy để đảm bảo cho hiệu quả của hoạt động
đầu tư thì ngay trong quá trình lập dự án cần quan tâm đến công tác quy hoạch bao gồm quy
hoạt tổng thể phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng,
đô thị và xây dựng.
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
2.2.2. Nghiên cứu thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng quyết định việc lựa chọn mục tiêu và quy mô của dự
án. Nghiên cứu thị trường xuất phát từ nhu cầu của người tiêu dùng để đi đến quyết định sản
xuất kinh doanh mặt hàng gì, cách thức và chất lượng như thế nào, khối lượng bao nhiêu,
phương thức bán hàng, tiếp thị để tạo chổ đứng trên thị trường.
Nghiên cứu thị trường bao gồm các vấn đề sau:
– Phân tích và đánh giá thị trường tổng thể: nhằm có thông tin tình hình cung cầu
hiện tại và quá khứ từ đó xác địng loại thị trường và loại sản phẩm của dự án.

định nguồn cung cấp và khả năng của từng nguồn; Ước tính chi phí nguyên liệu cho dự
án.
– Cơ sở hạ tầng: xác định rõ chi phí đầu tư và chi phí vận hành cho cơ sở hạ tầng
bao gồm năng lượng, nước và các cơ sở hạ tầng khác phục vụ cho thực hiện dự án.
– Địa điểm thực hiện dự án: bao gồm lựa chọn khu vực địa điểm (xem xét các khía
cạnh địa lý, tự nhiên, kinh tế, xã hội,... liên quan đến hoạt động của dự án) và lựa chọn
địa điểm cụ thể (mô tả vị trí, chi phí, thuận lợi và không thuận lợi và những ảnh hưởng
của dự án về mặt xã hội).
– Giải pháp xây dựng công trình: bao gồm các giải pháp về: Quy hoạch tổng mặt
bằng công trình xây dựng, Kiến trúc, Kết cấu xây dựng; Công nghệ và tổ chức xây
dựng; Thống kê các kết quả tính toán thành các biểu bảng.
– Đánh giá tác động môi trường: bao gồm nhận dạng mọi tác động có thể có của dự
án đến môi trường trong mọi giai đoạn của dự án và đề xuất các biện pháp khắc phục.
– Lịch trình thực hiện dự án: Có nhiều phương pháp tùy thuộc vào quy mô và sự
phức tạp của kỹ thuật xây dựng, sản xuất (Sơ đồ GANT, Phương pháp PERT và CPM).
2.3. NGHIÊN CỨU KHÍA CẠNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ NHÂN SỰ CỦA DỰ ÁN
ĐẦU TƯ:
Các dự án khác nhau có thể có các hình thức tổ chức quản lý khác nhau do các nhân tố
ảnh hưởng bao gồm: pháp lý, tổ chức và kinh tế. Tuy nhiên tổ chức quản lý cần đảm bảo các
yêu cầu: tập trung hóa, chuyên môn hóa, cân đối, đồng bộ, linh hoạt, nhịp nhàng, liên tục và
kế thừa.
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
2.3.1. Cơ cấu tổ chức vận hành: có thể bố trí theo nhiệm vụ, địa điểm hoặc sản phẩm:
Hình 2: Sơ đồ tổ chức quản lý theo nhiệm vụ
Hình 3: Sơ đồ tổ chức quản lý theo vùng, lãnh thổ
Trang 7
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
Hình 4: Sơ đồ tổ chức quản lý theo sản phẩm
2.3.2. Dự kiến nhân sự và chi phí nhân lực thực hiện dự án:

NPV : Giá trị hiện tại ròng của dự án tại thời điểm t = 0
t
B
: Lợi ích hàng năm của dự án
t
C
: Chi phí hàng năm của dự án
r : Suất chiết khấu, %
t : Thứ tự năm trong thời gian thực hiện dự án (t= 0, 1, 2,…, n)
1/(1+r)
t
: Thường được gọi là hệ số chiết khấu cho năm t.
n : Thời đoạn phân tích
Theo tiêu chuẩn này: NPV ≥ 0 : Dự án hiệu quả
NPV < 0 : Dự án không có hiệu quả
Khi lựa chọn một trong số nhiều dự án, dự án nào có NPV dương và lớn nhất thì sẽ
được chọn đầu tư.
2.4.3. Chỉ tiêu tỷ suất lợi phí B/C (Benefit Cost Ratio)
Tỷ số lợi ích và chi phí của một dự án được xác định như là tỷ số giữa hiện giá các lợi
ích với hiện giá chi phí của dự án, sử dụng chi phí cơ hội của vốn làm suất chiết khấu.
Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến trong các dự án phục vụ công cộng hay các cơ
quan thẩm định dự án.
Tỷ số B/C thường: B/C=PW (lợi ích)/PW (chi phí)=PW(B)/PW(CR+O+M)
hoặc: B/C=AW(lợi ích)/AW(chi phí)= B/(CR+O+M)
Tỷ số B/C sửa đổi: B/C=PW[B–(O+M)]/PW(CR)
hoặc: B/C = B – (O + M)
Trong đó: PW : là giá trị tương đương hiện tại.
B : giá trị đều hằng năm của lợi ích.
CR : chi phí đều hằng năm tương đương để hoàn lại vốn đầu tư ban đầu.
Trang 9

chúng ta sẽ so sánh IRR với giá sử dụng vốn trung bình có trọng số - WACC (Weighted
Average Cost of Capital), dự án được xem là có hiệu quả nếu IRR ≥ WACC.
2.4.5. Đánh giá độ an toàn về mặt tài chính của dự án đầu tư:
An toàn về nguồn vốn: các vấn đề cần quan tâm:
– Nguồn vốn không chỉ đảm bảo về số lượng mà phải đảm bảo phù hợp về tiến độ
cần bỏ vốn.
– Đảm bảo về mặt pháp lý
– Điều kiện cho vay vốn, hình thức trả nợ
– Tỷ lệ hợp lý giữa vốn vay và vốn sở hữu
An toàn về khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng trả nợ:
Tỷ lệ giữa tài sản lưu động với nợ ngắn hạn thể hiện khả năng thanh toán nợ ngắn hạn;
tỷ số này phải lớn hơn 1 và được xem xét cụ thể cho từng ngành nghề kinh doanh.
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
Tỷ số khả năng trả nợ của dự án bằng tỷ lệ nguồn nợ hàng năm của dự án với Nợ phải
trả hàng năm (gốc và lãi). Tỷ số này so sánh với mức quy định chuẩn xác định theo từng
ngành nghề.
2.4.6. Lạm phát và tác động của lạm phát lên dòng tiền:
2.4.6.1. Lạm phát
Lạm phát được đo bằng tỷ số giữa sự thay đổi mặt bằng giá so với mặt bằng giá đầu kỳ.
Mặt bằng giá đầu kỳ trở thành mốc quy chiếu để xác định tỷ lệ lạm phát trong suốt thời kỳ
tính toán.
Lạm phát của một thời kỳ có thể được biểu diễn như sau:
gP
e
I
= (P
t
I
– P

động gián tiếp lên khoản mục chi phí khấu hao, khoản khấu trừ tiền trả lãi.
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
2.4.6.2.1. Tác động trực tiếp:
Tài trợ đầu tư: Lạm phát sẽ làm tăng chi phí lãi cho dự án, nâng số vốn vay gốc danh
nghĩa, dẫn tới chi phí khấu hao danh nghĩa lớn hơn. Các ảnh hưởng này có cả tác động bất lợi
lẫn thuận lợi lên ngân lưu, nên có thể làm giảm hoặc tăng NPV của dự án.
Số dư tiền mặt cân bằng: Lạm phát sẽ làm gia tăng chi phí nắm giữ tiền mặt, do đó yêu
cầu phải bổ sung liên tục trữ lượng tiền mặt tồn quỹ sẽ làm tăng chi phí của dự án, và làm
giảm NPV.
Khoản phải thu: Lạm phát tác động làm cho giá trị thực của khoản tín dụng thương mại
chưa thanh toán giảm xuống, do đó sẽ làm giảm NPV của dự án.
Khoản phải trả: Khi có lạm phát, bên mua (trong trường hợp này là dự án) với các
khoản phải trả sẽ được lợi từ số dư chưa trả, vì giá trị thực của khoản nợ đang giảm xuống
trong thời gian trước khi thanh toán, và làm cho NPV của dự án tăng lên.
2.4.6.2.2. Tác động gián tiếp:
Chi phí khấu hao: Khi lạm phát gia tăng làm giá trị tương đối của khoản khấu hao sẽ
giảm, làm cho số lượng thực của các khoản nợ thuế thu nhập tăng lên, và tác động làm giảm
NPV của dự án.
Khoản khấu trừ tiền trả lãi: Khi lạm phát xảy ra, chủ đầu tư phải trả lãi vay theo lãi suất
danh nghĩa là lãi suất bao hàm lạm phát. Do vậy, các khoản trả lãi được khấu trừ vào lợi tức
chịu thuế sẽ cao hơn, làm giảm số thuế phải trả và làm tăng NPV của dự án.
Tóm lại, tác động của lạm phát lên các khoản mục tài chính của dự án có thể làm tăng hoặc
giảm NPV của dự án, và được tóm lại trong Bảng 2.1.
Bảng 2- : Tác động của lạm phát lên NPV của dự án
STT Khoản mục NPV
Tác động trực tiếp
1 Tài trợ đầu tư Tăng/ giảm
2 Số dư tiền mặt cân bằng Giảm
STT Khoản mục NPV

Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
2.4.8.1. Phân tích độ nhạy:
Là xem xét sự thay đổi của các chỉ tiêu tài chính của dự án (lợi nhuận, thu nhập thuần,
hệ số hoàn vốn nội bộ,…) khi các yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu đó thay đổi. Hay nói một
cách khác phân tích độ nhạy nhằm xác định hiệu quả của dự án trong điều kiện biến động của
các yếu tố liên quan. Nó giúp các chủ đầu tư biết yếu tố nào tác động nhiều nhất đến hiệu quả
dự án và lựa chọn các dự án có độ an toàn cao hơn.
Phương pháp 1: Phân tích ảnh hưởng của từng yếu tố liên quan đến chỉ tiêu hiệu quả tài
chính nhằm tìm ra yếu tố gây sự nhạy cảm lớn nhất.
Phương pháp 2: Phân tích ảnh hưởng đồng thời của nhiều yếu tố đến chỉ tiêu tài chính
để đánh giá độ an toàn của dự án.
Phương án 3: Cho các yếu tố liên quan đến hiệu quả tài chính thay đổi trong giới hạn
của thị trường mà người đầu tư chấp nhận được. Mỗi một sự thay đổi là một phương án. Khi
lần lượt cho các yếu tố thay đổi ta có hàng loạt các phương án. Căn cứ vào điều kiện cụ thể
của thị trường người đầu tư lựa chọn phương án tốt nhất.
2.4.8.2. Phương pháp toán xác suất:
Được sử dụng trong trường hợp có nhiều khả năng và rủi ro. Phương pháp này cho
phép lượng hóa những biến cố trong tương lai trong điều kiện bất định của các biết cố, đặc
biệt trong trường hợp sự xuất hiện của một biến cố sẽ loại trừ sự xuất hiện của bất kỳ biến cố
nào khác. Bằng việc tính toán kỳ vọng của các biến cố, người đầu tư có thể chọn phương án
tối ưu trong các phương án có thể có.
2.4.8.3. Phương pháp mô phỏng Monte Carlo:
Đây là phương pháp phân tích kết quả của dự án dưới sự tác động đồng thời của các yếu
tố trrong các tình huống khác nhau có tính tới phân bố xác suất và giá trị có thể có của các
biến số yếu tố đó. Đây là phương pháp khá phức tạp, đòi hỏi người phân tích phải có kinh
nghiệm, kỹ năng thực hiện tốt với sự trợ giúp của máy tính.
2.4.9. PHÂN TÍCH KHÍA CẠNH KINH TẾ XÃ HỘI CỦA DỰ ÁN:
Phân tích khía cạnh kinh tế-xã hội dự án đầu tư là việc so sánh, đánh giá một cách hệ
thống giữa những chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế và toàn
xã hội, là nội dung trong lập và thẩm định dự án đầu tư. Việc này có thể được thực hiện qua

3.1.1. Phát triển kinh tế và vấn đề rác thải công nghiệp:
Với tốc độ phát triển liên tục của công nghiệp hoá, những vấn đề về môi trường, trong
đó có quản lý chất thải nguy hại đòi hỏi có sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách
nghiêm túc, kịp thời trước khi vấn đề trở nên trầm trọng. Với thực trạng ở Việt Nam như hiện
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
nay, nhà nước cần nhanh chóng đưa ra cơ chế quản lý chất thải nguy hại, theo đó cần kết hợp
chặt chẽ giữa việc xây dựng một hệ thống pháp luật “cứng” với các chính sách “mềm” nhằm
bảo đảm sự cân bằng hai lợi ích – thúc đẩy sự phát triển kinh tế và ngăn ngừa, giảm thiểu tác
hại đến môi trường.
Theo thống kê vào tháng 10/2009, trên phạm vi toàn quốc, tổng lượng chất thải nguy hại
trên địa bàn toàn quốc vào khoảng 150.064 tấn/năm. Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn nguy hại
của các ngành, các lĩnh vực kinh tế, xã hội được sắp xếp theo thứ tự như sau:
– Ngành công nghiệp nhẹ: 61.543 tấn/năm
– Ngành hoá chất: 32.296 tấn/năm
– Ngành cơ khí luyện kim: 26.331 tấn/năm
– Chất thải bệnh viện: 10.460 tấn/năm
– Ngành nông nghiệp: 8.600 tấn/năm
– Chất thải sinh hoạt: 5.037 tấn/năm
– Ngành chế biến thực phẩm: 3.799 tấn/năm
– Ngành điện, điện tử: 1.948 tấn/năm
– Ngành năng lượng: 50 tấn/năm.
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay đã trở thành một vấn đề sống còn
của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh hoạt của người dân ngày càng được
nâng cao thì lượng chất thải nguy hại cũng tăng nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất
lượng môi trường và sức khoẻ con người.
Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trường trầm trọng nhất mà con
người dù ở bất cứ đâu cũng phải tìm cách để đối phó. Có người cho rằng, chỉ có các nước
phát triển mới phải lo lắng đến việc quản lý chất thải nguy hại vì ở các nước phát triển đã sản
sinh ra nhiều chất thải, còn các nước đang phát triển thì còn nhiều vấn đề khác cần ưu tiên

Theo Công trình khảo sát chất thải toàn cầu của Tổ chức Hàng hải Quốc tế, cứ tạo ra
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1 tỉ USD sẽ làm phát sinh khoảng 4.500 tấn chất thải công
nghiệp bao gồm 20% là CTNH. Như vậy, nếu lấy tốc độ tăng trưởng GDP cả nước bình quân
hàng năm là 10% ta có kết quả dự báo tương đối tổng tải lượng CTRCN và CTNH tại một số
tỉnh trong vùng đến năm 2010 và 2020 như sau:
Năm 2010 Năm 2020
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
GDP (tỷ USD)
Khối lượng
CTNH (tấn)
GDP (tỷ USD)
Khối lượng
CTNH (tấn)
Tp.Hồ Chí Minh 14,183 63,824 36,734 165,303
Đồng Nai 5,743 25,830 14,867 66,920
Bình Dương 1,054 4,743 2,730 12,285
BR Vũng Tàu 1,826 8,217 4,730 21,285
Long An 0.620 2,790 1,600 7,200
Lưu ý: Các thông số trên không thực sự chính xác vì thực tế khối lượng phát sinh lớn
hơn, tuy nhiên chúng ta tham khảo số liệu trên có thể thấy được mức độ gia tăng của lượng
chất thải nguy hại phát sinh theo tốc độ tăng trưởng kinh tế.
TP.Hồ Chí Minh hiện có 11 khu công nghiệp, 3 khu chế xuất và 1 khu công nghệ cao
chính thức đi vào hoạt động. Và theo định hướng phát triển, đến năm 2020 TP.HCM sẽ có 22
khu công nghiệp tập trung, 33 cụm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Như vậy lượng chất
thải nguy hại sẽ tiếp tục tăng cao.
Cho đến hiện tại, trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh có 04 đơn vị xử lý chất thải nguy hại với
công suất tổng cộng khoảng 100 tấn/ngày, như vậy chỉ có thể xử lý được một phần ba lượng
chất thải nguy hại phát sinh. Phần chất thải không được tiếp nhận tiêu hủy sẽ được xả thải trái
pháp luật vào môi trường. Thêm vào đó, theo thông tin từ phòng quản lý chất thải rắn thành

2
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của
Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
09/08/2006 24/08/2006
3
Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 của
Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của
Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường
28/02/2008 14/03/2008
4
Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử phạt hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
31/12/2009 01/03/2010
5
Thông tư số 05/2008/TT-BTNMT ngày 08/12/2008
của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng
dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá
tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường
08/12/2008 23/12/2008
6
Thông tư 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều
kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp
phép, hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại
26/12/2006 01/10/2007
7
Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT về việc ban hành
danh mục chất thải nguy hại

3.2.1. Hoạt động kinh doanh hiện tại và nhu cầu mở rộng hoạt động của chủ đầu tư
dự án – công ty TNHH KT MT Biển Xanh:
Được thành lập từ khoảng năm 2000, hoạt động ban đầu của công ty TNHH KT MT
Biển Xanh là cung cấp dịch vụ thu gom chất thải sinh hoạt trong các khu công nghiệp và
chuyển giao sang các bãi chôn lấp tập trung của công ty Môi trường đô thị. Hiện tại đây vẫn
là dịch vụ chính của công ty với hơn 550 khách hàng tại các khu công nghiệp Tân Tạo, Lê
Minh Xuân, Tân Đức, Linh Trung 3. Các khu công nghiệp trên chủ yếu tập trung các công ty
sản xuất nhỏ và trung bình. Trong các năm trước đây, khi pháp luật về chất thải chưa quy
định rõ ràng và con buông lỏng, đa phần các công ty khách hàng của Biển Xanh đều không
thực hiện việc phân loại rác thải, để chung rác thải nguy hại vào rác thải sinh hoạt để công ty
thu gom rác sinh hoạt đưa đến các bãi chôn lấp. Những năm sau này, khi luật môi trường và
các văn bản hướng dẫn việc quản lý chất thải nguy hại ra đời, ý thức được quy định pháp luật
cũng như mức độ nguy hại về môi trường của việc chôn lấp trái phép chất thải nguy hại, Biển
Xanh đã yêu cầu khách hàng phân loại rác thải tại nguồn và tuyệt đối từ chối cung cấp dịch
vụ nếu nhận thấy rác thải sinh hoạt có lẫn chứa chất thải nguy hại. Tuy nhiên, kiểm soát và
khuyến khích việc phân loại rác của khách hàng không phải là điều dễ thực hiện do nó chưa
Trang 20
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
trở thành thói quen và ý thức của đa phần người Việt Nam. Thêm vào đó, các khách hàng của
Biển Xanh gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các đơn vị xử lý chất thải nguy hại, đặc biệt là
các doanh nghiệp sản xuất nhỏ, khối lượng chất thải nguy hại phát sinh hàng tháng vài chục
đến vài trăm ký. Lý do mà các đơn vị xử lý không “mặn mà” với các chủ nguồn thải khối
lượng nhỏ vì các chi phí cố định cho vận hành dịch vụ thu gom và xử lý chất thải nguy hại
khá lớn, trong khi mô hình của họ được xây dựng với mục tiêu ban đầu là các khách hàng có
khối lượng thu gom ít nhất phải từ 1 – 2 tấn/tháng. Nếu áp chi phí cho các khách hàng khối
lượng nhỏ thì khách hàng sẽ không chịu nổi giá xử lý. Muốn cung cấp dịch vụ cho đối tượng
khách hàng này phải có một mô hình kinh doanh khác để làm giảm chi phí cố định từ đó có
giá cung cấp thích hợp với khả năng chi trả của khách hàng. Điều này hiện tại các đơn vị
cung cấp dịch vụ xử lý chất thải nguy hại chưa “nghĩ” tới hoặc chưa phải là chiến lược kinh
doanh của họ vì thực tế họ đang trong tình trạng quá tải hoặc gần quá tải và với mô hình hiện

Chí Minh
50 tấn/ngày Công ty đa quốc gia
6 Ngọc Tân Kiên TP.Hồ Chí Minh,
Long An
12 tấn/ngày Khách hàng có nguồn phế
liệu lớn
Nếu Biển Xanh gia nhập vào thị trường, so sánh với các đối thủ hiện tại ở TP.Hồ Chí
Minh, ma trận cạnh tranh có thể như sau:
Yếu tố Tầm
quan
trọng
Holcim Việt Úc Môi trường
xanh
Biển Xanh
Hệ số
phân
loại
Điểm
quan
trọng
Hệ số
phân
loại
Điểm
quan
trọng
Hệ số
phân
loại
Điểm

khách hàng
0.05 2 0.1 4 0.2 3 0.15 3 0.15
Năng lực tài chính 0.02 4 0.08 3 0.06 3 0.06 2 0.04
Tổng số điểm: 1 31 2.54 34 3.12 29 2.72 31 3.055
Dù xuất hiện trên thị trường sau nhưng do khả năng tiếp cận khách hàng, công nghệ tiên
tiến (mặc dù công suất thấp do tập trung vào khách hàng khối lượng nhỏ) và xây dựng hệ
thống thích hợp với đối tượng khách hàng chủ chốt nên chi phí vận hành sẽ tốt hơn đối thủ,
do đó sức cạnh tranh về giá sẽ cao. Vì vậy hệ số cạnh tranh của Biển Xanh dự đoán sẽ khá tốt
so với đốt thủ.
3.2.3. Các nhà cung cấp tiềm năng:
Hiện nay theo thông tin thị trường, thời gian tới đây sẽ hình thành 03 lò đốt chất thải
nguy hại mới của tư nhân tại Đồng Nai với công suất khoảng 15 tấn/ngày. Công suất 3 nhà
máy này cũng không đủ đáp ứng nhu cầu xử lý cho nguồn phát sinh tại Đồng Nai và Bà Rịa
Vũng Tàu.
3.2.4. Các phương án thay thế:
Ngoài công nghệ đồng xử lý chất thải trong lò nung ximăng mà hiện nay công ty
ximăng Holcim đang thực hiện thì phương án thiêu hủy trong lò đốt vẫn là phương pháp duy
nhất ở Việt Nam dùng để xử lý chất thải nguy hại. TP.Hồ Chí Minh đã chấp nhận chủ trương
cho 03 dự án thành lập bãi chôn lấp chất thải nguy hại. Đó là dự án của Công ty Xử lý chất
thải rắn Việt Nam tại Khu liên hợp xử lý chất thải Đa Phước, huyện Bình Chánh, có tổng vốn
đầu tư 30 triệu USD, công suất xử lý tối đa khoảng 500 tấn/ngày; dự án của Công ty cổ phần
Kho, vận chuyển, giao nhận ngoại thương Mộc An Châu tại Khu Tây Bắc Củ Chi, có tổng
vốn đầu tư 70 triệu USD, công suất 500 tấn/ngày và dự án của Công ty Môi trường Đô thị tại
bãi rác Đông Thạnh, Củ Chi, có tổng vốn đầu tư 30 triệu USD với công suất xử lý 80
tấn/ngày.
Tuy vậy, theo đánh giá của cá nhân tác giả thì 03 các dự án này không khả thi cho chất
thải nguy hại vì chúng chỉ đủ đáp ứng cho lượng rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp
Trang 23
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
không nguy hại. Ngoài ra, để chôn lấp chất thải nguy hại thì bãi chôn lấp phải đầu tư thiết kế

vậy, các khách hàng có khối lượng chất thải phát sinh nhỏ thường có nhu cầu thu gom sau
mỗi 6 tháng (nếu thu gom với tần suất nhiều hơn sẽ tăng chi phí).
Vì Biển Xanh có nhiều khách hàng cùng khu công nghiệp nên việc kết hợp thu gom rất
dễ dàng, việc thu gom có thể tiến hành sau mỗi 3 tháng, với chi phí trung bình cho khách
Trang 24
Luận văn tốt nghiệp – Nguyễn Thị Ngọc Trâm – Lớp QLCN – K2008
hàng là 4,500,000 vnd/tháng (và không cần chi phí nào khác). Đây chính là yếu tố cạnh tranh
của Biển Xanh so với đối thủ.
CHƯƠNG 4. NGHIÊN CỨU KHÍA CẠNH KỸ THUẬT
4.1. Giới thiệu sơ lược về các phương pháp xử lý chất thải:
4.1.1. Phương pháp vật lý & hóa học:
Thành phần nguy hại được tách ra khỏi khối chất thải bằng phương pháp tách pha
(phương pháp hóa học) hay thay đổi tính chất hóa học của chất thải để chuyển nó thành chất
thải không nguy hại.
Lọc: là phương pháp tách hạt rắn từ dòng lưu chất (khí, lỏng hay nhão) khi đi qua môi
trường vật liệu lọc. Các hạt rắn sẽ được giữ lại vật liệu lọc. Quá trình lọc có thể được thực
hiện nhờ chênh lệch áp suất gây bởi trọng lực, lực ly tâm, áp suất chân không, áp suất dư.
Kết tủa: là quá trình chuyển chất hòa tan thành dạng chất không tan bằng các hóa học
tạo tủa hay thay đổi thành phần hóa chất trong dung dịch, thay đổi điều kiện vật lý của môi
trường (hạ nhiệt độ) để làm giảm độ hòa tan của hóa chất, phần không tan sẽ kết tinh. Phương
pháp kết tủa thường dùng kết hợp với các quá trình tách chất rắn như lắng cặn, ly tâm và lọc.
Oxy hóa khử: để thực hiện quá trình oxy hóa khử, người ta trộn chất thải với hóa chất
xử lý (tác nhân oxy hóa hay khử) hay cho tiếp xúc các hóa chất ở dạng dung dịch với hóa chất
ở thể khí.
Trang 25

Trích đoạn Hệ thống xử lý khí thải: Giải pháp xây dựng công trình: 1 Bản vẽ mặt bằng của dự án: Khi dự án đi vào hoạt động: 1 Nguồn gây ô nhiễm không khí: Khi dự án lò đốt đưa vào hoạt động: CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status